Bài toán của thầy và bài toán của em

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Democracy and Education” của John Dewey.

Có điểm khác biệt gì giữa một vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống và một vấn đề mà đứa trẻ đó gặp phải trên lớp học? Vì sao những đứa trẻ ở ngoài đời thường thì luôn tò mò hiếu kỳ về đủ các loại vấn đề và luôn bỏ bom người lớn bằng đủ các loại câu hỏi, nhưng cũng những đứa trẻ ấy sau một thời gian đến trường thì một phần ko nhỏ lại trở nên thờ ơ với những kiến thức trong sách vở?

Câu trả lời rất đơn giản: hứng thú.

Bất cứ một con người nào cũng đều có những thiên hướng và hành vi đặc trưng. Những thiên hướng và hành vi đó khi va chạm với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh sẽ dẫn đến những trải nghiệm và kích thích của riêng từng người. Những trải nghiệm và kích thích đó có thể làm nảy sinh ra những vấn đề hay câu hỏi nhất định cần lời giải đáp. Và suy nghĩ của con người ko gì khác chính là một phương pháp hay công cụ để giải quyết những vấn đề đó.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó là vì vấn đề ấy nằm trên con đường đi của những thiên hướng và hành vi tự nhiên của người đó. Có thể bản thân thiên hướng của người đó dẫn họ đến vấn đề ấy, mà cũng có thể là họ bắt gặp vấn đề ấy trên con đường để đi đến lời giải đáp cho một vấn đề khác mà họ có hứng thú. Điều này giống như việc một dòng nước chảy sẽ cuốn trôi đi những vật cản trên con đường của nó vậy.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó cũng đồng nghĩa với việc người đó cảm thấy một lợi ích nào đó của bản thân phụ thuộc vào việc tìm ra lời giải đáp cho vấn đề đó. Lợi ích ấy có thể là tiền nong, sức khỏe, quan hệ, quyền lực, hay có thể đơn giản chỉ là việc thỏa mãn sự tò mò, nhưng chắc chắn một điều là nó xuất phát từ những thiên hướng tự nhiên, hay chính là nhân cách tự thân của người đó.

Khi một người có hứng thú với một vấn đề, thì người đó sẽ có động lực để giải quyết vấn đề đó, để nhằm tiến lên phía trước và đem lại lợi ích cho bản thân. Khi đó chúng ta có thể nói rằng người đó cảm thấy có trách nhiệm với vấn đề đó, hay người đó coi vấn đề đó là “của mình”. Ngược lại với thái độ có hứng thú và trách nhiệm ko gì khác chính là sự thờ ơ.

Theo như tiêu chuẩn trên, rõ ràng có thể thấy rằng những vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống bên ngoài trường học đều là những vấn đề mà nó cảm thấy hứng thú. Bởi vì nếu ko có hứng thú thì đứa trẻ đó đã chẳng coi những vấn đề ấy là vấn đề. Đó là những vấn đề nảy sinh từ việc những thiên hướng và hành vi tự nhiên của đứa trẻ va chạm với thế giới xung quanh. Nói cách khác, đó là những vấn đề mà ko sớm thì muộn, bằng cách này hay cách khác đứa trẻ đó cũng sẽ gặp phải trong quá trình sống ở môi trường hiện tại.

Ngược lại, đại đa số những vấn đề và câu hỏi mà một đứa trẻ gặp phải trong trường học lại là những vấn đề “nhân tạo”, nếu ko muốn nói là “giả tạo”. Chúng ko phải là những vấn đề nảy sinh từ những thiên hướng và hành vi tự nhiên của những đứa trẻ, mà là được “chế tạo” ra để làm công cụ cho việc truyền tải những điều mà người lớn muốn trẻ em tiếp thu. Chúng ko hề có hoặc có rất ít sự gắn kết đối với những trải nghiệm thực tế mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày. Một phần lớn trong số chúng là những câu hỏi mà nếu như ko bị bắt buộc phải đến trường thì rất có thể đứa trẻ đó sẽ ko bao giờ bắt gặp.

Ko khó gì để thấy rằng hệ thống trường học hiện tại ko phải là một môi trường tốt để cho những đứa trẻ có thể bắt gặp các vấn đề một cách tự nhiên. Trong đa số các lớp học, trẻ em hầu như chỉ ngồi im một chỗ và ko được làm gì khác ngoài việc nghe giảng, chép bài và trả lời câu hỏi của giáo viên. Nội dung và thời điểm các môn học đều được định sẵn mà ko hề có tham khảo một chút nào đến mong muốn của từng đứa trẻ. Điều đó có nghĩa là những thiên hướng và hành vi tự nhiên của một đứa trẻ, ngoài những thứ phục vụ cho việc học trên lớp, hầu như ko có cơ hội thể hiện và được chấp nhận trong trường học. Khi đó đương nhiên đứa trẻ ấy cũng sẽ khó có thể bắt gặp những vấn đề mà nó thực sự có hứng thú.

Nếu như chỉ có vậy, thì những câu hỏi trong trường học, tuy có thể là vô bổ, nhưng vẫn còn là vô hại, vì những thiên hướng tự nhiên của một đứa trẻ sẽ tự biết loại bỏ những gì nó ko thấy có hứng thú và tập trung sự chú ý vào những thứ còn lại. Vấn đề lớn nhất của giáo dục trường học là việc những đứa trẻ ko được để cho tự do lựa chọn việc có suy nghĩ tìm cách giải quyết những câu hỏi được đặt ra cho chúng hay ko, mà những vấn đề ấy được áp đặt lên đầu chúng thông qua những công cụ như điểm số hay sự đánh giá từ giáo viên và cha mẹ.

Trong một môi trường như vậy, hứng thú của những đứa trẻ sẽ ko còn nằm trực tiếp ở những câu hỏi được đưa ra nữa, mà nằm ở việc đáp ứng những tiêu chuẩn và đòi hỏi từ người lớn. Việc giải quyết các vấn đề và trả lời các câu hỏi sẽ chỉ còn là một trong những công cụ để đạt được những điểm 10, để được thầy cô khen ngợi, để ko bị cha mẹ mắng mỏ. Nói cách khác, bài toán mà thầy đưa ra là chuyện của thầy, còn bài toán của em là làm sao để ko bị thầy cho ăn điểm xấu.

Và một cách hết sức tự nhiên, khi con đường thẳng là suy nghĩ giải quyết vấn đề có vẻ như quá gập ghềnh khó khăn, thì những đứa trẻ sẽ lựa chọn những con đường khác nhẹ nhàng hơn để đến cùng một cái đích là điểm số. Rất có thể trong những con đường ấy sẽ ko hề tồn tại sự suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo mà hệ thống giáo dục luôn mong muốn diễn ra, bởi vì bản thân việc giải quyết vấn đề ko phải là mục tiêu thực sự. Trái ngược lại với điều đó, chẳng có một ai lại nghĩ đến chuyện “gian lận thi cử” khi tự mình tìm cách học nấu một món ăn mới hay học chơi một nhạc cụ mới hay học nói một ngôn ngữ mới cả.

Hẳn nhiên, những điều trên ko có nghĩa là chúng ta nên phá bỏ hệ thống trường học và để mặc cho những đứa trẻ tự phát triển. Số lượng và chất lượng những kích thích mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội xung quanh, và do vậy thường sẽ mang tính hạn chế và cục bộ nếu ko có sự can thiệp có chủ ý. Nhiệm vụ của trường học là cung cấp một môi trường mà trong đó trí não của những đứa trẻ sẽ được kích thích nhiều hơn, rộng hơn và cân bằng hơn so với những sự kích thích mà chúng nhận được ngoài đời, và để cho chúng tự mình tìm ra từ đó những vấn đề mà chúng có hứng thú.

Nhiệm vụ của trường học còn là đảm bảo rằng việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi những đứa trẻ phải tự mình quan sát, tìm tòi, suy nghĩ cũng như sáng tạo, và cung cấp cho chúng những thông tin, công cụ và chỉ dẫn cần thiết và vừa đủ để làm được điều đó. Một đứa trẻ nếu như ko nhận được sự giúp đỡ thích hợp khi đứng trước một vấn đề quá khó sẽ có khả năng bỏ cuộc và đánh mất hứng thú. Nhưng nếu sự giúp đỡ vượt quá mức cần thiết thì đứa trẻ cũng sẽ ko còn cơ hội sử dụng trí não của riêng mình để tự tìm ra lời giải, và do đó việc giải quyết vấn đề sẽ mất đi phần lớn giá trị giáo dục. Nói cách khác, trường học cần phải là vườn ươm trí não đúng nghĩa, chứ ko phải là đấu trường hoang dại hay cái lò nuôi gà công nghiệp.

Tìm tòi học hỏi và suy nghĩ tìm cách giải quyết các vấn đề là những hành vi tự nhiên, nếu ko muốn nói là cần thiết phải có, của mọi con người. Việc biến những đứa trẻ từ những cái hố chân không bám lấy và hút vào đủ mọi loại tri thức thành những em học sinh chán chường và đôi khi căm ghét việc học phải nói là một thành tựu đòi hỏi công sức ko hề nhỏ của cả một hệ thống giáo dục sai lầm. Chừng nào trường học vẫn còn đâm đầu vào việc đơn thuần truyền tải những điều người lớn muốn trẻ em tiếp thu một cách cưỡng ép, và đánh giá các em thuần túy bằng khả năng ghi nhớ kiến thức và trả lời các câu hỏi nhân tạo, thì việc thờ ơ và gian lận trong giáo dục sẽ vẫn còn là điều phổ biến.

Cha mẹ và con cái và lợi ích và xung đột

Có lẽ phần đông các bạn trẻ thế hệ tôi đều đã từng ít nhất một lần được nghe câu “bố/mẹ/tao làm XYZ là muốn tốt cho con/mày chứ cho ai” hay đại khái như vậy từ miệng cha mẹ mình khi bị bắt ép làm một điều gì đó mà bản thân không thích. Và hẳn trong số các bậc cha mẹ trẻ ngày nay cũng không thiếu người đã từng hay vẫn đang có những suy nghĩ muốn con làm một điều gì đó mà bản thân cho là tốt cho con, trong khi chưa suy nghĩ thấu đáo đến mong muốn thực sự của đứa trẻ. Trong bài viết lần này tôi xin bàn về sự xung đột này giữa cha mẹ và con cái.

Trước hết chúng ta hãy nói về vấn đề thế nào là “cái tốt”, là “lợi ích”, là “vì hạnh phúc con cái”. Hẳn ít ai phản đối rằng “hạnh phúc” và rộng ra là “lợi ích” là một cảm nhận mang tính chủ quan, tức tùy thuộc vào giá trị quan của cá nhân người tiếp nhận. Mà đã như vậy, thì rõ ràng người có tư cách nhất, nếu không muốn nói là người duy nhất có đủ thẩm quyền, để mà quyết định xem một sự vật sự việc có đem lại “hạnh phúc” và “lợi ích” cho ai đó hay không, phải là chính người sẽ được/phải tiếp nhận cái “hạnh phúc” và “lợi ích” ấy, vì đó là người nắm rõ nhất tiêu chí để đưa ra đánh giá. Một sự đánh giá từ người khác, nếu không phải là niềm tin hay phỏng đoán, thì cũng chỉ là suy đoán chứ không phải là quyết định cuối cùng.

Do vậy, rõ ràng việc các bậc cha mẹ bắt ép con cái làm một điều gì đó mà chúng không muốn với lý do “vì lợi ích của con” là một điều hoàn toàn mâu thuẫn, vì lợi hay không phải do con quyết định, con đã cự tuyệt chứng tỏ mong muốn của bố mẹ không phải là “lợi ích” của con. Việc cha mẹ khăng khăng vin vào cái lý do “vì lợi ích của con”, do đó, không những là một điều vô lý đùng đùng, mà còn thể hiện một sự phủ nhận và thiếu tôn trọng đối với chủ thể đã đưa ra quyết định bác bỏ lý do ấy, mà ở đây là nhân cách tự thân của con.

Tất nhiên, “hạnh phúc” và “lợi ích” nên được đánh giá một cách toàn diện, công bằng và lâu dài. Và quả thực, có nhiều trường hợp con cái đưa ra những đánh giá mang tính hẹp hòi, thiên lệch hoặc ngắn hạn đối với những mong muốn hay yêu cầu của cha mẹ, và khi lớn lên sẽ thay đổi suy nghĩ mà cảm thấy biết ơn những gì cha mẹ đã làm. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không hề thay đổi được bản chất của sự việc là cha mẹ đã có hành động phủ nhận nhân cách của con, ít ra là tại thời điểm sự việc xảy ra và nhìn từ quan điểm của con cái.

Kết quả của điều đó là gì? Là về mặt lâu dài, cả con cái lẫn cha mẹ đều thiệt đơn thiệt kép. Việc nhân cách của con cái bị cha mẹ phủ nhận trước hết sẽ gây tổn thương tinh thần cho con, vì cha mẹ thường là những người con tin cậy và mong muốn được yêu thương và chấp nhận nhất. Quan trọng hơn, nó gây cản trở đến việc hình thành nhân cách tự thân của con. Đó là bởi vì việc phải làm một điều mà bản thân không muốn vì một lý do mà bản thân không phục, về bản chất chính là việc con người ta phải tự phủ nhận nhân cách của bản thân ở mức độ nào đó để sống theo một nhân cách giả tạo hòng xoa dịu sức ép kia. Nếu điều này diễn ra thường xuyên liên tục kéo dài, và nhân cách tự thân của con cái không đủ mạnh mẽ để chống cự, thì sẽ dẫn đến việc đứa trẻ lớn lên nhưng không có được một nhân cách thật cho riêng mình, mà chỉ sống theo những chuẩn mực và mong muốn của người khác.

Đứng từ phía cha mẹ, thì sự thể cũng không hề khá hơn. Có thể trong một chốc một lát những mong muốn và yêu cầu của cha mẹ sẽ được đáp ứng, nhưng việc bị buộc phải vứt bỏ mong muốn và suy nghĩ của bản thân để làm vui lòng cha mẹ về lâu dài sẽ dẫn đến sự xói mòn sự tin cậy mà con cái dành cho cha mẹ. Rõ ràng sẽ chẳng có ai muốn chia sẻ những suy nghĩ sâu xa chân thật xuất phát từ nhân cách thực của bản thân với những người đã từng và rất có thể sẽ lại chà đạp, phủ nhận, hay ít ra là không chào đón nhân cách ấy. Và khi đó, giữa cha mẹ và con cái sẽ xuất hiện một khoảng cách về niềm tin, một cái hố chia rẽ do các bậc cha mẹ tự đào lấy, để rồi lại đi băn khoăn là sao con không tâm sự với mình, và thậm chí là nghĩ đến chuyện đọc trộm nhật ký thư từ để “hiểu con hơn”. Đó là chưa kể, đối với những bậc cha mẹ muốn con mình trở thành một người độc lập và biết tự suy nghĩ, thì việc vô tình cản trở sự hình thành nhân cách tự thân của con, cản trở cái nền móng duy nhất cho sự “độc lập” và “biết nghĩ” kia, quả là một bi kịch.

Vậy phải chăng giải pháp ở đây là không bắt con làm bất cứ điều gì mà con không muốn? Đó chưa hẳn là giải pháp tốt nhất, và trong một số trường hợp cụ thể còn là giải pháp tồi. Trước hết, cha mẹ, với tư cách là người chịu trách nhiệm trước xã hội về tính mạng, sức khỏe và hành vi của con cái mình cho đến khi chúng trưởng thành, trong nhiều trường hợp có thể được xem là có lý do chính đáng để bắt buộc con cái làm theo ý mình bất kể mong muốn của con. Hơn nữa, việc luôn luôn ưu tiên mong muốn của con cái trong mọi trường hợp xung đột sẽ dẫn đến một mối quan hệ bất bình đẳng, thiếu sự tôn trọng từ phía con cái đối với cha mẹ như giữa những con người ngang hàng với nhau, và do vậy sẽ có thể tạo nên những nhận thức sai lầm trong con trẻ về quan hệ giữa người với người trong xã hội.

Thế thì xung đột này nên được giải quyết thế nào? Chúng ta hãy nhớ lại rằng vấn đề chính trong việc bắt ép con cái làm theo ý mình vì điều đó “tốt cho con” không nằm ở bản thân việc bắt ép, mà nằm ở lý do được đưa ra cho hành động đó. Chuyện chấp nhận nhượng bộ với người khác hay từ bỏ mong muốn vì những lý do hợp lý hay bất khả kháng là chuyện con người vẫn luôn sẵn sàng làm. Nhưng chính việc cha mẹ cho rằng một điều gì đó là “có lợi”, là “tốt”, là “vì hạnh phúc của con” và tìm cách áp đặt suy nghĩ đó bất chấp sự phản đối từ phía con cái mới là điều làm nên sự thiếu tôn trọng và phủ nhận nhân cách của con. Khi cha mẹ đem cái suy nghĩ ấy của mình làm lý do cho sự bắt ép, thì việc con cái chấp nhận nghe lời cha mẹ sẽ gián tiếp trở thành việc cúi đầu chấp nhận một lý lẽ mà bản thân đang bác bỏ và phản đối. Đó là một sự hạ nhục tinh thần lớn không kém gì, và đôi khi là còn hơn cả, bản thân việc bị bắt ép.

Vì vậy, cách xử lý đúng, theo tôi, là các bậc cha mẹ nên bỏ việc lấy lý do “vì lợi ích của con” làm lý lẽ biện minh cho những yêu cầu bắt buộc của bản thân đối với con, nhất là khi con đã không muốn làm theo. Vì như đã trình bày, đó là một việc làm có thể nói là mâu thuẫn về logic, và thể hiện sự thiếu tôn trọng nhân cách của con. Hơn thế nữa, nó còn thể hiện sự thiếu trung thực của các bậc cha mẹ. Ấy là bởi vì một khi các bậc cha mẹ đã không cho con quyền tự do lựa chọn, thì cũng đồng nghĩa với việc lý do thực sự đằng sau hành vi đó không còn là vì lợi ích của con nữa, mà là để nhằm phục vụ một lợi ích nào đó của chính cha mẹ. Lợi ích đó có thể là thỏa mãn mong muốn điều khiển con cái theo ý mình, hay để tránh sự mệt mỏi lo âu cho bản thân, hoặc để tránh bị người xung quanh gọi là vô trách nhiệm, mà cũng có thể đơn giản là để bảo vệ con cái khỏi nguy hiểm và rủi ro.

Việc đánh tráo lý do kể trên là một điều nguy hiểm, vì không những nó là một sự vô lý đối với con cái, mà còn là một sự lừa dối đối với bản thân. Khi các bậc cha mẹ tự huyễn hoặc rằng mình đang làm mọi thứ vì con, tức là vì một mục đích hết sức cao cả, không ai có thể bác bỏ được, kể cả những đứa trẻ, thì tức là họ đã tự cởi trói cho bản thân khỏi những giới hạn đạo đức và ứng xử thường có trong giao tiếp giữa người với người, để mà sẵn sàng “đi tới cùng” trên con đường “vì con”. Ngược lại, một khi cha mẹ nhận thức được rằng những việc mình nhất định muốn con phải làm đều là để phục vụ lợi ích của bản thân, thì đồng thời họ cũng sẽ tự ý thức đến cái giới hạn của lợi ích chính đáng hơn rất nhiều. Ấy là vì trong môi trường đạo đức xã hội ngày nay, không có mấy ai muốn và có thể tự công nhận rằng mình là một kẻ ích kỷ và vô lý cả.

Vậy nên, nếu như cha mẹ đã vì lợi ích của bản thân, thì hãy dũng cảm và hiên ngang chấp nhận sự thật đó, trước hết là trong tâm trí của mình, và thậm chí là nói thẳng ra với con trẻ. Những lý do “vì tốt cho con”, nếu có, hãy dùng làm lý lẽ để thuyết phục con nhượng bộ, chứ đừng lấy đó làm lý do cho hành vi bắt ép của mình khi biện minh với con. Trong trường hợp thuyết phục thất bại, tức là con không chấp nhận lý lẽ và cha mẹ dùng đến quyền lực nào đó để bắt ép, thì ít ra cha mẹ hãy công nhận phán quyết đã được đưa ra từ phía con, chứ đừng phủ nhận hay ngó lơ. Công nhận không có nghĩa là phải đồng ý, mà nó thể hiện sự tôn trọng đối với nhân cách của con như một con người hoàn toàn.

Dựa vào những lý lẽ trên, tôi xin đưa ra mấy lời khuyên cụ thể như sau đối với các bậc cha mẹ. Trước hết, khi nảy sinh một mong muốn nào đó đối với con cái, cha mẹ hãy thử suy nghĩ xem rằng nếu như con không chấp nhận mong muốn đó, thì mình có sẵn sàng để cho con có được tự do lựa chọn hay không. Nếu câu trả lời là có, thì hãy đưa mong muốn đó ra dưới dạng gợi ý hoặc đề đạt nguyện vọng thay vì yêu cầu hay ra lệnh, bởi một khi đã yêu cầu hay ra lệnh thì cái sĩ diện cá nhân của mỗi người sẽ khiến cho cha mẹ rất khó chấp nhận một sự bất tuân, mặc dù có thể chủ ý ban đầu không phải như vậy. Lưu ý rằng mọi sự bực tức, giận dỗi hay tâm trạng không tốt nào khi bị từ chối đều có thể được một đứa trẻ hiểu là một sự gây áp lực để bắt ép từ phía cha mẹ. Việc nhắc đi nhắc lại một nguyện vọng nào đó cũng là dấu hiệu của một mong muốn ích kỷ chứ không hoàn toàn vì lợi ích của con. Chúng ta có thể thấy rằng việc chấp nhận cho con có tự do lựa chọn đòi hỏi một sự chuẩn bị tinh thần nhất định.

Còn nếu như cha mẹ đã không thực sự có được sự sẵn sàng và thoái mái để con có được tự do lựa chọn, thì hãy vứt bỏ hết những lối tiếp cận giả tạo nghe như có vẻ mình đang cho con quyền từ chối, mà hãy nói thẳng với con rằng bố mẹ yêu cầu con làm việc XYZ vì lý do ABC, kèm theo là những đe dọa hoặc điều kiện trao đổi hoặc lý lẽ thuyết phục nếu cần. Khi con không đồng ý, hãy nói với con rằng bố mẹ biết con không thích XYZ, và bố mẹ hiểu rằng mình đang vi phạm đến quyền tự do của con, nhưng bố mẹ có những lý do của riêng mình để cương quyết yêu cầu con đáp ứng. Chú ý rằng dù lý do được đưa ra có là ích kỷ cá nhân, thì vẫn tốt hơn nhiều là không giải thích chút nào, bởi vì riêng việc phải làm một điều gì đó mà không rõ mục đích hay lý do cũng đã là một rào cản đối với việc chấp nhận yêu cầu từ cha mẹ.

Lưu ý rằng ở đây tôi không hề có ý nói việc cha mẹ bắt ép con cái làm theo ý mình là một điều gì đó xấu xa hay đáng lên án, vì phạm vi đang được nói đến là quá rộng lớn và đa dạng. Việc đánh giá đâu là “tốt”, đâu là “xấu” trong từng trường hợp cụ thể tôi xin nhường lại cho giá trị quan đạo đức của từng người. Ở đây tôi chỉ đưa ra cách tiếp cận ít gây tổn thương nhất trong trường hợp cha mẹ cảm thấy cần hay muốn áp đặt quyết định lên con cái. Nhưng chúng ta cũng có thể thấy rằng một khi đã gạt bỏ đi cái mác “vì con”, thì số lượng những mong muốn có đủ cơ sở để có thể được nói ra một cách thẳng thắn như trên mà không khiến cho chính cha mẹ cảm thấy mình ích kỷ và vô lý đã giảm đi khá nhiều.

Tôi cũng muốn lưu ý thêm rằng sức chịu đựng của con người là có hạn, và trẻ con cũng vậy. Mỗi một lần con trẻ cảm thấy bị bắt ép phải làm điều mình không muốn chỉ vì những lý do vô lý và ích kỷ của cha mẹ, là một lần sợi dây tình cảm giữa cha mẹ và con cái bị bào mòn đi. Mà sợi dây tình cảm ấy lại chính là thứ ràng buộc con người với nhau một cách bền chặt nhất. Nếu như cha mẹ thường xuyên và liên tục lạm dụng quyền lực của bản thân vào những vấn đề nhỏ nhặt không đáng, thì cũng đừng ngạc nhiên khi con cái kiên quyết chống đối mình trong những vấn đề hệ trọng sau này, hay tệ hơn là coi cha mẹ như những người dưng đứng ngoài cuộc đời của bản thân. Nói cách khác, cha mẹ nên biết cách sử dụng quyền lực của mình một cách “tiết kiệm”.

Tựu chung lại, một khi đã cùng chung sống dưới một mái nhà và có sự ràng buộc về nhiều mặt, thì giữa cha mẹ và con cái rất khó có thể tránh khỏi sự xung đột về lợi ích. Tuy nhiên, ngay cả khi các bậc cha mẹ vì lý do nào đó mà bắt ép con cái làm theo ý mình, thì vẫn có những cách tiếp cận giúp cho con trẻ cảm thấy nhân cách của bản thân được tôn trọng hết mức có thể. Qua bài viết này, tôi hy vọng rằng mình đã phần nào làm rõ được điều đó.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi là

Tôi tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa xã hội, hay ít ra là có tư tưởng thiên về chủ nghĩa xã hội. Lý do ban đầu tôi trở nên “màu đỏ” có lẽ là vì kết quả của sự “nhồi sọ”, “tẩy não” qua 12 năm học “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”. Nhưng đến thời điểm này, sau khi đã tiếp xúc với một số luồng suy nghĩ và thông tin khác nhau, tôi có thể khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi đã tự mình lựa chọn, nếu không phải là với tư cách một triết lý rõ ràng, thì ít ra cũng là với tư cách một niềm tin và mơ ước. Trong bài này tôi xin trình bày một số suy nghĩ lặt vặt của bản thân mới nảy ra trong thời gian gần đây. Bài viết chủ yếu nhằm mục đích viết suy nghĩ thành lời, chứ không phải nhằm tranh luận hay chứng minh điều gì cả.


1. Chủ nghĩa xã hội và thư viện

Vài tháng trước, trong một lần đi chơi với bạn bè, tôi có tình cờ bắt gặp một “thư viện cộng đồng” trong một khu mua sắm tại Nhật Bản. Đó là nơi những người dân trong vùng đã tự nguyện đem những cuốn sách của mình góp lại và tạo nên một phòng đọc sách tự do. Ở đó tất cả mọi người đều có thể đến để góp sách, đọc sách và mượn sách. Tôi cũng không để ý thấy có ai làm nhiệm vụ quản lý cả. Khi nghe thầy giáo người Nhật của tôi giới thiệu như vậy, tôi đã buột miệng nói rằng, “đây chính là chủ nghĩa xã hội”, và thầy tôi cũng tán thành mà nói rằng “đúng là nó rất có tính xã hội”. Nó cũng làm cho tôi nhớ đến phòng đọc mở do những đồng chí tôi quen thời sinh viên xây dựng và vận hành tại địa chỉ 39 Lý Thường Kiệt (Hà Nội), dành cho những người có hứng thú với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và chính trị nói chung.

Chuyển sang một câu chuyện khác, gần đây tôi cũng lại tình cờ xem một chương trình truyền hình trên VTV về một ngôi làng nào đó ở Việt Nam mà người dân và nhất là học sinh lập nên đội tự nguyện làm vệ sinh môi trường làng, với một lý do rất đơn giản: “làng chúng tôi thì chúng tôi quét”. Không ai trả công cho họ, và cũng không ai bắt ép hay quản lý họ cả. Nó cũng giống như nhóm tình nguyện viên thu nhặt rác quanh Hồ Gươm mà một thầy giáo người Nhật khác của tôi là thành viên thường xuyên. Họ làm việc đó đều đặn hàng tuần cho đến nay chắc ít nhất cũng đã 5 năm, thi thoảng còn rủ nhau cùng đi du lịch, và thành viên thì có từ trẻ con bé tí cho đến các cựu thanh niên xung phong đầu đã bạc tóc.

Trở lại đề tài chính, nếu nhìn theo tiêu chí “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, và giới hạn phạm vi chỉ trong lĩnh vực đọc sách ở câu chuyện đầu và vệ sinh môi trường ở câu chuyện sau, thì cả hai ví dụ đều có thể được xem là biểu hiện của chủ nghĩa xã hội. Trong ví dụ đầu, tất cả mọi người đều được tự do lựa chọn có góp sách hay không, góp bao nhiêu, góp sách gì (làm theo năng lực). Đồng thời tất cả mọi người đều có thể tự do đến đọc và mượn sách (hưởng theo nhu cầu). Trong ví dụ sau, ít ra ở trường hợp nhóm nhặt rác Hồ Gươm, mọi người cũng đều được tự do lựa chọn có tham gia không, tham gia đều đặn ở mức nào, và làm việc đến mức nào (làm theo năng lực). Trong khi đó, tất cả mọi người đều có thể được hưởng một môi trường sạch đẹp chung như nhau (hưởng theo nhu cầu).

Như vậy, khẩu hiệu quen thuộc của chủ nghĩa xã hội mà nhiều người chế giễu là phi hiện thực và “đã bị vứt vào sọt rác từ lâu”, trong thực tế ở một hình thức này hay hình thức khác, và ở một phạm vi hạn hẹp hơn, vẫn đang diễn ra hàng ngày. Tất nhiên, điều đó không minh chứng cho việc một cộng đồng xã hội chủ nghĩa lý tưởng như nhiều người vẫn nghĩ tới có thể được xây dựng thành công ở thời điểm hiện tại. Nhưng ít nhất nó cho thấy chủ nghĩa xã hội, ở một dạng nhất định nào đó, không phải là điều bất khả thi về nguyên lý. Vậy điều gì đã dẫn đến thành công của những mô hình “chủ nghĩa xã hội” như trên?

Lý do trước hết rõ ràng nằm ở mức độ quan trọng của thành quả làm ra. Dù cho thư viện cộng đồng có biến mất hay đường làng với Hồ Gươm có không được quét dọn, thì mọi người cũng sẽ chỉ thấy bất tiện hay khó chịu, chứ cuộc sống về cơ bản không bị ảnh hưởng lớn. Ngược lại, nếu nền kinh tế của một xã hội ngưng sản xuất hay sản xuất không đủ đáp ứng những nhu cầu ăn mặc ở cơ bản của các thành viên thì sẽ là cả một thảm họa cho toàn xã hội đó. Bởi vậy, nếu suy nghĩ một cách bình thường chúng ta sẽ thấy việc để cho mọi người trong xã hội tự do quyết định có lao động hay không và lao động bao nhiêu, trong khi vẫn được nhận lại theo nhu cầu là một điều nguy hiểm và khó có thể duy trì được lâu dài.

Lý do tiếp theo nằm ở giá trị lao động mà mỗi người cảm thấy mình đang bỏ ra. Những cuốn sách được góp vào thư viện cộng đồng kia hầu hết là sách cũ. Thêm vào đó giá trị của một cuốn sách nằm chủ yếu ở thông tin chứa trong nó, chứ không phải nằm ở bản thân việc sở hữu cuốn sách. Và do đó đối với những người góp sách, việc cho đi cuốn sách không phải là một tổn thất đáng kể. Đối với nhóm nhặt rác, tôi không dám nói rằng sức lao động họ bỏ ra là nhỏ bé, nhưng họ chỉ làm một tuần một lần, trong một khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ. Nếu đem điều đó so với lượng lao động mỗi người trong xã hội hiện nay phải bỏ ra để có cơm ăn áo mặc hàng ngày thì rõ ràng có một khoảng cách rất lớn. (Chú ý rằng “lượng lao động” ở đây mang tính tương đối: một nhà tỷ phú có thể dễ dàng bỏ ra hàng trăm triệu đồng để làm từ thiện, nhưng một người nông dân bình thường thì một vài triệu đã là to.)

Hai điều trên dẫn chúng ta đến một tiền đề đã được Karl Marx đưa ra làm điều kiện dẫn đến chủ nghĩa xã hội: ấy là khi lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ cao, lượng của cải sản xuất trên lượng lao động bỏ ra trở nên rất lớn, khiến cho con người có thể vô cùng dễ dàng đáp ứng được nhu cầu hàng ngày của bản thân, và lao động trở thành một nhu cầu chứ không phải một gánh nặng bắt buộc nữa. Tuy rằng tại hầu như tất cả các cộng đồng người hiện nay điều này vẫn chưa thể đạt được, nhưng nếu nhìn vào lịch sử, có thể thấy rằng năng suất lao động của con người nhìn chung là tăng liên tục và gần đây có xu hướng tăng nhanh hơn. Chúng ta ngày càng làm việc ít giờ hơn, trong khi đó lại hưởng một mặt bằng mức sống ngày càng cao hơn. Cá nhân tôi tin rằng việc đạt tới ngưỡng năng suất cần thiết cho việc hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội ở quy mô quốc gia là điều không sớm thì muộn.

Chúng ta đứng ở thời điểm hiện tại, trong môi trường hiện tại, quen với năng suất lao động hiện tại của con người, thì có thể thấy rằng việc “làm cho thằng khác ăn” là một cái gì đó rất ngớ ngẩn và phi lý. Nhưng chúng ta cũng đồng thời đang làm điều tương tự, tuy rằng ở một quy mô nhỏ hơn nhiều, thông qua các hoạt động từ thiện và tình nguyện. Nếu như tưởng tượng rằng trong tương lai, khi mỗi người chỉ cần bỏ ra một lượng lao động tương tự như một buổi đi thu gom rác mỗi tuần hiện nay là đã có thể tạo ra đủ của cải cho bản thân trong vòng một tháng, thì có lẽ chủ nghĩa xã hội sẽ mang màu sắc hiện thực hơn nhiều. Điều đó hoàn toàn có thể trở thành hiện thực nếu như xu hướng tự động hóa vẫn tiếp diễn như ngày nay.

2. Chủ nghĩa xã hội và ích kỷ

Hiện tại, có một lý do rất thường được đưa ra để phủ nhận tính thực tế của chủ nghĩa xã hội, ấy là “bản năng ích kỷ của con người” sẽ khiến cho mọi người lợi dụng khẩu hiệu kia, chỉ hưởng mà không làm, dẫn đến hệ thống sụp đổ. Tôi xin hỏi ngược lại, vậy tại sao tất cả mọi người trong xã hội hiện nay đều không cùng đồng loạt cướp bóc chém giết lẫn nhau? Tại sao con người chúng ta lại tạo nên xã hội, luật pháp, nhà nước? Tại sao lại vẫn có những thư viện cộng đồng mở và những nhóm tình nguyện viên như tôi và chúng ta đều đã thấy?

Bản thân tôi là người hoàn toàn ủng hộ việc theo đuổi lợi ích cá nhân, nếu không muốn nói là tôi nghĩ mỗi người nên đặt lợi ích bản thân lên hàng đầu. Nhưng có hai điểm những người đưa ra lý luận trên dường như chưa tính đến. Thứ nhất, lợi ích của con người mang tính chủ quan, và không phải bao giờ cũng là vật chất hay hữu hình. Thứ hai, nếu một người nhận ra rằng việc tự nguyện đóng góp theo lý tưởng của chủ nghĩa xã hội đem lại lợi ích lớn nhất cho mình, thì khi đó chủ nghĩa xã hội và sự ích kỷ của cá nhân không còn mâu thuẫn nữa.

Đối với điểm thứ nhất, ngay từ xa xưa giá trị mà lao động của con người đem lại đã không chỉ thuần túy ở của cải vật chất làm ra. Việc cảm thấy rằng mình đang làm một việc gì đó có ý nghĩa, rằng mình đang làm thay đổi được thế giới, rằng mình đang trưởng thành và phát triển trong tư cách một con người,… tự bản thân nó đã mang lại một lợi ích về mặt tinh thần, mà đối với nhiều người là rất quan trọng. Đó là chưa kể, con người là một sinh vật có tính xã hội, và do đó việc cảm thấy rằng mình đang được xã hội chấp nhận, rằng mình đang là một phần của một cái gì đó to lớn hơn, cũng là một nguồn động lực lớn không thể bỏ qua.

Đối với những người xây dựng thư viện và thu nhặt rác nói trên, chỉ cần nhu cầu sống cơ bản không bị ảnh hưởng, thì tự bản thân những việc họ làm đã đủ mang lại lợi ích mà không cần bất cứ sự đền bù nào khác. Lợi ích ấy cụ thể ấy là gì thì tùy thuộc vào giá trị quan của mỗi người. Vì vậy, có thể nói rằng những người làm từ thiện hay tình nguyện đều làm vậy đơn giản vì họ cảm thấy những việc ấy đem lại cho họ lợi ích lớn hơn công sức bỏ ra. Nói cách khác, họ đều “ích kỷ” cả. Tương tự như vậy, trong một xã hội tương lai, khi mà lượng của cải vật chất làm ra trở nên thừa thãi, thời gian lao động cần thiết trở nên ngắn ngủi, và việc hưởng thụ đơn thuần trở nên nhàm chán, thì nhu cầu của con người cũng sẽ chuyển dần từ lợi ích vật chất sang những lợi ích tinh thần khác mà lao động mang lại. Khi đó, chính sự “ích kỷ” sẽ thúc đẩy con người làm việc dù không được trả công, chỉ để đi tìm sự thỏa mãn trong lao động và sản phẩm mình làm ra.

Về điểm thứ hai, tất cả các xã hội loài người từ trước đến nay đều tồn tại và hoạt động dựa trên tiền đề là mỗi cá nhân sẽ cảm thấy việc sống trong xã hội và tuân thủ các nguyên tắc thành văn lẫn bất thành văn của xã hội đem lại lợi ích to lớn cho bản thân hơn việc sống đơn độc một mình hay có các hành vi vụ lợi phản xã hội như giết người, trộm cướp, lừa đảo,… Dù đôi khi những quy định và nguyên tắc của xã hội khiến chúng ta cảm thấy mất tự do, và vẫn có một tỷ lệ những cá nhân phản xã hội, nhưng nhìn chung tuyệt đại đa số con người vẫn muốn hy sinh một phần tự do cá nhân để duy trì một xã hội hợp tác và ổn định ở mức độ nhất định hơn là sống trong một sự hỗn loạn mạnh ai người nấy tự lo lấy thân.

Điều tương tự chắc chắn cũng sẽ diễn ra nếu như chủ nghĩa xã hội minh chứng được lợi ích to lớn mà nó đem lại đối với đại đa số các cá nhân trong xã hội so với những mô hình đang có. Lợi ích to lớn đó sẽ không đến từ lượng của cải vật chất được làm ra, mà chủ yếu đến từ lợi ích về mặt tinh thần, khi con người cảm thấy được kết nối với lao động, thấy được niềm vui trong lao động và sáng tạo, thay vì bị buộc phải lao động chỉ để sinh tồn. Khi đó, mọi người sẽ vì cái “ích kỷ” của bản thân mà cùng hợp tác để xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội như chúng ta đang bảo vệ xã hội hiện nay vậy.

3. Chủ nghĩa xã hội và tôi

Đến đây, tôi lại tự hỏi rằng “thế rốt cuộc chủ nghĩa xã hội nó là cái gì vậy?”. Nói một cách thẳng thắn, cá nhân tôi vẫn chưa có một mô hình kinh tế và xã hội cụ thể của chủ nghĩa xã hội. Những gì tôi đọc về chủ nghĩa xã hội và Karl Marx vẫn còn rất ít, phần lớn vì tôi không đọc nổi những triết lý quá trừu tượng và khó hiểu mà không phải do mình viết ra. Tôi cũng không quan tâm đến chuyện chủ nghĩa xã hội nó phải là như thế nào mới “đúng kiểu”, phải là như thế nào mới là “Mác Lê”. Đối với tôi, chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi hướng đến, tương tự như việc những người tu theo đạo Phật hướng tới một sự “giải thoát” mà bản thân họ cũng chẳng ai biết được cụ thể nó như thế nào cho đến khi họ đạt được. Những tư tưởng và lý thuyết về chủ nghĩa xã hội của những người đi trước, trong đó có Karl Marx, chỉ đóng vai trò là nguồn cảm hứng và nguồn ý tưởng tham khảo mà thôi.

Trong cái lý tưởng còn mù mờ mà tôi hướng đến ấy, có một số điểm mà tôi đã xác định khá rõ ràng. Chủ nghĩa xã hội trong tôi, trước hết, là một môi trường mà trong đó từng người lao động đều làm chủ, và cảm thấy được làm chủ, đối với lao động của bản thân. Điều đó rất có thể sẽ được thực hiện thông qua một mô hình hợp tác xã, trong đó sở hữu đối với mọi tư liệu sản xuất là sở hữu chung của mọi thành viên trong hợp tác xã, và các thành viên hợp tác với nhau dựa trên các mối quan hệ dân chủ, bình đẳng và tự nguyện. Điều này là hoàn toàn có thể thực hiện được ngay tại thời điểm hiện tại, với minh chứng là các hợp tác xã sản xuất, nhà ở và tiêu dùng đang phát triển và thành công trên thế giới, ở Việt Nam và nhất là ở cả những nước kinh tế phát triển cao như Mỹ hay Nhật Bản.

Bên cạnh việc làm chủ theo nghĩa đen đối với tư liệu sản xuất, còn là cảm giác được làm chủ về mặt tinh thần đối với lao động và sản phẩm của bản thân. Sự “làm chủ” ở đây còn có thể được hiểu là sự “có trách nhiệm”, cũng đồng nghĩa với một cảm giác “tự do”, hay còn có thể nói là “được là chính mình”. Người lao động thực sự cảm thấy mình đã tự do lựa chọn công việc mình đang làm, cảm thấy niềm vui và động lực tự nhiên xuất phát từ bản thân nội dung công việc, thay vì cảm thấy bị bắt buộc phải lao động để kiếm sống và tìm kiếm động lực từ lợi ích vật chất mà lao động mang lại. Chỉ khi đó thì con người mới thực sự dành mọi thứ mình có cho lao động, và tiềm năng lẫn sức sáng tạo của họ mới được sử dụng ở mức cao nhất.

Tất nhiên, điều này không phải là không thể đạt được ở mức độ nhất định trong một môi trường làm việc phi xã hội chủ nghĩa, và thực tế là ngay đến giới chủ tư bản ở các nước Âu Mỹ gần đây cũng phải công nhận và tìm cách khích lệ “tính làm chủ” (ownership) trong những người làm thuê cho mình. Nhưng thực tế là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dựa trên mối quan hệ chủ tư bản – người làm thuê, tự nó về nguyên lý đã không khuyến khích và nhiều khi là làm thôi chụt đi tinh thần làm chủ của những người lao động. Đơn giản vì vai trò của họ trong phần lớn trường hợp thường không có hoặc có rất ít yếu tố “làm chủ”, cả về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, ra quyết định sản xuất lẫn phân chia thành quả lao động.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi, thêm vào đó, còn là một môi trường mà từng người sẽ có được tự do, và thậm chí là nhận được sự hỗ trợ, để thử nghiệm và sáng tạo trong phạm vi vẫn đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng. Những thử nghiệm và sáng tạo ấy có thể liên quan trực tiếp đến công việc sản xuất của mình, mà cũng có thể hoàn toàn là mang tính cá nhân. Đó có thể đơn giản chỉ là thử sức trong một công việc mới, thử nghiệm một sản phẩm hay phương pháp mới, mà cũng có thể những thí nghiệm khoa học hay sáng tạo nghệ thuật,… Sự “tự do” tôi nói đến ở đây không chỉ là theo nghĩa không bị ai ngăn cấm, mà còn theo nghĩa là có được cơ hội và công cụ để thực hiện, thay vì để cho tiềm năng bị chôn vùi bởi sự thiếu thốn về vật chất hoặc thời gian.

Tuy nhiên trên hết, có lẽ cái tôi hướng đến nhất trong suy nghĩ của mình về chủ nghĩa xã hội, ấy là một môi trường mà trong đó con người được cảm thấy “hoàn toàn”, được “là chính mình” kể cả trong lao động sản xuất lẫn khi tái sản xuất sức lao động, mà có lẽ theo lời Karl Marx thì đó là sự “giải phóng lực lượng sản xuất”. Cá nhân tôi hiểu từ “giải phóng” đó theo một nghĩa trừu tượng và thuộc về mặt tinh thần nhiều hơn là về mặt vật chất thực tế. Tất cả những lý thuyết khác chỉ là con đường để dẫn đến sự “giải phóng” ấy. Và vì một lý do nào đó, tôi cảm thấy rằng những lý thuyết của Marx về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản dường như là con đường đúng đắn nhất. Tôi sẽ, hay ít ra là có mơ ước sẽ sử dụng những lý thuyết ấy, và cả những lý thuyết khác nếu cần, để tìm cách xây dựng nên một “chủ nghĩa xã hội” của riêng mình.

Cái tôi xây dựng nên ấy có được gọi là chủ nghĩa xã hội hay không, là điều tôi không quan tâm lắm.

Phụ huynh Sudbury: Giao cho con có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Trong phần trước, tôi đã viết rằng điều mà “mô hình giáo dục Sudbury” coi trọng nhất chính là việc nhìn nhận trẻ em như những con người hoàn toàn độc lập với cha mẹ. Điều đó cũng có nghĩa là “tin tưởng 100% vào trẻ em, giao toàn bộ quyền lựa chọn cho trẻ em”.

Chẳng hạn như ở trường Tokyo Sudbury School, dù cho có là một đứa bé còn chưa đi học tiểu học, thì ý chí của riêng em đó vẫn được tôn trọng trên hết. Việc nhận học sinh không phải là phía trường chấp nhận việc “phụ huynh đưa con vào trường”, mà là chấp nhận việc “học sinh lựa chọn vào trường Sudbury”.

Thêm vào đó, cả sau khi đã vào trường, do trong mô hình Sudbury không có giờ học, nên các em học sinh chỉ làm những việc mà mình thích. Các em không hề nhận được sự chỉ dẫn “làm cái này đi” hay “nên làm cái này hơn” từ bất cứ ai cả. Việc học sinh làm gì trong khoảng thời gian ở trường là hoàn toàn dựa trên ý chí tự do của các em.

Và một vấn đề luôn luôn nảy sinh ở đây là “giao toàn quyền quyết định cho con liệu có ổn không?”.

Quả thực đã là trẻ con thì thường cũng có chỗ chưa được chín chắn. Trẻ con kinh nghiệm và tri thức đều ít, và có lẽ cũng không giỏi trong việc nhìn nhận một cách khách quan và quyết định một cách tỉnh táo. Nhìn những đứa trẻ “thiếu tin cậy” ấy, thì chuyện các bậc cha mẹ lo lắng rằng  “giao hết cho con có ổn không?” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, dù cho có là như vậy đi nữa thì tôi vẫn muốn tin vào con trẻ. Tôi cho rằng trẻ con có đầy đủ năng lực đánh giá và tự lựa chọn con đường đi cho riêng mình ngang bằng với người lớn.

Vì sao tôi lại có thể nghĩ như vậy? Đó là vì tôi nghĩ rằng chính việc chúng ta “đối xử như trẻ con” lại đang “giam cầm trẻ con trong cái vỏ bọc trẻ con”.

Tôi cho rằng trẻ con vốn ngay từ khi còn bé đã có năng lực phán đoán sự việc và lựa chọn cuộc đời mình. Cái đang cướp đi năng lực ấy, cái đang kìm hãm trẻ con trong hình ảnh “thiếu tin cậy” ấy chính là cách mà người lớn xung quanh đối xử với chúng “như trẻ con”.

Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được điều đó nếu nhìn vào những cô nhi ở Nhật Bản sau chiến tranh, hay những em bé ở các nước đang phát triển. Khi bị cuộc sống thúc bách, trẻ con có thể phát huy được năng lực vô cùng lớn, để sinh tồn một cách kiên cường với một sức sống còn vượt xa cả người lớn.

Lại nói, nếu nhìn vào những vận động viên đã đạt thành tích từ tuổi mười mấy như tuyển thủ golf Ishikawa Ryo, tuyển thủ trượt băng Asada Mao, hay tuyển thủ tennis Nishikori Kei, thì có thể rằng họ hoàn toàn không cho thấy một ấn tượng trẻ con nào. Vì sao mà phát ngôn của họ lại có thể chững chạc như người lớn đến vậy? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ ở trong một thế giới cạnh tranh nghiêm túc và do đó chẳng bao giờ được (bị) những người lớn xung quanh “đối xử như trẻ con” cả.

Hãy thử nghĩ về Nhật Bản ngày xưa mà xem. Trẻ em vừa tốt nghiệp tiểu học là đã lập tức ra xã hội làm việc. Ngay từ cái tuổi đầu mười những đứa trẻ ấy đã hoàn toàn đủ tư cách được coi là những thành viên có ích của xã hội.

Thêm vào đó, lễ “nguyên phục” (lễ trưởng thành) ngày xưa thường được tiến hành vào “khoảng từ 11 đến 17 tuổi”. Tuổi kết hôn đối với nam là từ 17 đến 20 tuổi, nữ là từ 13 đến 15 tuổi. Thế tức là trong xã hội ngày xưa chỉ cần trên 10 tuổi là được đối xử như người lớn rồi.

Nhưng đến ngày nay thì sao? Tuổi tương ứng với lễ nguyên phục là 20 tuổi. Cho đến khi ra khỏi trường đại học và bắt đầu đi làm, thì ngay đến cả một thanh niên râu ria xồm xoàm cũng vẫn bị xã hội “đối xử như trẻ con”.

Vì vậy mà tôi mới nghĩ rằng, cái đang cướp đi năng lực tiềm tàng của trẻ em chẳng phải chính là cha mẹ và trường học hay sao? Chúng ta đang dùng những lý lẽ như “vì các con vẫn còn là trẻ con”, “trẻ con thì im lặng mà nghe lời đi”, “cái đấy đợi đến khi nào con lớn rồi hẵng nghĩ tới” để mà cướp đoạt đi từ các con “năng lực tự mình suy nghĩ và lựa chọn”. Ấy thế nhưng mà trong lúc đó trẻ con vẫn bị người lớn nói những câu như “giới trẻ bây giờ chẳng biết tự lập là gì”, “toàn chỉ biết đợi lệnh chứ chẳng chịu tự suy nghĩ gì cả”. Đối với những đứa trẻ, thì quả đó là một điều bất công.

Ở trường Tokyo Sudbury School, học sinh không bao giờ bị những người xung quanh bắt ép phải học hành cả. Trường cũng chẳng có giờ học thể dục hay âm nhạc gì hết. Các em học sinh được có “tự do” làm những điều mình thích.

Thế nhưng, cái “tự do” ấy rất khác với cái “tự do” mà các em học sinh ở những trường học bình thường có được trong giờ nghỉ giải lao. Cái “tự do” ấy là cái “tự do” có kèm theo “trách nhiệm”, cũng tức là thứ “tự do” của người lớn.

Trong trường Sudbury không hề có giờ học toán hay quốc ngữ. Do đó, những học sinh không học thì dù có lớn đến đâu cũng không biết tính toán hay đọc viết.

Nếu các em cảm thấy “không biết tính toán thì không được”, thì các em có thể bắt đầu học toán. Nếu các em cảm thấy “muốn đọc sách”, thì các em có thể bắt đầu học đọc học viết. Đó là cách suy nghĩ theo phong cách Sudbury. Nó có nghĩa là các em phải tự suy nghĩ xem việc học có thực sự cần thiết cho mình hay không.

Nếu chỉ nhìn qua thì việc “làm gì cũng được” có vẻ như là đang nuông chiều các em, nhưng thực tế nhìn từ góc độ mỗi em đều phải tự chịu hoàn toàn trách nhiệm về tương lai của bản thân, thì có thể nói rằng đó là một phương pháp giáo dục hết sức “nghiêm khắc”.

Và cá nhân tôi muốn tin tưởng vào năng lực mà con tôi sẽ có được trong một môi trường như vậy. Đó chính là “năng lực phân biệt” được đâu là cái cần thiết cho mình và đâu là không, là “năng lực chịu trách nhiệm” đối với những lựa chọn dựa trên sự đánh giá của bản thân.

Trong xã hội ngày càng biến chuyển mạnh mẽ sắp tới, tôi tin rằng chính cái “năng lực tự mình đánh giá và quyết định mọi việc” ấy mới là điều quan trọng nhất.

Việc trẻ em tự lựa chọn con đường đời cho riêng mình dựa trên sự đánh giá của bản thân sẽ dẫn tới một tương lai như thế nào cho các em, ấy là điều chẳng ai có thể biết được.

Thế nhưng, một điều có thể chắc chắn nói được, đó là dù tương lai đang chờ đợi các em có là như thế nào chăng nữa, thì đó cũng là thứ mà chính bản thân các em đã lựa chọn. Và những đứa trẻ của chúng ta chắc chắn sẽ giang rộng vai đón nhận trách nhiệm đối với kết quả của sự lựa chọn ấy.

Từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, tôi đã tự mình đưa ra một quyết tâm. Ấy là việc ngừng suy nghĩ xem “cái gì mới là hạnh phúc cho con”. Và kèm theo đó là việc giao toàn bộ cuộc đời của con cho bản thân con. Làm như vậy, chắc chắn con sẽ có thể xây dựng nên được một “năng lực tự mình đánh giá, tự mình quyết định cuộc đời” và trưởng thành đến mức khiến cho bản thân tôi cũng không nhận ra được nữa.

Có dũng khí để mà chấp nhận cho con có một cuộc sống tự lập. Tôi nghĩ đó chính là “mô hình giáo dục Sudbury”.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【子どもにまかせて大丈夫?】

「サドベリー教育」が最も大切にしていることは、子どもを親とは独立した一個の人間として認めることであるということを前回書きました。それはつまり「子どもを100%信頼し、すべての選択を子どもの判断に委ねる」ということです。

たとえば東京サドベリースクールに入学するときは、たとえ小学校に上がる前の子でも、その子の意志がなにより尊重されます。親は子を「サドベリースクールに入れる」のではなく、「子がサドベリースクールを選んで入る」のを承認する形になるのです。 

また、スクールに通うようになってからも、サドベリーには授業がないので、子どもたちは自分の好きなことだけをします。誰からも「こうしなさい」とか「こうした方がいいよ」と指図されることはありません。学校で何をして過ごすかは、すべて子どもたちの自由意志に委ねられます。

そして、ここで常に問題になるのが、「子どもにすべての選択を任せて大丈夫か」ということです。

確かに子どもには未熟なところがあります。経験や知識も少ないし、客観的な視野に立って物事を冷静に判断することは苦手かもしれません。そんな“頼りない”子どもに、「すべての選択を任せて大丈夫?」と心配になる親の気持ちはよく分かります。

でも、それでも、私はあえて子どもの力を信じたいと思います。彼らには大人と同等の判断力があり、自分の人生を自分で選び取る能力があると思います。

なぜそう思えるのか。それは、大人が「子ども扱いすること」が、かえって「子どもを子どもの中に閉じ込めている」のではないかと考えるからです。

子どもは本来、小さなうちから物事を判断し自分の人生を選び取ってく力を有していると思います。その力を奪い、子どもをいつまでも“頼りない”存在にしているのは、周囲にいる大人たちの「子ども扱い」なのではないでしょうか。

たとえば、戦後の日本の孤児たちや、途上国の子どもたちを見ていると分かります。必要に迫られると、子どもはとてつもない能力を発揮し、大人顔負けの生命力で、逞しく生き抜いていくものです。

また、ゴルフの石川遼やスケートの浅田真央、テニスの錦織圭など、10代で活躍した選手たちを見ていると、まったく子供っぽい印象がありません。なぜ彼らの発言は大人びていて、立派なのでしょう。それはたぶん周囲にいる大人が勝負の世界に生きる彼らを「子ども扱い」しないからだと思います。

そして、もうひとつ「子どもを子どもの中に閉じ込めている」ものが現代にはあります。それは学校教育です。学校が子どもを必要以上に「子ども扱い」するために、卒業して社会に出るまで、子どもは大人になることを自らやめてしまうのです。

昔の日本を考えてみてください。子どもは小学校を出たら、すぐに社会に出て働いていました。10代で彼らは十分に実社会で役立つ即戦力になっていたのです。

また、かつての「元服」の年齢は「11歳から17歳の間」だったそうです。結婚する年齢も、平安時代は男性で17歳~20歳ぐらい、女性で13歳~15歳ぐらい。10歳を超えれば、昔の社会ではすっかり大人扱いされていたわけです。

それが今ではどうでしょう。元服にあたる成人式は20歳。大学を出て会社に就職するまでは、ヒゲの生えた立派な青年でも社会は「子ども扱い」をします。

私は思います。子どもの潜在能力を奪っているのは、むしろ親や学校なのではないかと。「あなたはまだ子どもだから」「子どもは黙って聞いていなさい」「それは大人になってから考えることよ」などと言い、子どもから「自ら考え、選択する力」を奪っているのです。それでいて、「今の子は自立していない」「指示待ちばかりで自分で考える力がない」などと言われるのですから、子どもにとってはいい迷惑です。

東京サドベリースクールでは、周囲から強制的に勉強させられることはありません。体育や音楽の授業もありません。子どもには好きなことをやっていい「自由」が与えられます。

でも、この「自由」は一般の学校にある休み時間の「自由」とは違います。それは自らに「責任」が伴う大人としての「自由」なのです。

スクールには算数や国語の授業がありません。なので、勉強しない子はいくつになっても計算や読み書きができません。

「計算できないのはいやだ」と思えば算数を勉強すればいい。「本が読みたい」と思えば読み書きを勉強すればいい。これがサドベリー流の考え方です。勉強が自分にとって必要かどうかは自分で考えなさいということです。

一見「何をやってもいい」と甘やかしているように見えますが、自分の将来に完全に責任を負わなければいけないという点において、非常に「厳しい」教育といえるのです。

このような環境で子どもに身につく力を、私は信じたいと思います。それは自分にとって必要なものとそうでないものを「見分ける力」であり、自分の判断において選んだことに対して「責任を持つ力」です。

変化の激しいこれからの社会においては、まさにこのような「自分で物事を判断し、決めていける力」がものを言うようになってくると思います。

自分の判断において子どもが自ら選択し、歩んでいった人生の先に、どのような未来が待っているのか、それは誰にも分かりません。

でも、ひとつ言えるのは、どんな未来が待っていようと、それは子ども自身が選び取ったものだということ。その結果に対して、子どもは胸を張って責任を取ることでしょう。

息子が東京サドベリースクールに通うようになって、私はひとつの決断をしました。それは「子どもにとって何が幸せか」を考えることをやめること。そして、息子の人生をそっくり彼に手渡してあげること。そうすることで、子どもは見違えるほど、「自分で判断」し、「自らの人生を決めていく力」を獲得していくはずです。

勇気をもって、子どもの独立した人生を認めること、それが「サドベリー教育」だと私は思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Phụ huynh Sudbury: Không học có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Kể từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, trong trí óc của tôi “giáo dục là gì” đã trở thành một đề tài suy nghĩ thường xuyên.

“Tại sao trẻ con lại phải đến trường?”. “Tại sao lại phải học hành?”.

Đó là những vấn đề quá sức cơ bản, đến mức tôi chưa từng bao giờ suy nghĩ tới trước đó.

Và tôi cũng bắt đầu suy nghĩ thực sự nghiêm túc về câu hỏi rằng liệu con mình “không học có ổn không?”. Việc vứt bỏ nền “giáo dục nghĩa vụ” để vào một ngôi trường không có giờ học cũng không có giáo viên liệu có phải là một sự đánh cược quá liều lĩnh hay không?

Chắc hẳn rất nhiều bậc phu huynh Sudbury trước khi cho con đến trường cũng đều đã rất trăn trở với vấn đề này. “Vào trường Sudbury để được tự do cũng tốt thôi, nhưng nhỡ mà con lại ham mê điện tử thì biết làm sao đây…”. “Trường Sudbury chưa được Bộ Văn Giáo công nhận, nên chỉ có thể lấy đưPreviewợc bằng tốt nghiệp cấp 2. Chỉ có bằng cấp 2 thôi thì có sống nổi trong xã hội không…”.

Tất nhiên không chỉ có những điều tiêu cực, mà cũng xuất hiện cả những suy nghĩ tích cực nữa. “Nếu như có thể trải qua thời gian học đường một cách thoải mái trong môi trường tự do của Sudbury, thì chắc chắn con trai mình sẽ có thể tìm thấy điều nó thích làm và theo đuổi mơ ước của bản thân…”. “Chắc chắn con sẽ có được những kinh nghiệm không thể có được ở những trường bình thường khác, và trở nên một đứa trẻ tuyệt vời có suy nghĩ tự lập…”. Rất nhiều suy nghĩ khác nhau đã được sinh ra từ một câu hỏi “không học có ổn không?”. Và tôi đã tưởng tượng ra đủ mọi kịch bản khác nhau về tương lai của con để mà lo lắng, để mà yên tâm.

Thế nhưng, đến một lúc nào đó, bỗng nhiên tôi nhận ra một điều. Vốn dĩ việc suy nghĩ những chuyện như vậy, bản thân nó đã chẳng phải là vô nghĩa lắm sao? Cái chuyện “không học có ổn không?” ấy, có suy nghĩ bao nhiêu cũng sẽ chẳng bao giờ biết được. Nếu có ai đó lo lắng rằng “không học có ổn không?”, thì ta cũng có thể hỏi một câu ngược lại rằng “cứ học là sẽ ổn ư?”. Chỉ cần học giỏi ở trường, vào được một trường đại học danh tiếng, vào được một công ty danh tiếng, như vậy là cuộc đời sẽ ổn ư?

Khi suy nghĩ như vậy ta có thể thấy được phần nào bản chất của sự việc. Dù có vào trường Sudbury hay không, thì chuyện tương lai có ổn hay không vẫn là điều chẳng ai biết được.

Đến đây, trong đầu tôi lại hiện lên một câu hỏi khác. “Ơ? Thế bản thân mình cuối cùng là đang kỳ vọng điều gì ở trường Sudbury vậy?”. Phải chăng ở đâu đó trong tâm, tôi đang nghĩ rằng “nếu con vào trường Sudbury thì biết đâu đấy sẽ có thể trở thành một con người tuyệt vời”?

Một ngôi trường tự do, một ngôi trường có thể được sống như mình vốn thế. Nếu được ở trong một ngôi trường như vậy, biết đâu đấy con sẽ trở thành một con người có cá tính và phóng khoáng hơn những đứa trẻ đi học ở những ngôi trường bình thường với những giáo trình buồn chán khác…

Nhưng tôi cho là những suy nghĩ như vậy vẫn có phần sai lầm. Nó là lối tư duy có phần giống với cách suy nghĩ “học ở trường tư lập danh tiếng thì sẽ vào được trường đại học tốt” vậy.

Trường học không phải là một cái lò vi sóng. Không có chuyện cho trẻ con vào, bấm nút một cái là ra một đứa trẻ tuyệt vời. Bất cứ trường học nào cũng vậy mà thôi. Trường Sudbury cũng vậy mà trường học thường cũng vậy, đứa trẻ nào phát triển thì sẽ phát triển, mà đứa trẻ nào không phát triển thì sẽ không phát triển.

Mà không, chính ngay cái sự trông đợi rằng trẻ con sẽ “phát triển” cũng rất có thể đã là một sai lầm.

Tại sao chúng ta lại không được trông đợi vào con cái? Như tôi đã viết trong lần trước, đó là vì “con cái và cha mẹ nên có một mối quan hệ bình đẳng”. Việc trông đợi sự đáp ứng kỳ vọng từ một con người bình đẳng với mình, dù cho có là giữa cha mẹ và con cái đi nữa, chẳng phải là một việc hơi thiếu tôn trọng sao?

Chẳng hạn nếu như chúng ta bị con cái kỳ vọng rằng “con muốn bố trở thành một người hoàn hảo hơn chút nữa”, hay “bố mà thành người giàu có thì có phải thích không”, thì chúng ta sẽ cảm thấy thế nào? Việc bị người khác đặt kỳ vọng có thực là một việc đáng vui mừng không? Cá nhân tôi thì thấy đó là một hành vi gây phiền phức.

Điều đó cũng đúng trong trường hợp của trẻ con. Những kỳ vọng của cha mẹ như “muốn con thành người cứng cáp”, “muốn con thành người có cá tính”, “muốn con theo đuổi ước mơ” chẳng phải cũng đều là những việc không cần thiết hay sao? Nhìn từ phía con cái, việc chúng cảm thấy “bố mẹ ồn ào quá, để cho con được yên” cũng là chuyện dễ hiểu mà thôi.

Cứ như vậy mà tôi trở nên suy nghĩ rằng “không được kỳ vọng điều gì ở trường học cả”, “không được kỳ vọng điều gì ở con cái cả”, mặc dù cách nói đó có phần hơi cực đoan.

Con cái không phải là vật sở hữu của cha mẹ. Chúng là những con người độc lập. Và cuộc đời của con cái là của riêng chúng. Tuyệt nhiên đó không phải là thứ của cha mẹ.

Vậy cho nên, việc cha mẹ tự tiện kỳ vọng và lo lắng là việc làm gây phiền phức cho con cái. Chuyện “không học có ổn không” không phải là việc của cha mẹ, mà phải là vấn đề để cho con cái tự suy nghĩ lấy.

Nghĩ đến đó, tôi bỗng chợt nhận ra một điều. “À ra vậy, chân túy của giáo dục Sudbury chính là nằm ở đây chăng”.

Ấy chính là việc chấp nhận con cái như một con người độc lập hoàn toàn tách khỏi cha mẹ. Ấy chính là việc giao toàn quyền quyết định cuộc đời của con cái cho các con. Cái sự “giác ngộ tinh thần” ấy chẳng phải là điều rất quan trọng đối với một phụ huynh trường Sudbury hay sao?

Việc giao toàn quyền cho con cái cũng chính là việc “tin tưởng 100% ở con cái”. Việc có học hay không, có chơi điện tử hay không, có đọc sách hay không không phải là việc cha mẹ suy nghĩ, mà là việc để cho con cái quyết định.

Nói đến đây xong, trong hầu hết trường hợp sẽ có một câu hỏi quay ngược trở lại. “Trẻ con có khả năng quyết định đến mức ấy không?”. “Giao toàn quyền cho trẻ con liệu có ổn không?”.

Tôi thì nghĩ là sẽ ổn. Không chỉ thế mà thậm chí tôi còn nghĩ rằng chúng ta nên giao quyền quyết định cho con cái càng sớm càng tốt.

Lý do cho điều đó tôi xin được viết ra trong phần sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【勉強しなくて大丈夫?】

息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、私自身の中で、「教育とは何か」ということが一つのテーマとなりました。

「子どもはなぜ学校に通わなければならないのか?」「なぜ学ばなければならないのか?」

あまりにも基本的すぎて、一度も考えたことのなかった問題です。

そしてまた、自分の子が「勉強しなくて大丈夫か?」ということについても、真剣に考えるようになりました。「義務教育」を放棄して、授業もない、先生もいない学校に通うのは、あまりにもギャンブルすぎやしないかと。

恐らく多くのサドベリーの保護者が、スクールに子どもを入れる前に、この問題で悩まれたことでしょう。「サドベリーに入って、自由になるのはいいけれど、子どもがゲームにはまったらどうしよう……」「サドベリーは文科省から認可されていないので、中学卒業資格しか得られない。中卒の資格で社会に出て生きて行けるのだろうか……」

ネガティブなことばかりではなく、ポジティブなことも頭に浮かびます。「サドベリーの自由な環境の中でのびのび過ごせば、息子は自分の好きなことを見つけ、夢に向かって進んでくれるはずだ……」「普通の学校では得られない経験をして、自立した考えを持った素敵な子に育ってくれるに違いない……」「勉強しなくて大丈夫?」という問いからは、それはもういろんな考えが頭に浮かびました。子どもの将来についてさまざまなケースを想定し、心配してみたり、安心してみたりしたものです。

ところが、ある時、ふと気づいたのです。そもそも、こういうことを考えること自体、ナンセンスではないかと。「勉強しなくて大丈夫?」なんて、そんなことはいくら考えても分かりっこありません。「勉強しなくて大丈夫?」という心配があるのなら、逆に「勉強すれば大丈夫?」という反問もできます。学校で勉強して、一流の大学に行って、一流の会社に就職できれば、それで人生は大丈夫なのか……と。

こう考えると物事の本質が少し見えてきました。サドベリーに通おうが、普通の学校に通おうが、大丈夫か否かなんて誰にも分からないのです。

そう思ったところで、私の頭に疑問が浮かびました。「あれ? 自分は一体サドベリーに何を期待しているのだろう」と。心のどこかで、「子どもがサドベリーに通えばすばらしい人間に育つのでは」と思っていたのではないかと。

自由に、あるがままに生きられる学校。そんな学校で過ごせたら、退屈なカリキュラムのある普通の学校に通う子より、個性的で、のびやかな人間に育つのではないか……。

でも、こう考えるのも、たぶんちょっと違うのだと思います。それは「有名私立に通えれば、いい大学に入れる」と考えることと似たりよったりの思考回路かもしれません。

学校は電子レンジではありません。子どもを中に入れ、スイッチを押せば、立派な子に育つなんてことはありえません。どんな学校でも同じです。サドベリーだろうが、普通の学校だろうが、伸びる子は伸びるし、伸びない子は伸びないのです。

いや、そもそも子どもに“伸びる”ことを期待すること自体、間違っているかもしれない。

なぜ子どもに期待してはいけないか? それは前にも書きましたが、「子と親は対等な関係であるべきだ」と思うからです。対等な人間に対して何かを期待するなんて、親子の間でも少し失礼ではないでしょうか。

たとえば子どもから「パパはもう少し立派な人間になってほしいな」とか「お金持ちになってくれたら嬉しいな」なんて期待されたらどう思います? 人から期待を寄せられることってありがたいことですか? 私は迷惑なんじゃないかと思います。

子に対しても同じです。「逞しい子になってほしい」「個性的な子になってほしい」「夢に向かって生きてほしい」などと親が期待するのは、余計なことではないか。子どもとしては、「うるさい、ほっといてくれ」となって当然でしょう。

こうして私は、少々極端な言い方ですが、「学校に何かを期待してはいけない」「子どもに何かを期待してはいけない」と思うようになったのです。

子どもは親の所有物ではありません。独立した一個の人間です。そして、子どもの人生は子どものもの。決して親のものではありません。

だから、親が勝手に期待したり、心配したりするのは、子どもにとっていい迷惑なのです。「勉強しなくて大丈夫?」ということは、親ではなく、子ども自身が自分で考えるべき問題なのです。

そう思ったとき、ハッと気づきました。「なるほど、ここにサドベリー教育の真髄があるのか」と。

子どもを、親とは独立した一個の人間として認めること。子どもの人生を、子どもに完全に委ねること。その「覚悟」を持つことが、サドベリースクールの保護者にとって大切なことではないでしょうか。

子どもにすべてを委ねることは、「子どもを100%信じる」こと。勉強するかしないか、ゲームをするかしないか、本を読むか読まないかは、親が考えることではなく、子どもが考えることなのです。

と、このように言うと、たいていの場合、次のような質問が返ってきます。「子どもにそんな判断力があるのか?」「子どもにすべてを任せて大丈夫なのか?」

私は大丈夫だと思っています。というよりむしろ、なるべく早い時期から、すべての判断を子どもに任せた方がいいと思っています。

その理由については次回書くことにします。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Phụ huynh Sudbury: Giá trị dành cho các bậc cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bản dịch tiếng Việt

“Ở trường Tokyo Sudbury School không có giáo viên, cũng không có giờ học. Các em học sinh dành cả ngày ở trường để làm những điều mình thích”.

Các bậc phụ huynh tham gia vào buổi thuyết trình về trường trước khi cho con nhập học sẽ được nhân viên của trường giải thích những điều trên. Và hầu hết các bậc cha mẹ nghe đến đó đều lấy làm ngạc nhiên. Cả tôi và vợ cũng đều đã rất ngạc nhiên. Đến mức tôi đã thốt lên rằng “Trên đời này lại có trường học không giáo viên lẫn giờ học như thế này ư!”.

Và rồi tiếp sau sự kinh ngạc ấy là một suy nghĩ xuất hiện trong đầu, ấy là câu hỏi “trẻ con không học liệu có ổn không?”. Câu hỏi ấy là điều cho tới trước khi đó tôi vẫn chưa từng một lần nghĩ tới. Ấy là vì tôi vẫn luôn đinh ninh rằng “trẻ con là phải đến trường đi học” là một điều gì đó rất đương nhiên.

Cái sự mới mẻ ấy, cái sự đi trước thời đại ấy, hay cũng có thể nói là cái sự quá khích ấy, cái phương châm giáo dục phá tan mọi thường thức cố hữu ấy của mô hình giáo dục Sudbury đã khiến cho tôi hoàn toàn bị bất ngờ.

Và từ đó bắt đầu chuỗi ngày vắt óc suy tư của một người cha. Tôi đã suy nghĩ một cách hết sức nghiêm túc và tha thiết về câu hỏi liệu rằng đứa con của mình “không học có làm sao không? có thực sự sẽ ổn không?”.

Nhân viên của trường đều hết sức nhiệt tình giải thích về “triết lý giáo dục” của mô hình trường Sudbury. Trong sách của Daniel, người sáng lập ra trường Sudbury gốc ở Boston cũng có viết rất nhiều điều tuyệt vời.

Chẳng hạn như việc “dìm trẻ em vào biển buồn chán”.

Người ta nói rằng những đứa trẻ sau khi vào trường Sudbury và có được tự do, ban đầu thường lao vào trò chơi điện tử hay những trò chơi khác, nhưng dần dần chúng trở nên buồn chán, và bắt đầu quay lại đối diện với chính mình. Từ đó, chúng tìm ra điều mà mình thực sự muốn làm, và bước một bước đầu tiên trên con đường đời của bản thân.

Khi nghe lời thuyết trình ấy, một mặt tôi vừa gật gù “à ra thế, thật là tuyệt diệu”, nhưng một mặt tôi cũng không khỏi đặt ra nghi vấn rằng “liệu con của mình có trở nên được như thế hay không?”.

Phía trường thì đưa ra nhiều câu chuyện thực tế để thuyết trình. Trong đó có câu chuyện về một cô bé ham thích nấu ăn, suốt ngày chỉ đứng ở trong bếp, và sau khi tốt nghiệp đã đi làm tại một hiệu bánh. Lại có cả câu chuyện về một cậu bé sau một thời gian tự mình mày mò với máy vi tính đã trở nên thông thạo hơn cả người lớn… Rồi trên trang chủ của một trường Sudbury khác lại có câu chuyện về “một em học sinh đã tự học và hoàn thành nội dung học tập của trường cấp 2 cấp 3 trong một thời gian ngắn”. Thêm vào đó, những em học sinh xuất hiện trong buổi thuyết trình dường như cũng chững chạc hơn nhiều so với tuổi và đều có những suy nghĩ của riêng mình.

Những “ví dụ thành công” ấy đều rất tuyệt vời, và trong đầu tôi cũng hiểu được “cái tốt” mà chúng nói đến, nhưng nếu hỏi rằng tôi có thực sự tán thành được từ tận đáy lòng hay không, thì lại không hề đơn giản như vậy. “Có thực sự là tất cả mọi đứa trẻ đều sẽ được như vậy không?”. “Có khi nào phía trường chỉ đem những trường hợp thành công ra để giới thiệu chăng?”. “Biết đâu trong số đó lại chẳng có những đứa trẻ thất bại?”. Những nghi vấn như vậy vẫn tiếp tục xuất hiện trong tôi.

Đến bây giờ thì tôi đã nhận ra rằng chính bản thân việc suy nghĩ về “kết quả trong tương lai” ấy là một sự sai lầm. Nhưng tại thời điểm đó, nỗi bất an rằng “cho con vào trường này rồi sẽ ra sao” đã vượt lên trên hết và khiến cho tôi cứ luôn chỉ nghĩ đến những chuyện xa xôi ấy.

Ấy nhưng cũng phải nói rằng, đấy chẳng phải là chuyện đương nhiên đối với những người làm cha làm mẹ hay sao? Đã là cha mẹ thì chuyện yêu thương con là điều hiển nhiên. Học sinh có thành người thế nào đi nữa thì trường học cũng chẳng chịu trách nhiệm, nhưng cha mẹ thì lại phải gánh vác 100% trách nhiệm đối với đứa con của mình.

Trường học và cha mẹ vốn dĩ lập trường đã khác nhau. Trường học chỉ nói chuyện một cách chung chung. Còn cha mẹ thì lại nghĩ về một trường hợp cụ thể là “con mình”. Bởi vậy nên dù phía trường có đem bao nhiêu “ví dụ thành công” ra đi nữa, thì đứng từ phía các bậc cha mẹ việc không thể dễ dàng chấp nhận những điều ấy cũng là chuyện đương nhiên.

Câu hỏi “không học có sao không” vẫn theo đuổi tôi kể cả sau khi con đã bắt đầu đến trường Sudbury. Nó trở thành vấn đề được quan tâm nhiều nhất giữa vợ chồng tôi, và tôi cũng đã không biết bao nhiêu lần bàn bạc với vợ về đề tài này (đôi khi là cả cãi cọ nữa).

Và rồi, phải mãi về sau tôi mới nhận ra rằng, việc vợ chồng chúng tôi hướng về tương lai của con, suy nghĩ và trao đổi một nghiêm túc, thực ra cũng chính là một trong những “giá trị của mô hình giáo dục Sudbury” đối với các bậc phụ huynh.

Nếu giả như con trai tôi đi học một trường công lập hay tư lập nào đó, thì liệu vợ chồng tôi có suy nghĩ về con một cách nghiêm túc đến mức này không? Liệu chúng tôi có trăn trở về tương lai của con hay không? Chính câu hỏi “không học có sao không” bắt nguồn từ sự lạ đời của mô hình giáo dục “không giờ học, không giáo viên” đã khiến cho chúng tôi mở to mắt mà hướng đến đứa con của mình.

Thực tế khi nói chuyện với những phụ huynh khác của trường Sudbury School, tôi phải nhận thấy rằng rất nhiều người trong số họ suy nghĩ hết sức nghiêm túc về con cái mình. Đó có lẽ là vì họ cần phải suy nghĩ sâu sắc về cả những điều mà các bậc cha mẹ có con đi học trường bình thường chẳng bao giờ cần nghĩ tới.

Einstein đã từng nói rằng, “thường thức là tập hợp những thiên kiến mà con người thu thập được cho đến tuổi 18”. Thường thức là thứ cũng có mặt quan trọng đối với xã hội, nhưng cũng có khi nó lại dồn trí não con người ta đến mức tê liệt tư duy. Chính cái sự “phi thường thức” của mô hình giáo dục Sudbury đã giúp cho chúng tôi phá bỏ được gông xích của thường thức mình tự mang lên người, và đẩy chúng tôi ra với tự do của tư tưởng.

Để trăn trở, suy nghĩ, và tự tìm ra câu trả lời của chính mình trong tự do.

Không chỉ đối với học sinh, mà cả đối với các bậc phụ huynh, mô hình giáo dục Sudbury cũng cho chúng ta cơ hội để đối diện với chính mình.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【保護者にとっての価値】

「東京サドベリースクールには、先生いません。授業がありません。生徒たちは一日中、学校で好きなことをやって過ごしています」

入学する前、スクールの説明会に参加すると、保護者はスタッフからこのような話を聞かされます。そして、ここでたいていの親御さんが驚かれます。私と家内も驚きました。「先生も授業もない、こんな学校が世にあるのか!」とびっくり仰天したものです。

そして、驚きの次に頭に浮かんだのが、「子どもが勉強しなくて大丈夫か?」という疑問でした。こんなことは、それまで一度も考えたことがありません。なぜなら、「子どもは学校に行って勉強するもの」と当たり前のように思っていたからです。

サドベリー教育の斬新さというか、先見性というか、あるいは過激さというか、いままでの常識をすべて覆してしまうような教育方針に、まったくもって面食らいました。

そして、ここから親としての苦悩が始まりました。真剣に、切に、自分の子が「勉強しなくていいのか? 本当に大丈夫か?」と考えるようになったのです。

スクールのスタッフは熱心にサドベリースクールの「教育理念」を語ります。ボストンサドベリーを立ち上げたダニエルさんの本にもすばらしいことがいっぱい書いてあります。

たとえば、子どもをどっぷりと「退屈の海」に浸けるという話。

サドベリースクールに入って自由を得た子たちは、はじめは嬉しくてゲームをしたり、遊んだりするのですが、やがて退屈するようになり、自分と向き合うようになるそうです。そして、自分のやりたいことを見つけ、人生の第一歩を踏み出すというのです。

この説明に「なるほど、すばらしい!」と頷く一方で、どこかに「我が子は果たしてそうなるのか?」と疑っている自分がいました。

学校はいろんな事例を挙げて説明してくれます。お料理をするのが好きで、いつもキッチンに立っていた女の子が、卒業後にケーキ屋さんに就職したという話。自分でパソコンをいじりだすうちに、大人顔負けにパソコンに詳しくなった子の話……。そして、別のサドベリースクールのホームページには「自ら勉強し、中学・高校の数学の学習を短期間で終えてしまった子」の話が載っていました。また、説明会に出てくる子たちも年齢の割にしっかりしていて、自分の意見を持っているように見えました。

こういった「成功例」はどれもすばらしく、頭では“良さ”が理解できるのですが、しかし心の底から頷けるかというと、そう簡単にはいきません。「本当にみんなそうなるの?」「学校はうまく行ったケースだけを選んで紹介しているんじゃないの?」「中にはダメになった子もいるのでは?」という疑念が湧いてしまうのです。

今となってはこのように「先の結果」を考えること自体が間違いだということに気づいていますが、しかし、当初は「この学校に子どもを入れてどうなるんだ」という不安が先行し、どうしても先のことばかりを考えてしまいました。

いや、しかし、人の親としてこれは当然のことではないでしょうか。親であれば子が可愛いのは当たり前。学校は子どもがどうなっても責任を負いませんが、親は自分の子に100%責任を負わねばなりません。

学校と親とではそもそも立場が違います。学校はあくまでも一般論でしか物事を語りまませんが、親は「我が子」という個別のケースで物事を考えます。だから、学校がいくら「成功例」を出してきても、親としてそれを鵜呑みにできないのは当然の話です。

この「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけは、子どもがサドベリーに通うようになってからも、しばらく私の中で続きました。この問題は私たち夫婦の間で最大の関心事となり、何度も妻と話し合いました(ときには口論にもなりました)。

そして、これはかなり後になって気づいたことですが、このように夫婦で子どもの将来と向き合い、真剣に話し、考えること自体が、実は保護者にとっての「サドベリー教育の価値」のひとつだったのです。

もし仮に息子が公立の学校に通っていたら、あるいは私立の中学に通っていたら、私たち夫婦はこんなにも真剣に子どものことを考えたでしょうか。彼の将来について悩んだでしょうか。「授業がない、先生がいない」という教育の非常識から生まれた「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけが、私たちの目をグッと見開かせ、子どもの方に向けさせたのです。

実際にサドベリースクールの保護者たちと話してみると、多くの方がとても真剣に子どものことについて考えていることに気づかされます。普通の学校の保護者であれば考える必要のないことにまで、深く考えを及ばせる必要が出てくるからでしょう。

アインシュタインがこんなことを言っています。「常識とは18才までに身に付けた偏見のコレクションのことをいう」と。常識は社会にとって大切な面もありますが、ときとして人間の頭を思考停止に追い込みます。サドベリー教育の「非常識」は、私たちをがんじがらめにしている常識の鎖を裁ち切り、自由な思考の中へと解き放ってくれるのです。

自由の中で、悩み、考え、自分なりの答えを見いだしていく。

生徒だけでなく、保護者にとっても、サドベリー教育は自分と向き合う機会を提供してくれるのです。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Phụ huynh Sudbury: Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Tiếp tục mạch bài viết của một bậc phụ huynh người Nhật có con theo học mô hình giáo dục tự do Sudbury, trong lần này tôi xin được đăng nội dung phần thứ ba trong chuỗi bài này (phần 2 đã đăng, phần 1 xin bỏ qua). Tuy rằng lý luận của người viết dùng để nói lên việc cha mẹ không còn quyền uy với con cái chưa hẳn là đã đủ sự chặt chẽ và tính thuyết phục, nhưng bản thân đề tài cha mẹ có thực sự có quyền uy và quyền hạn đối với con cái hay không vẫn là một đề tài đáng để suy ngẫm.


Bản dịch tiếng Việt

Trong lần trước, ở bài phát biểu thứ hai, tôi đã viết rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ”. Lý do cho điều ấy là vì cha mẹ cũng giống như con cái, đều là những người còn thiếu hiểu biết. Nhưng thực ra tôi nghĩ trong thời đại ngày nay còn có một lý do nữa cho việc cha mẹ và con cái cần phải có mối quan hệ bình đẳng với nhau. Đó là “sự đánh mất quyền uy của cha mẹ”.

Cái từ “đánh mất” viết ra thì nghe có vẻ như một điều gì đó tiêu cực, nhưng thực sự thì cũng không hẳn là như vậy, mà nó chỉ là một phần trong dòng chảy hoàn toàn tự nhiên của thời đại mà thôi. Vấn đề này sẽ hơi có vẻ lý luận cao siêu, nhưng tôi vẫn muốn sắp xếp lại suy nghĩ của mình cho mạch lạc và viết ra ở đây.

Trước hết tôi sẽ nói về bản chất của cái gọi là “quyền uy”. Khi thử tra cứu trong từ điển, thì tôi thấy rằng từ “quyền uy” có hai ý nghĩa. Đó là “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng”, và “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó”. Quả không hổ danh từ điển, nói rất trúng cái cốt lõi.

Hình tượng lý tưởng về “bậc phụ mẫu” thời xưa đúng là có đầy đủ cả hai yếu tố này. Cha mẹ là những người cái gì cũng biết, vừa tài giỏi đáng kính, lại vừa có đôi chút đáng sợ, và phận con cái là nhất mực phải làm theo những lời nói của cha mẹ.

Điểm quan trọng ở đây nằm ở cụm từ “được công nhận rộng rãi”. Đúng vậy, “quyền uy” là thứ chỉ tồn tại khi có được sự công nhận của số đông. Một người có tự một mình tỏ ra oai vệ thì cũng không thể coi là có “quyền uy” được.

Và quả thực trong xã hội Nhật Bản thời xưa đã từng tồn tại một “không khí” chung là công nhận “quyền uy” của cha mẹ. Toàn thể xã hội khi đó đều công nhận rằng cha mẹ là những người “tài giỏi” “đáng kính”, và điều đó làm nên cột chống cho cái “quyền uy” của các bậc cha mẹ. Chính vì thế mà cha mẹ đã từng có thể chi phối, ra lệnh và mắng mỏ con cái.

Ấy thế nhưng, cái “quyền uy” ấy của cha mẹ trong thời đại ngày nay lại đang bị lung lay một cách mạnh mẽ. Lý do rất đơn giản, đó là vì xã hội đã không còn cần thiết phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa.

Tại sao lại không cần phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa? Ấy là vì xã hội đã mất đi “tính kế thừa”. “Tính kế thừa” ở đây là sự tiếp nối và truyền lại những gì có từ xa xưa. Đó là việc tiếp thu văn hóa, phong tục, trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm, kỹ thuật, giá trị quan từ thế hệ trước và lưu truyền lại cho các thế hệ đi sau.

Trong những thời đại mà tính kế thừa vẫn còn được duy trì đầy đủ, thì đối với con cái mà nói cha mẹ là đối tượng cần phải tôn kính. Chẳng hạn chúng ta hãy thử tưởng tượng về một gia đình nông dân ngày trước. Khi đó, trong mắt con cái cha mẹ là người được kính trọng một cách vô điều kiện. Đó là vì cha mẹ là người nắm giữ tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ, tri thức cần thiết cho việc nông gia. Do đó, đối với con cái thì cha mẹ là đối tượng cần phải học hỏi, và do đó là những nhân vật xứng đáng nhận được sự tôn kính.

Nói cách khác, các bậc cha mẹ ngày xưa là những người xứng với mô tả “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó” trong định nghĩa về “quyền uy” của từ điển. Và vì thế “quyền uy” của cha mẹ là điều tất nhiên sẽ được đảm bảo.

Ngược lại, hãy thử nhìn xem xã hội ngày nay thì sao? Liệu đó có phải là một xã hội mà những trí tuệ và kinh nghiệm cổ xưa vẫn còn được truyền lại hay không? Thời đại ngày nay là thời đại mà điện thoại bàn thì biến thành điện thoại di động, điện thoại di động lại biến thành điện thoại thông minh, thư viết tay thì trở thành thư điện tử, rồi thư điện tử lại phát triển thành tin nhắn. Trong một thời đại mà những kỹ thuật mới liên tiếp được sinh ra, cơ chế cũng thay đổi, chế độ cũng thay đổi, các thường thức và giá trị quan cũng không ngừng đảo lộn, thì việc nắm giữ những trí tuệ và kinh nghiệm của môt thời xa xưa có thực sự là thứ đáng được “tôn kính” nữa hay không?

Câu trả lời là “không”. Trong một xã hội đã mất đi “tính kế thừa”, thì con người ta sẽ rất khó có thể duy trì được “quyền uy” chỉ dựa vào tuổi tác. Thời đại ngày nay đã không còn là thời đại mà chỉ cần có kinh nghiệm sống trước đã là “tài giỏi”.

Ở đây tôi tuyệt không có ý nói rằng chúng ta có quyền coi thường cha mẹ hay những người cao tuổi. Tôi chỉ nói rằng việc duy trì “quyền uy” thuần túy bằng tuổi tác là điều khó khăn mà thôi.

Nếu một người đã mất đi quyền uy mà vẫn cứ tỏ ra khệnh khạng thì sẽ như thế nào? Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về một vị lãnh đạo đã bị sa thải.

Giả dụ ở một công ty kia có một vị lãnh đạo rất mực quyền uy và hổ báo. Mỗi khi có việc gì không vừa ý ông ta đều sẵn sàng nổi trận lôi đình, nên cấp dưới ai cũng sợ hãi mà không dám trái lời.

Tại sao lại không dám trái lời? Ấy là vì tổ chức, mà cụ thể ở đây là công ty, đã trao “quyền uy” cho ông ta. Vì vậy mà dù cho những gì ông ta nói ra có đôi chút vô lý, thì cũng không có ai dám phản đối cả.

Tuy nhiên, giả sử rằng vào một ngày đẹp giời vì một lý do nào đó mà vị lãnh đạo kia bị đuổi việc. Khi đó, sẽ chẳng cần bất cứ thứ gì chống đỡ cho “quyền uy”  của ông ta nữa. Vậy thì vị lãnh đạo ấy sẽ trở nên thế nào đây? Liệu ông ta còn có thể lên mặt ra oai với cấp dưới như trước nữa không?

Hiển nhiên là không. Một người một khi đã đánh mất “quyền uy”, thì cũng tức là đã đánh mất cái “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng“. Đây là điểm rất quan trọng khi suy nghĩ về hình tượng cha mẹ lý tưởng trong thời đại ngày nay. Việc các bậc cha mẹ đã mất đi “quyền uy” mà lại cứ muốn ra lệnh và chi phối con cái chẳng khác nào việc một vị lãnh đạo đã bị công ty sa thải mà lại muốn ra lệnh cho những người từng là cấp dưới của mình. Những người như vậy sẽ chẳng có ai buồn nghe theo cả.

Lý do thứ hai khiến tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng” chính là những điều đã viết ở trên.

Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa như đã nói ở trên, thì vai trò của cha mẹ cũng thay đổi rất nhiều so với trước. Việc truyền thụ lại kinh nghiệm và trí tuệ của bản thân cho con cái đã không còn là việc của cha mẹ nữa. Còn việc áp đặt giá trị quan và suy nghĩ của mình lên con thì tôi cho là càng không thể chấp nhận được.

Tất nhiên, cha mẹ là người có kinh nghiệm hơn con cái, nên việc đưa ra lời khuyên là hoàn toàn có thể. Việc chỉ ra điều gì là tốt nhất và luyện tập các thói quen cho con cũng là điều quan trọng. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng kể cả khi đó, dù cho cha mẹ có thể nói với con rằng “con nên làm thế này hơn”, thì cũng không thể ra lệnh cho con rằng “con phải làm cái này đi”. Đó là vì cha mẹ không phải là người nắm quyền chi phối con cái. “Vai trò của cha mẹ” ngày nay đã thay đổi so với trước đây. Việc ý thức được sự biến đổi ấy rất có thể là điều quan trọng nhất đối với các bậc cha mẹ ở thời điểm hiện tại.

Con cái là một thực thể độc lập tách biệt khỏi cha mẹ, và không còn cần phải tiếp nhận kinh nghiệm và tri thức từ cha mẹ để sống như thời xưa nữa. Trong xã hội biến đổi đến chóng mặt như ngày nay, con cái cần phải tự mở ra cuộc đời mình bằng chính sức của bản thân và bước đi trên một con đường khác biệt với cha mẹ.

Và ở thời đại đổi thay nhanh chóng này, tôi cho rằng vai trò của trường học cũng đang có sự biến đổi. Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa, những trường học cố bám lấy các giáo trình cũ kỹ “vững như bàn thạch” để giáo dục học sinh cũng đang dần mất đi “quyền uy” tương tự như các bậc cha mẹ.

Trường học cũng cần phải ý thức được sự đổi thay của thời đại và xã hội.  Đó cũng chính là lý do mà gia đình tôi đã cùng ngồi lại bàn bạc với con và cuối cùng quyết định lựa chọn mô hình “giáo dục Sudbury”.

Trong phần tới, tôi sẽ thử viết ra những “lợi ích đối với các bậc phụ huynh” mà mô hình giáo dục Sudbury mang lại.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

 Nguyên gốc tiếng Nhật

【 親の権威の失墜 】

 前回、2回目の投稿で、私は「親と子の関係は対等であるべきだ」と書きました。それは人間として親も子と同じように未熟者だからという理由でした。しかし、実はもうひとつ、親と子の関係が対等であるべき理由が現代にはあると思うのです。それは「親の権威の失墜」です。

「失墜」などと書くと悪いことのように思えますが、実はそうでもありません。これはごく自然な時代の流れなのです。このことについて、少々理屈っぽくなりますが、頭を整理して書いていきたいと思います。

まず「権威」というものの本質についてです。「権威」を辞書で引くと2つの意味が載っていました。「他を支配し服従させる力」と「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」です。さすがは辞書です。なかなか核心をついていますね。

昔の古い“親像”には、確かにこの2つの要素が備わっていました。親は何でも知っていて、偉くて、尊敬できる存在で、ちょっぴり恐くて、子どもたちは親の言うことに従わねばならないのです。

ここでのポイントは「一般に認められている」ということです。そう、「権威」は一般の人に認められて初めて成立するもの。自分ひとりが偉そうにしていても、それは「権威」にはなりません。

そして、昔の日本の社会には、確かに親の「権威」を認める“空気”がありました。親は「偉い」「尊敬できる」ということを社会全体で認め、親の「権威」を支えていたのです。だから親は子どもを支配し、命令し、叱ることができたのです。

ところが、この親の「権威」が、現代においては大きく揺らいでいます。理由は簡単で、社会に親の「権威」を認める必要がなくなったからです。

なぜ、親の「権威」を認める必要がなくなったか。それは社会が「伝承性」を失ったからです。「伝承性」とは古くからあるものを受け継ぎ、継承していくこと。文化、風習、知恵、知識、経験、技術、価値観などを受け継ぎ、後生に伝えていくことです。

伝承性が十分に保たれていた時代には、親は子にとって尊敬すべき対象でした。たとえばひと昔前の農家を想像してみましょう。この場合、親は子にとって無条件で尊敬される存在でした。なぜなら、農業にとっての大切な経験、知恵、知識を全て親が有していたからです。子にとって親は学ぶべき対象であり、尊敬に値する人物でした。

つまり当時の親は、辞書の「権威」の項目にある「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」に値する人物だったのです。ですから必然的に親の「権威」は保たれていたのです。

ひるがえって、今の社会はどうでしょう。古くからある知恵や経験が伝承される社会でしょうか。電話が携帯に変わり、携帯がスマホに変わり、手紙がメールになり、メールがSNSに発展していく時代。次々と新しい技術が生まれ、仕組みが変わり、制度が変わり、常識や価値観が覆っていく社会において、昔の知恵や経験を有していることが、果たして「尊敬」の対象になるのでしょうか。

答えは「ノー」です。「伝承性」を失った社会では、年長者というだけでは「権威」を保つことは難しい。もはや先に生きているだけで「偉い」という時代ではないのです。

私は決して親や年長者をないがしろにしていいと言っているのではありません。伝承性が失われた社会では、年上というだけで「権威」を保つことは難しいと言っているのです。

権威を失った人間がいつまでも偉そうにしているとどうなるか。たとえば会社を解雇された上司のことを考えてみましょう。

非常に権威的で、威圧的な上司が会社にいたとします。彼は気に入らないことがあるとすぐに怒り、雷を落とすので、部下は恐くて逆らうことができません。

なぜ逆らえないのか。それは会社という組織が彼に「権威」を与えていたからです。だから、彼が少々理不尽なことを言っても、誰も逆らえなかったのです。

ところが、何らかの理由でこの上司が解雇されたとします。もはや彼の「権威」を支えるものはどこにもありません。この上司はどうなるでしょうか。以前のように部下の前で偉そうにできるでしょうか。

もちろんできません。「権威」を失った人間は、辞書にあった「他を支配し服従させる力」を失うからです。これは現代の“親像”を考える上で重要なポイントだと思います。「権威」を失った親が子どもに命令し、支配しようとするのは、会社を解雇された上司がかつての部下に命令することに似ています。誰もそんな人の言うことは聞いてくれません。

「親と子の関係は対等であるべきだ」と私が考えるようになったふたつ目の理由は、上記のようなことにあります。

このように伝承性を失った社会において、親の役割は、かつての親の役割と大きく変わってきています。自分の経験や知恵を子どもに授けることは、もはや親の役割ではありません。ましてや自分の価値観や思いを子に押しつけるなど、言語道断だと思います。

もちろん、親は子より経験を積んでいるので、アドバイスをすることは可能でしょう。善悪の基準を教え、躾けることも大切です。でも、こうした場合でも「こうするといいよ」とは言えても、「こうしなさい」とは言えないと思います。親は子どもの支配者ではないからです。昔と今とでは「親の役割」が変わってきている。この変化に気づくことが、いま、親として最も大切なことなのかもしれません。

子どもは親から独立した別の存在であり、昔のように、親の経験や知識を受け継いで生きていくものではありません。めまぐるしく変化する社会において、子どもは自分の人生を、自分の力で切り開き、親とは別の道を歩んでいかねばならないのです。

そして、このように急速に変化する現代にあっては、学校の役割もまた変わってきていると思います。伝承性が失われた社会において、旧態依然としたカリキュラムで子どもを教育しようとする学校は、親と同じように「権威」を失いつつあります。

学校もまた時代の変化、社会の変化に気づくべきなのです。私の家族が子どもと一緒になって考え、最終的に「サドベリー教育」を選んだ理由はここにあります。

次回はサドベリー教育がもたらす「保護者にとっての価値」について考えてみたいと思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Chuyện học Tin của tôi

Tôi thích dùng máy tính từ nhỏ, nếu như việc “chơi game trên máy tính” cũng được xếp là “dùng máy tính”. Khi còn bé, nhà không có máy tính, tôi rất thích được đến nhà các bác để được chơi ké trên máy tính của anh chị họ. Đến khi StarCraft bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam một thời gian thì nhà tôi mới mua cái máy tính đầu tiên. Ban đầu đối với tôi máy tính chỉ là đồ chơi, nhưng đến khi vào cấp 2, tôi bắt đầu biết đến và học lập trình Pascal. Cho đến khi vào cấp 3, tôi đã thuộc vào loại “giỏi trên trung bình” trong lớp về khoản lập trình, dẫn đến việc tréo ngoe là dù đỗ và học lớp chuyên Toán nhưng tôi lại đi học đội tuyển Tin để thi học sinh giỏi (dù chẳng được giải gì), trong khi đó điểm Toán thì luôn bét lớp. Và đến thời điểm hiện tại, sau 5 năm làm kỹ sư hệ thống thông tin tại Nhật, có thể nói trong nhiều mặt máy tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi.

Nói đến học lập trình Pascal, tôi còn nhớ rằng cấp 2 có một thời gian tôi học thêm Pascal dưới trướng anh họ cùng với một hai người bạn cùng lớp. Họ là những người rất giỏi Toán ở trên lớp, và cái sự giỏi đó lan sang của việc lập trình. Những lúc anh tôi giải thích một thuật toán hay kiến thức lập trình nào đó, trong khi tôi còn đang ù ù cạc cạc thì các bạn ấy đã có thể nhanh chóng nắm bắt được, và điều đó nhiều khi khiến cho tôi không khỏi nản chí. Có những thứ tôi không hiểu nhưng không hỏi, hay thậm chí nói dối rằng mình đã hiểu, phần vì sợ bị lộ là dốt, phần vì không muốn làm mất thời gian của anh và các bạn.

Điều đó tiếp diễn cho đến khi tôi bắt đầu được học một thầy một trò. Khi đó, cái sự dốt của tôi không còn chỗ nào để mà giấu, mà cũng chẳng còn ai để mà phải giấu nữa, và tôi cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Từ đó tôi rút ra rằng: trong một số trường hợp, việc trộn lẫn cùng lúc các học sinh có năng lực và tốc độ tiếp thu khác nhau sẽ vô tình tạo nên một hiệu ứng tâm lý đè bẹp và đẩy những học sinh yếu kém hơn “ra ngoài vòng”, mặc dù bản thân các em có thể không phải không có tiềm năng. Chúng ta hay nói với các em rằng “đừng sợ dốt/đừng giấu dốt”, nhưng chúng ta đâu có phải đứng vào vị trí các em để mà hứng chịu áp lực tinh thần từ bên ngoài lẫn bên trong, cả có thực lẫn tưởng tượng? Những lời nói như vậy chẳng khác nào một ông tướng ngồi trong lô cốt an toàn vừa đẩy binh lính ra trước làn đạn vừa hô hào “đừng sợ chết”. Cái chúng ta nên làm là để ý quan sát tâm lý cá nhân từng em, và tạo nên môi trường để mỗi em có thể cảm thấy yên tâm mà phát triển theo nhịp độ và thang bậc của riêng mình, dù có thể nó không vừa ý chúng ta, bởi một cái cây lớn chậm không có nghĩa là nó không thể lớn lên thật cao trong tương lai.

Một điều đáng nói nữa về việc học máy tính của tôi, đó là tôi chỉ bắt đầu thực sự làm chủ máy tính khi được có một cái máy của riêng mình. Trong suốt mấy năm đầu, một chiếc máy tính vừa là công cụ để mẹ tôi soạn bài giảng lên lớp, vừa là đồ chơi và công cụ học của tôi và thằng em trai. Máy hỏng đồng nghĩa với mẹ tôi không thể làm việc được. Điều này dẫn đến việc tôi không dám tò mò nghịch dại, mà thường phải đưa ra cửa hàng máy tính mỗi khi có vấn đề. Và kết quả là sau mấy năm dùng máy tính tôi vẫn hầu như mù tịt không biết gì ngoài trò chơi điện tử và Pascal. Tuy nhiên, một khi tôi đã có máy riêng, thì tình hình hoàn toàn khác hẳn. Tôi có thể tự mình ngồi mày mò thử nghiệm, tự format ổ rồi tự cài được Windows, dù không hề được bất cứ ai dạy cả. Sở dĩ tôi dám làm, là vì tôi biết rằng máy có hỏng thì cũng sẽ không gây ra vấn đề gì mà tôi không thể hay không dám nhận trách nhiệm, tức là tôi cảm thấy “an toàn” để có thể mày mò khám phá.

Từ những điều trên, có thể thấy rằng việc tạo môi trường an toàn cho việc khám phá, thử nghiệm cũng như thất bại là một tiền đề quan trọng của việc học, hay ít ra là tự học. Sự an toàn mà tôi nói đến ở đây không phải chỉ là an toàn thân thể, tuy rằng cái đó cũng rất quan trọng, mà là an toàn về mặt tinh thần. Đó là việc được che chở khỏi những áp lực, đe dọa, sợ hãi, và nói chung là bất cứ yếu tố tâm lý tiêu cực nào có thể ngăn cản việc học hỏi. Đáng tiếc rằng những yếu tố tâm lý tiêu cực này lại xuất hiện rất nhiều trong môi trường học đường ngày nay, mà đại diện tiêu biểu nhất là việc đánh giá học sinh bằng điểm số và hạnh kiểm, cũng như sự cai quản bằng quyền lực từ phía nhà trường và giáo viên.

Quay trở lại chuyện học Tin, có thể nói rằng hầu hết các thành tựu mà tôi đạt được trên con đường học và sử dụng Tin học đều gắn liền với việc tự mày mò. Trong đó phải kể đến việc những năm đầu cấp 3 tôi đã tự mình lập trình trò chơi bằng Pascal. Sự việc bắt đầu khi anh họ tôi giao cho tôi đề bài “viết trò dò mìn”. Khi đó tôi đã hăm hở viết một chương trình mô phỏng lại trò dò mìn của Windows bằng đồ họa dòng lệnh và các ký tự ASCII. Tuy rằng sản phẩm của tôi bị gạt đi vì cái anh tôi muốn tôi làm lại là một thuật toán để giải trò dò mìn, nhưng niềm hứng thú với việc tự mình viết nên một trò chơi, dù là viết lại ý tưởng có sẵn, thì đã được nhen nhóm. Từ đó, chỉ bằng một cuốn sách Pascal cơ bản có giải thích qua về thư viện đồ họa và một bài báo PC World, tôi đã viết lại ba trò chơi Line, Minesweeper (dò mìn) và Tetris (xếp hình) mà không cần sự chỉ dẫn thêm của bất cứ ai.

Đến tận bây giờ, sau khi đã trải qua hơn 15 năm lập trình, với đủ các chương trình phần mềm lớn nhỏ, từ những đề bài được giao trên lớp cho đến hệ thống cho hàng trăm người dùng của công ty, ba trò chơi bằng Pascal đó vẫn là một trong những thành tựu mà tôi tự hào nhất. Sau khi hoàn thành, tôi đã chơi đi chơi lại những trò chơi ấy đến cả tháng liền, mặc dù bản thân chúng không có gì mới mẻ hay đặc sắc hơn so với các phiên bản có sẵn trong máy hay băng điện tử. Thậm chí lúc đi phỏng vấn tuyển dụng ở hai công ty Nhật, trong đó một công ty tôi đang làm hiện nay, và một công ty khác chuyên về lập trình phần mềm, khi được hỏi về kinh nghiệm hay thành quả chuyên môn đã có trong quá khứ, thứ hiện ra trong đầu tôi trước tiên vẫn là ba trò chơi kia, và tôi đã không do dự gì mà trình bày một cách hết sức sôi nổi và tự hào về việc một đứa nhóc cấp 3 đã lập trình ra mấy trò ghẻ như thế nào (và kết quả là tôi đã đỗ cả hai nơi).

Tất nhiên, những trò chơi ấy rất đơn giản, và thậm chí có phần trẻ con. Nhưng điểm quan trọng ở đây là không hề có ai yêu cầu tôi viết ra chúng, và hoàn toàn cũng chẳng có ai đốc thúc và chỉ bảo tôi trong quá trình làm cả. Do vậy, có thể nói một cách hơi khoa trương rằng chúng là hiện thân của ý chí tự do và năng lực tự xoay sở của cá nhân tôi. Tôi biết chắc chắn rằng thành tựu ấy là do tự tay mình làm ra, và hoàn toàn có thể lặp lại lần nữa, chứ không phải là một thành tựu do vận may, càng chẳng phải là do một ai đó khác chỉ thị hay làm hộ. Nói cách khác, đó là một sự tự hào đối với chính mình, chứ không phải về những thứ mơ hồ xa xôi ngoài tầm tay như truyền thống dân tộc, chiến công cha anh, hay thành tựu của những bạn A bạn B nào ở tận Âu tận Mỹ.

Niềm tự hào đó có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên sự tự tin và đôi khi là táo bạo (táo tợn?) trong nhân cách của tôi ngày nay. Nó cũng là thứ mà tôi nghĩ rằng nhiều trẻ em hiện nay cần nhưng lại đang thiếu trong quá trình trưởng thành của mình. Phần đông các em đến trường vì bố mẹ bảo thế. Phần đông các em học hành vì muốn làm vui lòng bố mẹ thầy cô, hay nói toẹt ra là vì sợ điểm xấu. Những điều các em làm trên lớp đều đã được lên kế hoạch và quyết định từ trước bởi người lớn. Nội dung của những điều đó nhiều khi là rất vô nghĩa nhìn từ quan điểm của các em. Và những chuyện như bị trừ điểm chỉ vì làm bài “không đúng ý thầy/cô”, dù cho kết quả cuối cùng vẫn đúng hoặc không thể dễ dàng phán định đúng sai một cách khách quan, là chuyện vẫn còn phổ biến.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu có được bao nhiêu em sẽ cảm thấy thực sự tự hào về những thành tích học tập của bản thân, như tôi đã tự hào về ba trò chơi của mình? Có ai lại tự hào về một việc mình bị bắt buộc phải làm, hay bản thân không hiểu rõ ý nghĩa, hay bị buộc phải làm theo tiêu chuẩn của người khác cho đến từng chi tiết nhỏ nhặt mà không được một chút tự do nào? Nếu như trẻ em không có được một khoảng không tự do đủ lớn, cả về vật chất lẫn tinh thần, để có được những thành tựu do bản thân tự nhận trách nhiệm và tự mày mò thực hiện theo cách của mình, thì các em lấy đâu ra sự tự hào về chính mình để mà có tự tin trong cuộc sống? Nếu như các em không có chỗ nào khác để thể hiện nhân cách tự do của bản thân, thì việc các em đem “cái tôi” ấy thể hiện ra ở những hành vi mà chúng ta vẫn hay chụp mũ là “sự nổi loạn của tuổi dậy thì” cũng đâu có gì là khó hiểu?

Tất nhiên, nếu như nhân cách của một đứa trẻ đủ mạnh mẽ, thì dù trong hoàn cảnh bó buộc thiếu tự do hay phải chịu áp lực và đe dọa, em đó vẫn có thể mạnh dạn học hỏi, đồng thời tự nhận trách nhiệm về cuộc đời mình, qua đó có được tự do về tư tưởng, để từ đấy tìm thấy được những khoảnh khắc tự hào cho bản thân. Thế nhưng đó là chuyện của những đứa trẻ, không phải chuyện của người lớn chúng ta. Với tư cách là những người có nghĩa vụ nuôi nấng và giáo dục các em, thì chúng ta nên tự mình suy nghĩ tìm cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự trưởng thành của các em, hay là chỉ đơn thuần trông đợi nhân cách còn non yếu của các em có thể làm được một việc mà đến nhiều người lớn vẫn còn chưa làm được?

Phụ huynh Sudbury: Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bài viết lần này không phải do tôi viết ra, mà là một bài phát biểu của một người cha Nhật Bản mà tôi tình cờ đọc được. Con của ông được cho đi học tại trường Tokyo Sudbury School, một ngôi trường phỏng theo mô hình của trường Sudbury Valley School ở Mỹ. Mô hình Sudbury là mô hình trường học mà trong đó không có sự phân vai giữa “giáo viên” và “học sinh”, cũng như không tồn tại khái niệm “thời khóa biểu” hay “giảng dạy”. Thay vào đó, học sinh được toàn quyền tự do quyết định hoạt động của bản thân, cũng như việc điều hành cả ngôi trường theo nguyên tắc biểu quyết số đông. Việc tiếp xúc với một mô hình giáo dục mới mẻ như vậy đã khiến cho người cha này suy nghĩ nhiều hơn về các bậc cha mẹ và việc giáo dục con cái của họ. Tôi xin được dịch bài viết ra và giới thiệu ở đây để mọi người tham khảo.


Bản dịch tiếng Việt

“Cha mẹ là gì?”. Đó là câu hỏi chưa từng rời khỏi trí óc của tôi kể từ khi con trai bắt đầu đi học tại Tokyo Sudbury School. Nhờ được gặp gỡ với ngôi trường đặc biệt không có giáo viên mà cũng không có giờ học này, mà tôi mới có dịp đối mặt với vấn đề mang tính căn bản “giáo dục là gì”, và từ đó suy nghĩ đến câu hỏi “cha mẹ là gì”.

Đúng thế, tôi nghĩ rằng câu hỏi “giáo dục là gì” có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi “cha mẹ là gì”. Bởi vì cha mẹ là những người có nghĩa vụ cung cấp giáo dục cho con cái.

Thế nhưng thành thực phải nói rằng tôi không hiểu rõ về cái khái niệm “cha mẹ” đó. Lý do là vì khác với khi lựa chọn trường học hay công việc, việc làm cha của tôi bây giờ không phải là kết quả của một sự quyết tâm nào cả. Tôi không tự nói với mình rằng “ok, làm cha thôi” để rồi tự mình đưa ra quyết định làm cha. Nói một cách thành thực, thì cảm tưởng của tôi là kết hôn xong, vợ có thai, đẻ con ra, và đùng một cái, chẳng hiểu từ bao giờ tôi đã thành cha rồi.

Người ta hay nói “con cái là món quà trời ban tặng”. Cái từ “ban tặng” đó thật vi diệu, vì rõ ràng việc sinh đẻ là một sự kiện lớn lao mà chúng ta không thể dễ dàng đi tới thành công được chỉ bằng sức của bản thân mình. Và như ý nghĩa mà từ “ban tặng” đó ngầm thể hiện, việc sinh con ra và trở thành cha mẹ luôn có một cái gì đó mang tính thụ động.

Tuy nhiên, chỉ cần thử nghĩ qua thì chúng ta có thể thấy việc trở thành cha mẹ cũng đồng nghĩa với việc khoác lên mình một trách nhiệm trọng đại. Có thể nó không đến mức như việc mẫu thân Mạnh Tử ba lần đổi nhà, nhưng ảnh hưởng của cha mẹ lên con cái, trong đó bao gồm cả môi trường gia đình, là rất lớn đến mức không gì có thể đo đếm được. Đó là vì cha mẹ có vai trò trực tiếp và sâu sắc đối với thời thơ ấu, thời kỳ rất quan trọng hình thành nên nhân cách và thậm chí là có thể thay đổi cả cuộc đời của con, tức là thay đổi cuộc đời của cả một con người.

Từng lời nói và hành động của cha mẹ, từng cái giơ tay từng cái bước chân, đều có thể quyết định đến nhân cách của con cái. Một lời nói vu vơ cũng có thể tạo nên nỗi ám ảnh cả đời cho con. Thế nhưng thật xấu hổ khi phải nói rằng, tôi đã không hề chuẩn bị sẵn quyết tâm gánh vác trách nhiệm trọng đại đó trước khi trở thành cha. Đối với tôi, quả thực là bỗng một ngày chợt nhận ra thì đã thấy mình làm cha rồi.

Cơ mà chẳng phải hầu hết các bậc cha mẹ trên thế gian này đều đại khái giống như tôi sao? Hầu như tôi chưa từng nghe thấy có trường hợp nào quyết chí làm cha mẹ, dành ra hàng năm trời nghiên cứu “cha mẹ học”, chuẩn bị chu đáo tuyệt vời rồi mới làm cha mẹ thật cả.

Thực tế là hầu hết mọi người, ít nhất là đối với đứa con đầu tiên, đều trở thành cha mẹ khi chưa hề có tí kinh nghiệm nuôi con nào. Và như vậy thì chẳng phải có thể nói rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều là gà mờ trong việc nuôi con” hay sao? Nghĩ đến đây, tôi lại không khỏi phải thêm một lần nữa giật mình trước khoảng cách quá xa giữa “gánh nặng trách nhiệm” và “sự thiếu thốn quyết tâm” của các bậc cha mẹ, tất nhiên trong đó bao gồm cả chính tôi.

Mười mấy năm trời từ khi con trai tôi sinh ra cho đến nay, tôi đã làm cha trong tình trạng “lái xe không bằng cấp”. Tôi đã làm cha một cách “đại khái”, chẳng hề được ai dạy, cũng chẳng hề học hành một cách nghiêm túc, mà chỉ nhìn ngó bắt chước xung quanh.

Tôi đã từng có lần xẵng giọng “làm cái gì thế!” khi con làm đổ nước khỏi cốc, trong khi bản thân chỉ buông một lời xin lỗi gọn lỏn cho qua chuyện khi chính mình làm đổ. Tôi cũng đã từng có lần suýt giơ tay lên đánh con theo phản xạ khi con sờ vào đồ trưng bày trong cửa hàng, trong khi bản thân biết rằng con chỉ đưa tay sờ vì một sự tò mò thuần túy.

Mỗi khi mắng con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có lý do chính đáng để mà mắng mỏ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn thuần mắng mỏ dựa trên tâm trạng hay cảm xúc của bản thân. Mỗi khi dạy con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có tri thức chuyên môn để mà dạy dỗ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn giản lợi dụng sự thiếu hiểu biết của con cái và lên mặt dạy dỗ bằng kinh nghiệm sống lâu hơn đôi chút của bản thân.

Khi suy nghĩ về “giáo dục” sau khi con trai bắt đầu đến trường Sudbury, một câu hỏi khác lại hiện ra trong trí não của tôi: “Gượm đã, đừng nói tới giáo dục vội, mà nghĩ xem bản thân mình giờ đang thế nào?”. Liệu rằng tôi có đủ tư cách làm cha để mà khệnh khạng đưa ra những lời dạy dỗ con cái hay không? Khi nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy chiếc mặt nạ “bậc phụ mẫu” rơi ra, làm lộ nguyên hình hài một con người non kém của bản thân mình. Câu hỏi “cha mẹ là gì”, không gì khác, cũng chính là câu hỏi “bản thân mình là ai”.

Từ đó, nhận thức của tôi đã được thay đổi. Giờ đây tôi tin rằng giữa cha mẹ và con cái không phải là một mối “quan hệ trên dưới”, mà là “quan hệ giữa những con người ngang hàng”. Tất nhiên, trẻ con thiếu hiểu biết, nhưng người lớn cũng chẳng hiểu biết nhiều hơn bao nhiêu. Nếu đã cùng là những người còn thiếu hiểu biết, thì chẳng phải cha mẹ và con cái nên nói chuyện với nhau một cách bình đẳng hay sao? Đúng vậy, “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Đó chính là điều thay đổi lớn xuất hiện trong tôi sau khi con trai đến trường Sudbury.

Tuy nhiên, đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Thực ra vẫn còn một lý do nữa cho việc tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Lý do đó, tôi sẽ để cho lần phát biểu sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【すべての親は子育ての素人だ】

「親とは何か?」息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、 私の頭からはこの問いがずっと離れなくなりました。先生も授業もないという特殊な学校 との出会いによって、「教育とは何か」という根本的な問題に直面し、そこから「親とは何 か」について考えるようになったのです。

そう、「教育とは何か」という問いは、「親とは何か」という問いとつながっているように 思います。なぜなら親は子に教育を授ける義務を負うからです。

ところが困ったことに、その“親”というものが私にはよく分からない。学校や仕事を選択 したときと違って、自ら決意して親になったわけではないからです。「よし、親になるぞ」と 決心して親になったわけではない。結婚して、妻が妊娠し、出産を経て、いつのまにか、 なんとなく、気がついたら親になっていたというのが正直な感想です。

よく「子どもは神様からの授かり物」といいますね。「授かる」とはよくいったもので、出 産は自分たちの力だけではいかんともしがたい運命的なイベント。この“授かる”という言 葉に象徴されるように、子が生まれて親になるのには、どこか受動的なイメージがつき まといます。

とはいえ、考えてみれば、親になるということはたいへん重大な責任を背負うこと。 孟母三遷の教えではないけれど、家庭環境を含めて、親が子に与える影響は計り知れ ないほど大きいのです。子どもという一個の人間の、一生を左右してしまうかもしれない 人格形成の大事な時期に、親は深く関わることになります。

親の行動や言動の一つひとつ、一挙手一投足が、子の人格を左右する。何気なく 言った一言が、一生その子のトラウマになることだってあるかもしれません。ところが 困ったことに、そのような重大な責任を背負う覚悟をもって自分は親になったわけでは ない。なんとなく気がついたら、親になってしまっていたというのが実感です。

でも、世間の大方の親御さんも、だいたい私と同じではないでしょうか。「親になるぞ」 と決意して、何年間も「親学」を学び、完璧に準備をしてから親になったという話はあまり 聞きません。

そもそもほとんどの人が、少なくとも長男長女の場合は、育児未経験のままで親にな るわけで、そういう意味で「すべての親は子育ての素人だ」といえるのではないでしょう か。親が負う「責任の重大さ」と「自覚の足りなさ」、このギャップの大きさには(自戒の 念を込めて)あらためて驚かされます。

息子が生まれて十数年、ここまで私は“無免許運転”のまま親をやってきました。誰 から教わったわけでもなく、真剣に学んだわけでもなく、見よう見まねで“なんとなく” “テキトー”に、親をやってきたのです。

子どもがコップの水をこぼしたとき「何やってんだ!」と声を荒げたことがありました。 自分がこぼしたときには「ごめん」の一語で済ませるくせに。子どもが店の商品に触った ときには、思わず手をあげそうになったこともあります。子どもが純粋な好奇心から手を 伸ばしたことを知っていたのに。

子を叱るとき、親は必ずしも正統な理由があって叱るわけではありません。単なる気分、 感情で言葉を発するときもあります。子に何かを教えるとき、必ずしも専門的な知識が あって教えるわけではありません。子が知らないことをいいことに、ちょっとだけ長く生き た自分が偉そうに言っているだけのこともあります。

息子がサドベリーに通うようになって「教育」のことを考えたとき、待てよ、教育について 考える前に「自分はどうなんだ?」という問いが頭に浮かびました。親として偉そうなこと を言う資格が自分にあるのかと。そう考えたとき、親の仮面がはがれ落ち、未熟な自分 の姿がそこに見えてきたのです。「親とは何か」という問いかけは、まさに「自分とは何か」 という問いかけに他なりません。

それで私の意識は変わりました。親子は「上下の関係」ではなく、人間として「横並びの 関係」であるべきだと思うようになったのです。子はもちろん未熟ですが、親もまた未熟 です。未熟者同士、親と子は対等に語り合える関係であるべきではないのかと。そう、 「親と子は対等の関係であるべきだ」。これが、子どもが東京サドベリースクールに通う ようになって私に現れた、大きな変化のひとつです。

でも、これだけではありません。実はもうひとつ、「親子の関係が対等であるべき」と 考える理由があるのです。それについては次回、またこの場をお借りして話したいと 思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Chủ quan và khách quan

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết chịu ảnh hưởng từ cuốn sách “Zen and The Art of Motorcycle Maintenance: An Inquiry into Values” của Robert M. Pirsig, “Philosophy of Science: A Very Short Introduction” của Samir Okasha, và “Beyond Good and Evil” của Friedrich Nietzsche.

1. Chủ quan và khách quan

“Chủ” (主) hay còn đọc là “chúa”, ngoài nghĩa thường thấy là làm chủ, đứng đầu, nắm quyền (lãnh chúa, địa chủ, chủ nhiệm), còn có thể được dùng để thể hiện hàm ý “tự mình” hay “bên trong” (chủ trương, chủ động). Ngược lại, “khách” (客) ngoài các nghĩa thông thường như người mua, người đến chơi nhà, người làm công việc gì đó (khách hàng, khách sạn, chính khách), cũng có thể được dùng với nghĩa rộng hơn chỉ những yếu tố “không phải tự mình” hay “bên ngoài” (đất khách, sân khách). Nói cách khác, “chủ” và “khách” có thể được dùng để nói về hai phía “trong” và “ngoài” của một ranh giới nào đó. Với “quan” (観) có nghĩa là nhìn (quan sát, thế giới quan), chúng ta có thể hiểu “chủ quan” là “góc nhìn từ bên trong”, và “khách quan” là “góc nhìn từ bên ngoài”, mà ở đây “nhìn” là một sự nhận thức, quan sát hoặc đánh giá, và “trong ngoài” là đối với ranh giữa thế giới ý thức con người (trong) và thế giới vật chất xung quanh (ngoài).

Tại sao lại cần phải phân biệt giữa “chủ quan” và “khách quan”? Đó là vì mọi sự nhận thức, quan sát hay đánh giá về mọi sự vật sự việc đều có tính tương đối, tức chỉ có ý nghĩa khi so sánh với một hệ quy chiếu nào đó làm tiêu chuẩn. Khi chúng ta “nhìn” một sự vật sự việc “từ bên trong”, thì bản thân chúng ta cũng là một phần của hệ quy chiếu. Hệ quy chiếu bản thân đó bao gồm rất nhiều yếu tố, và có thể được chia ra một số phân loại chính là giác quan, cảm xúc, tri thức, giá trị quan, suy nghĩ logic và suy nghĩ trực giác. Một người ăn một chiếc bánh ngọt sẽ chỉ thấy “ngọt” nếu như vị giác (giác quan) của người đó cảm nhận vị bánh là ngọt, và sẽ chỉ thấy cái bánh “ngon” nếu như vị ngọt đó phù hợp với khẩu vị (nhân cách) của bản thân. Hai con người khác nhau, với cơ thể, nhân cách và năng lực tư duy khác nhau, sẽ có thể có cách “nhìn” rất khác nhau về cùng một sự vật sự việc, hay rộng là cùng một thế giới xung quanh.

Từ đó, một người có thể đặt ra câu hỏi rằng cái chúng ta “nhìn” thấy có thực sự tồn tại hay không, và có tồn tại đúng như những gì chúng ta đang “nhìn” thấy hay không? Hay là phải chăng, khi đi qua màng lọc của hệ quy chiếu cá nhân của người quan sát, thì sự vật sự việc đã bị biến tướng đi, trở nên khác đi so với chính nó khi chưa được quan sát, giống như một người mù màu nhìn thế giới? Mặt khác, nếu như mỗi người quan sát thế giới lại cho ra những kết quả có thể khác nhau, tức là cho ra những “sự thật” có thể khác nhau, thì làm sao chúng ta có thể có được một tiêu chuẩn chung, một mặt bằng chung để giao tiếp với nhau? Câu trả lời hợp lý nhất, dĩ nhiên, là chúng ta cần tìm hiểu xem thế giới xung quanh chúng ta thực sự sẽ thế nào khi được quan sát không bằng “mắt người”, mà bằng một con mắt khác độc lập với tất cả mọi con người, một con mắt “khách quan”.

Và có lẽ từ những suy diễn đại loại như trên, mà ngày nay chúng ta có khái niệm “khách quan” được định nghĩa trong từ điển là 1. chỉ cái gì đó tồn tại ngoài ý thức con người, 2. chỉ thái độ nhận xét sự vật căn cứ vào sự thực bên ngoài (theo Wikitionary), hay 3. chỉ một tình trạng hay tính chất đúng đắn mà không cần tới hay không phụ thuộc vào những thiên kiến, diễn giải, cảm xúc hay tưởng tượng của chủ thể, tức là người quan sát và đánh giá (theo Wikipedia). Ngược lại, “chủ quan” được hiểu là ngược lại với “khách quan”, tức là chỉ tính chất phụ thuộc vào ý thức của con người, vào hệ quy chiếu của người quan sát và đánh giá. Hiểu theo một cách khác, một đánh giá hay lập luận mang tính “khách quan” sẽ phản ánh chính xác sự vật sự việc như nó vốn thế, và tuân theo các quy luật của thế giới tự nhiên chứ không phải của con người.

2. Tính khả dĩ của khách quan

Với định nghĩa như vậy, thì con người chúng ta liệu có thể đạt đến được một sự “khách quan” đúng nghĩa hay không? Câu trả lời ngắn gọn là “không thể và không bao giờ”. Như đã đề cập ở trên, để nhận thức được về thế giới xung quanh, con người buộc phải trải qua quá trình bắt đầu từ việc dùng giác quan hoặc cảm xúc để quan sát và tiếp nhận dữ liệu (hình ảnh, âm thanh, cảm giác,…), sau đó dùng tri thức hoặc nhân cách làm cơ sở tham chiếu, cùng với suy nghĩ logic hoặc trực giác làm công cụ, để xử lý dữ liệu thành thông tin (xác định sự vật sự việc và thuộc tính), và cuối cùng là có thể đi đến một kết luận nào đó (đánh giá hoặc quyết định). Quá trình đó gắn bó mật thiết và không thể tách rời khỏi hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát. Do vậy, một sự nhận thức hay đánh giá “khách quan” tuyệt đối, theo nghĩa hoàn toàn không phụ thuộc vào bất cứ một yếu tố con người nào, về căn bản là điều không thể đạt đến được, ít nhất là trong hoàn cảnh hiện tại.

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là hiện thực khách quan không hề tồn tại. Từ những trải nghiệm hàng ngày trong quá khứ và hiện tại, chúng ta dễ dàng có đủ căn cứ để tin tưởng vào sự tồn tại của một hiện thực khách quan chung cho toàn bộ nhân loại, tồn tại độc lập với ý thức của con người. Tuy nhiên, chúng ta không có cách nào quan sát và nhận thức được hiện thực ấy mà không phải đi qua “màng lọc” chủ quan ở một khâu nào đó. Mọi nhận thức và hiểu biết về sự tồn tại của một hiện thực khách quan, cũng như các nội dung và thuộc tính của nó, sẽ luôn hoặc là kết quả của niềm tin, hoặc là kết luận của một phép suy luận quy nạp, và do vậy không thể được đảm bảo là đúng đắn hoàn toàn. Mà kể cả nếu chúng ta có thể đưa ra được một phép suy luận diễn dịch để chứng minh cho tính khách quan của hiện thực đi nữa, thì chẳng phải bản thân suy luận diễn dịch cũng là một phần của ý thức con người, tức cũng là một yếu tố chủ quan hay sao?

Chúng ta hãy thử lấy một vài ví dụ thực tế khác. Nếu có ai đó nói rằng tháp Eiffel rất cao, thì tức là người đó đã dựa vào một tiêu chuẩn “cao” chủ quan. Một người khổng lồ cỡ đỉnh Himalaya sẽ không thấy vậy. Nếu người đó nói tháp Eiffel cao 324m, thì tức là người đó đã dựa vào một niềm tin chủ quan về độ chính xác của thông tin đến từ người khác. Nhỡ đâu thông tin mà người đó đọc được là sai thực tế thì sao? Còn nếu người đó tự mình đo đạc hay tính toán ra độ cao của tháp, thì tức là người đó đã dựa vào các yếu tố chủ quan là phương pháp đo đạc và những gì mình quan sát được bằng mắt. Nhỡ đâu phương pháp của người đó sai, hay người đó nhìn nhầm thì sao? Nhỡ đâu thế giới mà chúng ta đang nhìn thấy chỉ là một ảo giác khổng lồ, giống như thế giới được tạo ra bởi một chương trình máy tính giả lập như trong bộ phim Ma trận thì sao?

Lý luận tương tự cũng có thể được dùng để đặt nghi vấn đối với phần lớn tri thức khoa học của con người. Thực tế là các thành quả nghiên cứu khoa học đều là kết quả của suy luận quy nạp, cụ thể là dựa trên một số lượng hữu hạn các thí nghiệm thành công. Dù cho số lượng thí nghiệm có lên đến hàng nghìn hàng vạn đi nữa, thì điều đó vẫn không thay đổi được việc chúng ta không thể loại bỏ được hoàn toàn các khả năng trái ngược, và do đó không thể đi đến được một khẳng định chắc chắn 100% theo tiêu chuẩn của logic, chứ chưa nói đến theo quy luật khách quan của tự nhiên. Tất nhiên, trong thực tế chúng ta vẫn chấp nhận các kết quả khoa học, vì việc chứng minh chúng theo nghĩa nghiêm ngặt nhất của từ “chứng minh” là cực kỳ tốn kém và có lẽ là bất khả thi, vì các kết quả khoa học vẫn đang phục vụ tốt cho lợi ích của chúng ta, và vì chúng ta thấy các phương pháp khoa học là đủ tin tưởng. Nhưng chẳng phải bản thân sự chấp nhận đó cũng là chủ quan hay sao?

3. Khách quan một cách tương đối

Nếu như một sự “khách quan tuyệt đối” là không thể đạt đến được, vậy thì “khách quan” mà chúng ta vẫn thường nhắc đến trong cuộc sống hàng ngày là gì? Câu trả lời hiển nhiên là: đó là một sự “khách quan tương đối”. Tương đối với cái gì? Tương đối với những yếu tố chủ quan còn lại. Hay nói đúng hơn, sự khách quan mà chúng ta vẫn thường nói đến về bản chất vẫn chỉ là sự chủ quan, nhưng trong một hệ quy chiếu chủ quan nhất định nào đó thì nó có vẻ, và do đó có thể được đánh giá là khách quan. Như đã nói trong bài viết về tính tương đối, mọi đánh giá, suy luận, quyết định của con người đều dựa trên một số tiền đề nhất định nào đó. Các tiền đề này có thể được chia làm hai loại: 1. được diễn đạt rõ ràng, hoặc 2. được ẩn chứa ngầm. Một mệnh đề có thể trở nên khách quan một cách tương đối, nếu như toàn bộ các tiền đề của nó, dù có ý thức được hay không, đều đã được diễn đạt kèm theo một cách rõ ràng, hoặc được chấp nhận một cách mặc định trong hệ quy chiếu chủ quan dùng để đánh giá. Số lượng tiền đề ẩn được sử dụng nhưng không được mặc nhiên chấp nhận càng nhiều, thì tính khách quan của phát biểu được đánh giá càng thấp và ngược lại.

Các đánh giá, suy luận hay quyết định có tiền đề kèm theo thường có dạng P(hát biểu) = “nếu T(iền đề) thì K(ết luận)”, trong đó T là tiền đề của K. Khi được viết theo cách như trên, P mang ý nghĩa khẳng định “trong mọi trường hợp có thể có mà T đúng thì K cũng sẽ đúng”, tức là phạm vi khẳng định đã được thu hẹp đi so với việc khẳng định K đúng tuyệt đối. Khi đó, việc cá nhân người đánh giá có chấp nhận T hay không trên lý thuyết không ảnh hưởng tới giá trị chân lý của K bên trong P nữa, vì trong hệ quy chiếu giả định của P đặt ra thì T luôn luôn đúng. Người đánh giá có thể vừa chấp nhận rằng K đúng với điều kiện T, vừa không chấp nhận T đúng và gián tiếp qua đó không chấp nhận K đúng, mà không hề tự mâu thuẫn. Như vậy, có thể nói rằng khi được phát biểu dưới dạng P thì tính đúng đắn của K đã bớt đi được sự phụ thuộc vào kết quả đánh giá chủ quan của T, và do đó K đã trở nên khách quan hơn so với khi không có tiền đề phát biểu đi kèm.

Dĩ nhiên, không phải mọi tiền đề được diễn đạt đều có dạng “nếu thì”. Một ví dụ là các phát biểu dạng “tôi nghĩ”, “tôi thấy”, trong đó tiền đề được nói đến là toàn bộ hệ quy chiếu cá nhân của người phát biểu. Những phát biểu như vậy có thể được hiểu là “nếu như chúng ta chấp nhận những điều tôi nghĩ là đúng, thì …”, và do đó tương tự như trên, chúng mang tính khách quan hơn so với việc đơn thuần khẳng định kết luận cuối cùng. Một cách diễn đạt tiền đề khác thường thấy trong khoa học là việc nêu ra đầy đủ các phương pháp đã được sử dụng trong một nghiên cứu khoa học, cũng như những hạn chế về tính khách quan có thể có trong những phương pháp đó và ở chính những người làm nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là những kết luận của nghiên cứu khoa học đó chỉ được khẳng định là đúng với điều kiện các phương pháp đã sử dụng được chấp nhận và những hạn chế đã nêu ra được bỏ qua.

Bên cạnh những tiền đề được diễn đạt rõ, những tiền đề dạng ẩn cũng có thể tồn tại ở khắp mọi nơi và trong từng phát biểu. Ví dụ như trong hai đoạn văn trên thì logic được sử dụng là một tiền đề ẩn: một người có logic khác với tôi có thể sẽ không thấy kết luận “K trở nên khách quan hơn khi được phát biểu dưới dạng P” là khách quan. Trong thực tế, các tiền đề được diễn đạt rõ, nếu có, cũng chỉ là phần ngọn của tảng băng chìm. Các tiền đề ẩn mới là phần chính yếu làm nên nền tảng cho mọi đánh giá, suy luận và quyết định của con người, cả bằng lý trí lẫn trực giác. Một ví dụ kinh điển là tiền đề ẩn rằng những gì chúng ta đang cảm nhận thấy bằng các giác quan là thực sự thuộc về hiện thực khách quan. Một ví dụ khác là suy nghĩ rằng khi di chuyển để tiến về phía trước thì phải đạp về phía sau, một tiền đề mà chúng ta chỉ có thể ý thức được khi lần đầu tiên đi trượt patin hay đứng trên băng trơn.

Phần lớn các tiền đề được mặc định ngầm là những tư tưởng và niềm tin đã ăn sâu vào trong ý thức của chúng ta, thậm chí là ở mức độ tiềm thức, có nghĩa là bản thân chúng ta cũng không ý thức được mình đang sử dụng những tiền đề đó. Mà một khi đã không được ý thức, thì đối với chúng ta những tiền đề đó là không tồn tại. Do đó, những phát biểu dựa trên những tiền đề ấy trong mắt chúng ta sẽ dường như không phụ thuộc vào hệ quy chiếu chủ quan của bản thân, tức là trở nên “khách quan”. Số lượng những tiền đề ăn sâu như vậy ở một con người càng nhiều và mức độ ăn sâu càng cao thì phạm vi tư duy của người đó càng bị thu hẹp, tức là người đó càng khó nghĩ đến những khả năng và kết luận đi ngược lại những tiền đề mặc định của mình. Nhưng mặt khác, người đó lại rất có thể sẽ có sự tự tin mãnh liệt hơn vào những tư tưởng và niềm tin của bản thân, vì những điều đó không phải là thứ họ đã chủ động lựa chọn một cách có ý thức, mà là những điều “hiển nhiên” của một “hiện thực khách quan” trong mắt của riêng họ.

4. Để khách quan trong cuộc sống

Trước khi đi vào việc làm thế nào để trở nên khách quan hơn, chúng ta cần nghĩ về việc tại sao chúng ta lại nên/cần/phải khách quan hơn. Trước hết, một phát biểu khách quan sẽ dễ được chấp nhận hơn một phát biểu chủ quan, vì số lượng tiền đề ẩn mà người nghe buộc phải chấp nhận một cách có ý thức để có thể chấp nhận được phát biểu đó sẽ ít hơn. Do vậy, sự khách quan là một thành tố của năng lực thuyết phục, một năng lực quan trọng trong cuộc sống xã hội. Ngoài ra, cho dù rằng một sự khách quan tuyệt đối là điều không thể đạt đến được, nhưng việc luôn luôn hướng tới sự khách quan trong cuộc sống sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn tới việc tìm ra và tuân theo các quy luật khách quan của thế giới tự nhiên, từ đó có thể đem lại lợi ích cho bản thân chúng ta trong nhiều mặt, mà kho tàng tri thức khoa học ngày nay là một ví dụ.

Quay trở lại đầu đề, trong thực tế cuộc sống, khi một người cảm thấy lời một người khác nói là “khách quan”, thì rất có thể đơn giản là lời nói đó dựa trên những tiền đề ẩn mà cả hai người đều cùng mặc định chấp nhận. Hay nói cách khác, trong trường hợp đó người nghe có hệ quy chiếu cá nhân tương tự với người nói trong phạm vi vấn đề được nói đến. Nói rộng ra, trong một cộng đồng người nhất định, sự khách quan về bản chất là sự phục tùng theo hệ quy chiếu chủ quan chung của cộng đồng đó. Điều này có thể thấy ở bất cứ cộng đồng nào, nhưng có lẽ dễ thấy nhất là cộng đồng những người làm khoa học. Đa số các nhà khoa học hiện nay có những quy ước chung để đánh giá một phát biểu khoa học có phản ánh đúng hiện thực khách quan hay không, ví dụ như các bằng chứng có thể quan sát và kiểm chứng được bằng giác quan (empirical evidence). Ngược lại, khi chúng ta cảm thấy lời nói của ai đó là chủ quan, điều đó thường có nghĩa là chúng ta đã phát hiện ra một tiền đề ẩn nào đó của đối phương mà không được hệ quy chiếu cá nhân của chúng ta chấp nhận một cách mặc định, dù chúng ta có ý thức được điều đó hay không.

Như vậy, nếu như chúng ta muốn lời nói của bản thân trở nên khách quan hơn trong mắt người khác, chúng ta cần làm hai điều: 1. xác định phạm vi tương đồng của hệ quy chiếu chủ quan giữa chúng ta và người nghe, và 2. diễn đạt rõ ràng những tiền đề nằm ngoài phạm vi tương đồng nói trên. Nếu lấy ví dụ trong toán học, thì có thể ví tập tất cả các tiền đề chúng ta cần sử dụng cho một lời phát biểu là một số tự nhiên X, còn hệ quy chiếu cá nhân của người nghe là số tự nhiên Y. Khi đó bước 1 là việc tìm ra một ước số chung U giữa X và Y, còn bước 2 là nhân U với một số nguyên R để có được X, trong đó R đại diện cho tập con các tiền đề cần phải được diễn đạt rõ ràng trong số các tiền đề được sử dụng. Dĩ nhiên, U càng lớn thì R sẽ càng nhỏ, tương đương với việc số lượng tiền đề và lập luận kết nối mà chúng ta cần phải trình bày để đi đến kết luận cuối cùng mà vẫn giữ được tính khách quan trong mắt người nghe sẽ càng nhỏ.

Đến đây thì chúng ta có thể thấy được lý do chính của việc vì sao các kết luận được đưa ra bởi khoa học lại thường được xem là có tính khách quan cao. Đó là vì khoa học dựa trên một số lượng tương đối ít các tiền đề ẩn ở một mức độ tương đối thấp trong hệ quy chiếu cá nhân của con người. Con người có thể có những suy nghĩ bậc cao rất phong phú và khác biệt, nhưng tuyệt đại đa số đều sở hữu chung một số bản năng và tiềm thức giống nhau, có nguồn gốc từ việc cùng chung giống loài cũng như việc sinh sống trong cùng một môi trường. Cụ thể, đó là năng lực của các giác quan cũng như niềm tin vào sự chân thực của chúng, niềm tin vào một thế giới ổn định vận hành theo những quy luật bất biến, cũng như những khái niệm và cảm giác về số lượng, logic, nhân quả,… Chúng ta có thể tranh cãi về chuyện món ăn nào ngon hơn, nhưng sẽ không mấy người tranh cãi việc một thiết bị đo đạc hiển thị con số bao nhiêu, hay 1 cộng 1 có bằng 2 hay không. Điều này, cùng với các phương pháp khoa học được thiết lập và diễn đạt rõ ràng, đem lại tính khách quan cao cho khoa học trong mắt đại đa số người.

Tương tự như đối với khoa học, để có thể đi đến được một kết luận khách quan đối với người nghe, chúng ta cần hạn chế các tiền đề ẩn của bản thân ở một mức độ có thể đạt được sự mặc nhận lớn nhất. Chúng ta có thể sử dụng những hệ quy chiếu chủ quan như truyền thống, văn hóa, đạo đức. Nhưng một kết luận dựa trên những tiền đề mang tính phổ quát hơn và rõ ràng hơn của nhân loại ngày nay như quyền tự do cá nhân hay sự trao đổi công bằng thường sẽ được chấp nhận một cách dễ dàng và rộng rãi hơn. Lượng hóa sự đánh giá cũng là một phương pháp để đạt được sự khách quan: “ánh sáng có bước sóng trong khoảng 620–740mm” sẽ khách quan hơn “màu đỏ”, vì nó không còn phụ thuộc vào cảm giác chủ quan về màu sắc của người nói. Trong việc dạy con, một sự phân tích các hệ quả của từng sự lựa chọn sẽ có tính khách quan hơn, và do đó dễ được chấp nhận hơn, một sự cấm đoán hay bắt ép đơn thuần, vì nó không phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của cha mẹ về việc cái gì là điều con cái nên/cần/phải làm. Tất nhiên, việc giải thích càng rõ ràng càng tốt các tiền đề, cũng như sử dụng những suy luận có tính logic là điều không thể thiếu.

Một điều kiện tiên quyết để thực hiện được những điều nói trên là bản thân chúng ta cũng phải có khả năng nhận thức được những tiền đề ẩn chứa trong từng lời nói của bản thân, cũng như sự khác biệt trong hệ quy chiếu chủ quan giữa bản thân và những người xung quanh. Nếu không, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng tưởng rằng những gì mình nói là điều hiển nhiên và khách quan, trong khi nhìn từ những người xung quanh đó lại là những ý kiến mang nặng tính chủ quan, thiên kiến và hẹp hòi. Một sự vật sự việc chỉ có thể được nhận thức, nếu như tồn tại một sự vật sự việc khác biệt với nó để làm đối tượng so sánh. Do đó, để có thể nhận thức được chính mình, không có cách nào khác là chúng ta cần quan sát và tiếp xúc với nhiều hệ quy chiếu chủ quan khác biệt với bản thân. Điều này có thể được thực hiện bằng cách tự đặt bản thân trong vào môi trường mới lạ, với những con người mang văn hóa, truyền thống và phong tục khác biệt với chúng ta.

Nói theo một cách khác, nếu như chúng ta ở trong một môi trường mà tất cả mọi người xung quanh đều có chung những ý kiến, tiêu chuẩn, tư tưởng, thói quen giống nhau, thì những điều đó rất có thể sẽ trở thành những “sự thật khách quan” hiển nhiên mà chúng ta không có cách nào nhận thức được sự tồn tại của chúng. Và tất nhiên, chúng ta cũng sẽ không thể nhận ra được điều gì nếu như khi tiếp xúc với những hệ quy chiếu khác biệt, chúng ta lại mặc định coi chúng là “xấu xa”, “trái đạo đức/tự nhiên” và “cần phải loại bỏ” chỉ vì chúng khác biệt, thay vì nghĩ rằng chúng có thể là một sự thay thế tương đương cho những gì mà mình vẫn coi là điều hiển nhiên. Như vậy, sự đa dạng trong tư tưởng và văn hóa, cũng như việc chấp nhận tính đa dạng đó, bên cạnh việc là nguồn gốc cho sự sáng tạo, còn là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự khách quan của mỗi con người.


Khách quan là chỉ tính chất của một sự vật sự việc không phụ thuộc vào hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát và đánh giá. Tuy một sự khách quan tuyệt đối trong lời nói và tư tưởng là không thể đạt đến, nhưng một sự khách quan tương đối có thể đạt được nếu các tiền đề được sử dụng đều được mặc định chấp nhận hoặc được trình bày rõ ràng. Và tuy rằng nó giúp chúng ta nâng cao khả năng thuyết phục người khác và truy tìm chân lý, nhưng khách quan không phải một thứ tự thân nó “tốt đẹp” hay “tích cực”. Sự khách quan chỉ tốt đẹp trong chừng mực nó có ích cho chúng ta. Xét cho cùng, con người sống là vì mình, và để làm được điều đó thì tất cả mọi sự đánh giá, quyết định, hành động của chúng ta cuối cùng vẫn phải dựa trên hệ quy chiếu chủ quan của bản thân ở một mức độ nào đó. Việc nhận thức được và xây dựng nên một sự hiểu biết hoàn thiện và rõ ràng về hệ quy chiếu chủ quan của chính mình, hay cũng chính là nhân cách tự thân, để trong mỗi tình huống có thể đưa ra được những đánh giá và quyết định chủ quan có lợi cho bản thân dựa trên những thông tin “khách quan” là một điều rất quan trọng. Và điều đó cũng sẽ dẫn tới một sự khách quan hơn trong thế giới quan của mỗi người.