Bàn về cái sự khiêm tốn

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trước đây, có lần khi đang xem chương trình trò chơi truyền hình, người dẫn chương trình đã nói đùa một câu đại ý rằng “khiêm tốn là không cần thiết”. Câu nói đó đã khiến tôi khi đó khá khó chịu, vì cảm thấy rằng dường như người đó không hiểu ý nghĩa thực sự của từ “khiêm tốn”. Bây giờ nghĩ lại, suy nghĩ đó của tôi cũng không được khiêm tốn cho lắm. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta nên có một sự hiểu biết sâu xa và có ngọn ngành hơn về sự khiêm tốn. Trong bài này tôi sẽ viết qua về những suy nghĩ của mình đối với khái niệm này.


1. Khiêm tốn là gì

Chữ “khiêm” (謙) thể hiện thái độ nhũn nhặn, kính trọng người khác, tự cho mình là kém cỏi. Chữ “tốn” (遜) thể hiện sự nhường lại, thua kém, cũng là nhũn nhặn. Sự khiêm tốn có thể được tóm gọn lại là việc không coi bản thân là cao hơn so với người khác. Một cách giải thích khác là sự khiêm tốn là việc “biết thân biết phận”, tức là ý thức được vị trí và tầm vóc thực sự của bản thân trong một bối cảnh nhất định, thường là trong một cộng đồng con người, mà cũng có thể là trước một sức mạnh thiên nhiên nào đó.

Sự khiêm tốn tồn tại ở hai mức: sự khiêm tốn bên ngoài và sự khiêm tốn bên trong. Sự khiêm tốn bên ngoài là cách xử sự làm sao để người xung quanh đánh giá chúng ta là “khiêm tốn”, hay ít nhất không cho rằng chúng ta là “thiếu khiêm tốn”. Điều này nhằm mục đích xây dựng quan hệ tốt và sống hòa đồng với xung quanh. Sự khiêm tốn bên trong, trái lại, không quan tâm đến sự đánh giá của xung quanh. Sự khiêm tốn ở bên trong bền vững hơn, thống nhất hơn, và có ảnh hưởng lớn hơn sự khiêm tốn ở bên ngoài. Sự khiêm tốn bên ngoài không nói lên sự khiêm tốn bên trong. Ngược lại một người có vẻ như không khiêm tốn bên ngoài, không có nghĩa là người đó không có sự khiêm tốn bên trong.

Sự khiêm tốn bên trong không phải là một đức tính trời cho theo kiểu “tự nhiên nó thế”, cũng không phải là một giá trị “đạo đức” hay “truyền thống” đến từ bên ngoài. Khi chúng ta dành nhiều thời gian để nhìn nhận và suy ngẫm một cách khách quan, thì sự khiêm tốn là một kết luận hoàn toàn hợp lý, một điều gì đó rất tự nhiên, rất dễ hiểu, dễ chấp nhận, đến từ bên trong chúng ta. Sự khiêm tốn là một kết quả tất yếu, một “sản phẩm phụ” của quá trình trưởng thành của tư tưởng cá nhân. Dưới đây là một số trong số rất nhiều điều tôi cảm thấy góp phần tạo nên sự khiêm tốn.

2. Sự thật không chỉ có một

Sự thật có thể được chia làm hai loại: “sự thật chủ quan” và “sự thật khách quan”. “Sự thật khách quan” là cái tồn tại trong tự nhiên như đúng bản chất của nó. “Sự thật chủ quan” là một sự quan sát một góc độ nào đó của “sự thật khách quan” qua một “lăng kính” của cá nhân người quan sát. Lăng kính đó có thể là cơ thể người quan sát, nhưng cũng có thể là ngôn ngữ, là suy nghĩ, là văn hóa, là kinh nghiệm trong quá khứ,…

Sự thật khách quan là một thứ chúng ta có thể biết là có tồn tại, nhưng không thể quan sát được, vì mọi sự quan sát đều là chủ quan. Trong mắt chúng ta, sự thật chủ quan của bản thân luôn luôn có vẻ “đúng” nhất, vì đó là tất cả những gì chúng ta có thể tự mình quan sát được. Nhưng như thế không có nghĩa là sự thật của người khác không “đúng”, vì sự thật của họ và của chúng ta đều là sự quan sát không hoàn hảo của sự thật khách quan. Ai cũng “đúng”, ai cũng thấy “sự thật”, không ai “sai” cả.

Nếu bạn thấy điều này quá “triết học”, quá “vô cùng”, thì hãy thử nghĩ xem: người mù màu nhìn thế giới như thế nào? Một người mù màu đỏ-xanh, dù có được chúng ta thuyết phục đến đâu, mô tả đến đâu, cũng không thể thấy được đỏ và xanh là hai màu khác nhau. Chúng ta cũng không thể biết được thế giới qua mắt họ có những màu như thế nào, mà chỉ có thể mô phỏng qua lời kể và suy đoán. Và hãy thử nghĩ xem: bạn có chắc rằng màu đỏ mà bạn nhìn thấy giống với màu đỏ mà người khác nhìn thấy? Bạn lấy gì đảm bảo rằng bạn và một người khác cùng chỉ vào một màu, cùng gọi đó là màu đỏ, nhưng người kia không nhìn thấy cái mà bạn vẫn cho là màu xanh? Bạn có mô tả được một cách tuyệt đối “đỏ” là màu thế nào không? Bạn có chắc là bạn không mù màu không?

Hẳn mọi người vẫn còn nhớ câu chuyện “cái váy xanh đen hay vàng trắng”. Đến một chuyện đơn giản như vậy mà chúng ta còn cãi nhau, vậy thì đối với những vấn đề phức tạp hơn, rộng lớn hơn, ai dám đảm bảo rằng chỉ có sự thật của mình là “đúng”? Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ sự thật của mình, mà chúng ta nên ý thức được rằng chúng ta không có độc quyền đối với sự thật. Mỗi người đều sở hữu một sự thật, và không ai ngoài bản thân người đó biết rõ hơn về sự thật đó. Nói cách khác, chúng ta không “biết nhiều hơn” ai một cách tuyệt đối cả, vì chúng ta không thể biết rõ về sự thật của bất kỳ ai hơn bản thân người đó.

3. Mỗi con người đều đáng quý

Trong một cộng đồng con người, từ gia đình, làng xã, công ty, cho đến xã hội, mỗi cá nhân đều có một vị trí nhất định. Vị trí đó đến từ nhiều yếu tố như gốc gác, năng lực bẩm sinh, nỗ lực bản thân,… và có thể hợp ý hoặc không hợp ý cá nhân đó. Nhưng một điểm chắc chắn là ai cũng có vị trí của mình, có vai trò của mình, và có thể đóng góp cho cộng đồng ở một mặt nào đó với một mức độ nào đó. Đồng thời, tất cả mọi người đều tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Hạnh phúc đó có thể ích kỷ, có thể vô tư, có thể đến từ việc đem lại hạnh phúc cho người khác. Nhưng một điểm chắc chắn là ai cũng muốn mình hạnh phúc, bất kể là thánh nhân hay kẻ gây tội ác. Nếu nhìn ở góc độ đó, thì tất cả mọi người đều bình đẳng, tất cả mọi người đều như nhau, không ai “cao quý” hơn ai cả.

Trong công ty, tôi là người làm công việc trí óc, và có người khác làm lao công quét dọn công ty. Tôi là một người lười lĩnh việc chân tay và ghét sự đơn điệu, nên nếu tôi phải ngày ngày quét dọn văn phòng, kỳ cọ nhà vệ sinh, và lặp đi lặp lại việc đó hàng tuần hàng tháng, thì tôi sẽ cảm thấy khổ sở hơn ngồi bàn giấy vò đầu bứt tai. Tôi không làm được và tôi không muốn làm công việc của một người lao công. Nhưng công việc dọn dẹp là việc cần phải làm, không có người lao công làm thì tôi sẽ phải làm (và khi mới vào tôi đã phải làm thật). Nói cách khác, người lao công đang làm thay tôi một việc tôi không làm được và không muốn làm. Vậy chẳng phải người lao công đó đáng nhận được sự trân trọng, hay ít ra là tôn trọng từ tôi hay sao? Chẳng phải người lao công đó “giỏi hơn” tôi trong lĩnh vực của người đó hay sao?

Đó là chưa kể, tất cả mọi người đều có thể thay đổi. Tất cả mọi người đều có thể có tố chất để trở thành người “tốt” hơn. Trên báo chí không thiếu gì tin tức về những người cựu tội phạm đã hoàn lương và trở thành người có ích cho xã hội, thậm chí là thành đạt trong kinh doanh. Và hơn thế nữa, khả năng đánh giá con người của mỗi chúng ta đều không đáng tin cậy. Trong số bạn học cũ của tôi, có những người mà thời đi học tôi đã ngạo mạn cho là người “hư hỏng”, hoặc là người “chẳng làm được việc”, mà đến nay họ đều có gia đình êm ấm, sự nghiệp thành đạt, thậm chí rất rất thành đạt. Chúng ta có nên vì những gì một người đang thể hiện ở hiện tại, mà đánh giá thấp giá trị con người của người đó hay không?

4. Thành công là do may mắn

Bạn có nghĩ rằng những thành công mà bản thân đã, đang, và sẽ đạt được là nhờ phần lớn, nếu không phải toàn bộ, vào nỗ lực của bản thân? Hầu hết chúng ta đều có một niềm tin vô căn cứ rằng chúng ta nắm trong tay vận mệnh của bản thân. Chúng ta tin, hay muốn tin, rằng chỉ cần có nỗ lực, năng lực, phương pháp, suy nghĩ đúng đắn thì chúng ta sẽ có thể xoay chuyển được vận mệnh của mình. Nhưng hiện thực lại không phải như vậy: vận may đóng một vai trò rất lớn, mang tính quyết định, đến sự thành công của mọi việc chúng ta làm.

Chúng ta hãy thử nghĩ xem: Steve Jobs có thể có được thành công to lớn như đã có hay không, nếu năm 15 tuổi ông bị xe cán chết? Nếu ví dụ đó quá cực đoan, vậy thì chúng ta hãy thử nghĩ xem: liệu chúng ta có thể có được những thành tựu mình đang có hay không nếu như chúng ta được sinh ra trong một hoàn cảnh khác, sống dưới một mái nhà khác, tiếp xúc với những tư tưởng khác, gặp gỡ những con người khác? Không thiếu gì những ví dụ về các doanh nhân rất thành đạt, tưởng chừng như đã nắm trong tay chìa khóa thành công, mà chỉ một bước đi thiếu may mắn đã thành tán gia bại sản. Khi nhìn lại quá khứ, chúng ta có thể phân tích kết luận này kia, nhưng trước khi bắt tay vào làm thì ai có thể dám chắc mình sẽ thành công?

Ở đây tôi không có ý đánh giá thấp yếu tố cá nhân. Nếu không có nỗ lực, năng lực, phương pháp, suy nghĩ đúng đắn thì kể cả khi vận may đến chúng ta cũng không thể nắm bắt được, hay không thể phát huy hết được. Nhưng rõ ràng yếu tố cá nhân không thể quyết định được thành công, vì bên cạnh những cá nhân ưu tú thành công là cả một đống cá nhân ưu tú không kém nhưng đã thất bại. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây không phải là chúng ta không nên cố gắng hay cứ phó thác cho vận may, mà là chúng ta không nên lầm tưởng rằng chúng ta “tự mình thành công”, hay chúng ta “biết cách thành công”. Điều chúng ta làm được, và biết làm, chỉ là cố gắng hết sức chuẩn bị thật tốt để đón nhận vận may (hay vận rủi) của mình mà thôi.

5. Lợi ích của sự khiêm tốn

Có thể có người sẽ đặt câu hỏi: thế khiêm tốn để làm gì? Sự khiêm tốn bên ngoài sẽ chỉ có tác dụng khiến cho mọi người xung quanh khen chúng ta là “khiêm tốn”. Nhưng sự khiêm tốn bên trong có vai trò rất quan trọng đối với hạnh phúc, thành công và sự trưởng thành của bản thân chúng ta. Nếu không có sự khiêm tốn, chúng ta sẽ dễ dàng tự đánh giá quá cao bản thân, tự cho mình là đúng, và do đó sẽ rất khó tiếp thu kiến thức và tư tưởng mới, nhất là từ những người mà chúng ta không “phục”. Khi gặp ý kiến trái chiều, chúng ta sẽ không nghĩ đến việc tìm hiểu ngọn ngành lý do của ý kiến đó, mà sẽ có xu hướng phủ nhận hoặc gạt bỏ ngay ý kiến đó đi. Điều đó sẽ không có lợi cho việc đạt được một cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về mọi điều trong cuộc sống.

Sự thiếu khiêm tốn cũng sẽ khiến chúng ta có xu hướng giải quyết mọi việc bằng đối đầu thay vì đối thoại. Kể cả khi đối thoại, chúng ta cũng sẽ không để ý đến lời nói và lợi ích của phía bên kia, dẫn đến thế bế tắc, đối lập, hoặc chỉ đạt được kết quả thấp hơn mức có thể đạt được bằng việc hợp tác. Thế gian không nhiều “người xấu” và “kẻ địch” như chúng ta vẫn hay nghĩ. Mỗi người đều hành động vì lợi ích của bản thân, chứ không phải chỉ để triệt hạ người khác. Chỉ cần chúng ta có thái độ khiêm tốn hơn, tôn trọng đối phương hơn, biết lắng nghe hơn, thì rất có thể chúng ta sẽ có thể tìm ra được cách tháo ngòi xung đột, hay tìm ra một giải pháp giúp cả hai bên đều có được lợi ích mong muốn.


Sự khiêm tốn là một trong những dấu hiệu của một nhân cách phát triển. Có lẽ vì vậy mà chúng ta thường đánh giá cao sự khiêm tốn ở người khác. Tuy nhiên, sự khiêm tốn ở bên trong, như đã nói ở trên, không phải là những hành vi bề ngoài, cũng không phải một đức tính riêng lẻ, mà chỉ là một trong những kết quả của việc tu dưỡng bản thân. Vì vậy, chúng ta không nên chạy theo sự khiêm tốn, mà nên tập trung vào việc sống có ý thức và suy ngẫm sâu xa về mọi việc. Khi đó tự khắc sự khiêm tốn sẽ đến với chúng ta một cách rất tự nhiên và hợp lý.