Bàn về “đạo đức”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết có sử dụng thuyết sáu bậc phát triển đạo đức của Lawrence Kohlberg.

Chúng ta thường đánh giá rất cao một thứ gọi là “đạo đức”. Chúng ta ca ngợi những người chúng ta cho là có “đạo đức”, ca ngợi việc rèn luyện “đạo đức”, đồng thời miệt thị những người chúng ta cho là không có “đạo đức”. Chúng ta hay làm như thể trên thế gian này tồn tại một thứ “đạo đức” quy định sẵn rõ ràng như sách giáo khoa, và ai ai cũng nên/cần/phải “học tập” kỹ năng đó vậy. Cá nhân tôi không nghĩ như vậy, và trong bài viết này tôi sẽ nói về suy nghĩ của bản thân mình về khái niệm “đạo đức”.


1. Đạo đức là gì

Chữ “đạo” (道) nghĩa là “con đường”, chỉ những quy luật khách quan chi phối sự vận hành của mọi vật trong vũ trụ. Chữ “đức” (德) thể hiện năng lực nắm bắt và vận dụng những quy luật khách quan đó. Nói một cách đơn giản, “đạo đức” là năng lực hiểu và làm theo quy luật khách quan của vũ trụ. Người có “đạo đức”, đơn giản là người biết được vũ trụ, hẹp hơn là xã hội và con người vận hành ra sao, theo những quy luật nào, từ đó biết cách ăn ở, sinh sống cho phù hợp với những quy luật đó.

Nói là như vậy, nhưng như tôi đã nói ở một bài viết trước, chúng ta không ai có thể biết được sự thật khách quan, vì mọi sự quan sát đều là chủ quan. Do đó, thế nào là “quy luật khách quan của vũ trụ” thì mỗi người lại có thể có một cách hiểu khác nhau. Như tôi vẫn luôn nói, mọi thứ đều có tính tương đối, và “đạo đức” cũng không ngoại lệ. Chưa nói đến giữa chúng ta với nhau, mà cả những bậc thánh hiền như Jesus, Đức Phật hay Khổng Tử cũng đều có cái nhìn khác nhau về khái niệm “đạo đức”. Bởi vậy, nếu có một ai đó khẳng định rằng mình biết thế nào là “đạo đức tuyệt đối” mà tất cả mọi người đều phải tuân theo, thì tức là người đó đã tự đặt bản thân cao ngang hàng hay hơn cả các bậc thánh hiền, và cá nhân tôi nghĩ là người đó nên tự xem lại mình.

Khác với “đạo đức tuyệt đối”, “đạo đức tương đối” tồn tại dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh và cách nhìn của những người mang đạo đức đó: đạo đức của Phật giáo, đạo đức của Thiên Chúa giáo, đạo đức của Nho giáo, đạo đức của đàn ông và đạo đức của đàn bà, đạo đức của tư sản và đạo đức của cộng sản, đạo đức của anh và đạo đức của tôi,… Mỗi đạo đức tương đối đều chỉ có giá trị trong những phạm vi nhất định. “Đạo đức” mà mỗi người chúng ta thường nói đến chỉ là một hoặc một vài trong số vô vàn những đạo đức tương đối này mà thôi.

2. Đạo đức cộng đồng

Đạo đức mà chúng ta thường dễ dàng thấy nhất có lẽ là đạo đức của cộng đồng mà chúng ta sinh sống. Cộng đồng đó có thể nhỏ hẹp ở mức gia đình, họ hàng, làng xã, mà cũng có thể rộng lớn như cả một xã hội hay toàn thế giới. Đạo đức của cộng đồng thường có mục đích là nhằm duy trì trật tự trong cộng đồng, đảm bảo tất cả các thành viên cộng đồng có thể chung sống hòa bình với nhau. Đạo đức cộng đồng đôi khi cũng có mục đích nhằm giúp cho các thành viên cộng đồng đạt đến một mục đích chung nào đó, ví dụ như đạo đức của các tôn giáo có tổ chức. Người có “đạo đức” trong một cộng đồng, do vậy, là người biết cách sống một cách hòa hợp, không gây xung đột hay làm đảo lộn trật tự của cộng đồng đó.

Vì có mục đích như vậy, nên đạo đức cộng đồng thường được ghi chép lại dưới dạng văn bản hoặc truyền miệng như những bài học, thậm chí đôi khi còn được đưa thành luật lệ trong cộng đồng. Do nhu cầu về khả năng diễn đạt và sự thống nhất giữa các thành viên, nên đạo đức cộng đồng thường được đúc kết thành các giá trị đạo đức với tên gọi cụ thể, như sự khiêm tốn, lòng nhân ái, tính trung thực,… “Đạo đức” của một thành viên trong cộng đồng sẽ được đánh giá dựa trên một khung các giá trị đạo đức phổ biến trong cộng đồng đó, giống như giáo viên chấm điểm học sinh theo thang điểm vậy. Những thành viên “đạo đức yếu kém” thường sẽ phải chịu sự cô lập, chỉ trích, khinh miệt của các thành viên khác, hay thậm chí là bị loại bỏ khỏi cộng đồng.

Đạo đức cộng đồng có một vấn đề cố hữu. Đó là mỗi cộng đồng, xét cho cùng, cũng chỉ là một tập hợp các cá nhân. Mỗi cá nhân lại có thể có một cái nhìn khác nhau về đạo đức cộng đồng. Đó là chưa kể trong một cộng đồng lớn có thể tồn tại nhiều cộng đồng đan xen chồng chéo nhau. Mỗi cộng đồng đó lại có thể có một đạo đức của riêng cộng đồng mình. Do đó, cộng đồng càng lớn, đa dạng và lỏng lẻo thì đạo đức cộng đồng càng mù mờ thiếu rõ ràng, và thường cũng chỉ là một số ít giá trị đạo đức chung nhất. Khi một người, một nhóm người, hay thậm chí là số đông tự cho đạo đức của mình là tuyệt đối, đưa nó lên thành luật lệ của cộng đồng và tìm cách loại trừ hay tiêu diệt các thành viên không cùng ý kiến, thì chúng ta có đàn áp mang danh đạo đức.

3. Đạo đức cá nhân

Khác với đạo đức cộng đồng, đạo đức cá nhân chỉ giới hạn trong phạm vi suy nghĩ của mỗi cá nhân chúng ta. Đạo đức cá nhân thể hiện cách nhìn chủ quan của chúng ta về quy luật vận hành khách quan của tự nhiên, xã hội và con người. Nó là tập hợp các nguyên tắc sống mà chúng ta cho là “hợp lý” nhất, tức là tuân thủ theo những quy luật khách quan trong mắt chúng ta. Những nguyên tắc sống này là một phần trong các tiêu chuẩn mà chúng ta sử dụng để đưa ra các quyết định trong cuộc sống. Đạo đức cá nhân có thể biến đổi theo sự trưởng thành trong tư duy cũng như các biến cố xảy ra trong cuộc đời của chúng ta. Tuy nhiên, nhìn chung thì đạo đức cá nhân có tính ổn định tương đối trong một khoảng thời gian nhất định.

Do thường được hình thành trong một khoảng thời gian dài và không liên tục, nên đạo đức cá nhân thường tồn tại dưới dạng các mảnh suy nghĩ rời rạc thay vì có tính hệ thống chặt chẽ. Đồng thời, do chúng ta ít khi có nhu cầu diễn đạt đạo đức của mình bằng ngôn ngữ, nên đạo đức cá nhân thường tồn tại dưới dạng các nguyên tắc “tôi sẽ làm/sẽ không làm xyz” thay vì các giá trị đạo đức mang tên cụ thể. Nếu có chăng, thì chúng ta có thể sẽ so sánh đạo đức của mình với các giá trị đạo đức của cộng đồng, và ghép tên của các giá trị đó cho đạo đức của bản thân. Bởi vậy, cùng một giá trị đạo đức có thể sẽ mang ý nghĩa rất khác nhau trong suy nghĩ của hai cá nhân khác biệt.

Đạo đức cá nhân có nhiều mức độ phát triển, tùy vào sự trưởng thành của suy nghĩ. Ở mức độ đơn giản nhất, chúng ta làm hay không làm việc gì đó vì sợ bị trừng phạt hoặc vì sẽ được lợi trước mắt. Đây là cách suy nghĩ chủ yếu của trí não trẻ con, chưa hiểu nhiều về thế giới xung quanh mà chỉ chăm chăm vào bản thân mình. Một đứa trẻ ở mức độ này sẽ làm việc nhà vì được hứa thưởng tiền, và không vẽ bậy lên tường vì đã từng bị bố mẹ mắng mỏ. Ở mức độ phức tạp hơn, chúng ta làm hay không làm việc gì đó vì đó là luật lệ của cộng đồng, hoặc vì đạo đức cộng đồng đánh giá như vậy là “tốt”. Hầu hết chúng ta khi lớn lên đều đạt được đến mức độ này. Một người suy nghĩ ở mức độ này không vượt đèn đỏ vì đó là vi phạm luật pháp, và tỏ ra khiêm tốn vì mọi người bảo thế là tốt.

Cao hơn nữa, khi chúng ta sống có ý thức và suy ngẫm nhiều hơn, chúng ta sẽ đi đến những kết luận đạo đức của riêng mình thay vì du nhập từ bên ngoài. Khi đó, chúng ta sẽ làm hay không làm việc gì đó vì nó phù hợp với lợi ích sâu xa của chúng ta và với các nguyên tắc sống mà chúng ta tự đặt ra. Mức độ này có vẻ giống với mức độ thứ nhất, nhưng có sự khác biệt cơ bản là chúng ta ý thức được sự tồn tại của cộng đồng xung quanh cũng như lợi ích và tư tưởng của các thành viên khác. Mức độ này cũng khác với mức độ thứ hai ở chỗ chúng ta ý thức được rằng mình là một cá nhân tách biệt khỏi cộng đồng với lợi ích và tư tưởng riêng. Một người ở suy nghĩ ở mức độ này sẽ làm mọi việc vì lý do của riêng mình, dù là tuân thủ theo cộng đồng hay phá vỡ các luật lệ của cộng đồng.

Nói một cách đơn giản, nếu mức độ thứ nhất là “cái tôi tuyệt đối” thì mức độ thứ hai là “cái tôi phục tùng cộng đồng”, và mức độ thứ ba là “cái tôi độc lập trong cộng đồng”. Mức độ sau không nhất thiết là “đúng” hơn, “tốt” hơn mức độ trước, nhưng suy nghĩ của chúng ta nói chung thường trưởng thành theo trình tự ba mức độ đó. Việc trưởng thành nhanh hay chậm phụ thuộc vào tính cách và năng lực bẩm sinh, cũng như sự giáo dục và môi trường xung quanh. Thêm vào đó, chúng ta cũng không đột ngột “nhảy vọt” từ mức độ thấp hơn lên mức độ cao hơn, mà phát triển dần dần những suy nghĩ ở mức độ cao trong khi vẫn giữ nhiều suy nghĩ ở mức độ thấp.

4. Đạo đức và hạnh phúc

Tôi không biết chúng ta được sinh ra để làm gì, nhưng cá nhân tôi tin rằng tất cả chúng ta sống đều cùng vì một mục đích duy nhất: tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Các bậc thánh nhân và các nhà hiền triết truy tìm chân lý vì tin rằng sống theo chân lý sẽ được hạnh phúc. Các nhà từ thiện làm từ thiện vì tin rằng khiến người khác hạnh phúc thì mình cũng được hạnh phúc. Những người yêu tiền kiếm tiền vì tin rằng có tiền sẽ có hạnh phúc. Thậm chí những người định nhảy lầu tự tử làm vậy cũng vì tin rằng chết đi sẽ được hạnh phúc hơn.

Có thể nói rằng, tìm kiếm hạnh phúc là quy luật khách quan cao nhất, phổ quát nhất của con người. Đạo đức chung nhất, sâu xa nhất của con người, do đó, cũng sẽ đơn giản chỉ là “làm sao để có hạnh phúc” mà thôi. Nói cách khác, đạo đức của con người là nhằm phục vụ mục đích tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Sự khác biệt trong cách suy nghĩ về đạo đức đơn giản chỉ là sự khác biệt trong cách suy nghĩ về hạnh phúc và làm thế nào để có hạnh phúc. Người nghĩ rằng hạnh phúc là lợi ích trước mắt sẽ hành động vì lợi ích trước mắt bất kể các quy tắc đạo đức cộng đồng. Người nghĩ rằng hạnh phúc là được mọi người yêu quý tôn trọng sẽ chú ý tuân thủ theo đạo đức cộng đồng. Người tin theo hạnh phúc của Phật giáo sẽ tu tâm dưỡng tính và hành động theo những điều răn của Đức Phật.

Tuy nhiên, xét cho cùng thì hạnh phúc của chúng ta chỉ có bản thân chúng ta mới có thể đánh giá và chịu trách nhiệm được. Do vậy, đạo đức có ý nghĩa thực sự phải là thứ xuất phát từ những suy nghĩ chân thực bên trong chúng ta. Việc “dạy” đạo đức thường thấy thực chất chỉ là cố gắng áp đặt các giá trị đạo đức tương đối của cộng đồng hoặc của bản thân người “dạy” lên người được “dạy”. Không có gì đảm bảo rằng những giá trị đạo đức đó phù hợp với hạnh phúc của cá nhân người được “dạy”. Cái chúng ta có thể “dạy” được là chỉ ra mục đích sống “đi tìm hạnh phúc” của con người, và cách (mà chúng ta cho là) có thể đạt được đến hạnh phúc thực sự. Nếu người được “dạy” chấp nhận những điều đó, tự họ sẽ tạo nên những nguyên tắc đạo đức của riêng mình.


Như tôi đã nói, tôi không phải là một nhà đạo đức. Những điều tôi viết ở đây đơn giản là những gì tôi quan sát và học hỏi được, chứ không nhằm nói cái này “đúng” cái kia “sai”, hay kêu gọi ai phải làm một cái gì cụ thể. Có chăng, thì tôi nghĩ là chúng ta nên biết rằng đạo đức của bản thân nói riêng và mọi thứ đạo đức nói chung chỉ là tương đối, và do vậy không nên tìm cách áp đặt nó lên người khác nếu họ không muốn. Tôi cũng mong rằng khi nhận thấy bản chất thực sự của khái niệm “đạo đức”, chúng ta sẽ có thể tìm được những cách truyền đạt các giá trị đạo đức mà mình muốn truyền đạt sao cho hiệu quả hơn, dựa trên cơ sở tôn trọng người được truyền đạt. Xét cho cùng, việc tôn trọng cá nhân khác chẳng phải cũng là một giá trị đạo đức nên có hay sao?