Bàn về trí não con người

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy nhiều ý tưởng từ cuốn sách “Thinking Fast and Slow” của Daniel Kahneman.

1. Cỗ máy mang tên “trí não”

Nếu phải ví trí não con người với một cái gì đó, tôi sẽ ví với một cỗ máy gắn động cơ. Cỗ máy đó sẽ có một số chỉ số chính là lượng nhiên liệu đang có (V), công suất thực tế của động cơ (P), và hiệu suất sử dụng nhiên liệu (H). Từ những chỉ số này, bất cứ ai có hiểu biết cơ bản về máy móc và vật lý có lẽ đều sẽ tính được thời gian hoạt động liên tục (t) và công có ích được sinh ra (W) theo công thức t=V/P và W=V×H. Như vậy, thời gian hoạt động của cỗ máy tỷ lệ thuận với lượng nhiên liệu còn lại và tỷ lệ nghịch với công suất sử dụng thực tế của động cơ. Nói cách khác nhiên liệu còn càng nhiều và tải đặt lên động cơ càng ít thì cỗ máy càng hoạt động được lâu. Thêm vào đó, lượng công có ích sinh ra có tương xứng với lượng nhiên liệu tiêu tốn hay không còn phụ thuộc vào hiệu suất sử dụng nhiên liệu của chính cỗ máy đó.

Quay trở lại với trí não con người, “nhiên liệu” mà trí não chúng ta sử dụng có thể coi là một dạng “năng lượng tinh thần”. Năng lượng này có cơ sở sinh lý học là lượng đường glucose trong máu được đưa lên não làm năng lượng cho não bộ. Não bộ của con người tuy chỉ chiếm 2~3% thể trọng, nhưng đòi hỏi một lượng năng lượng rất lớn để hoạt động, có thể lên đến 20~25% tổng lượng glucose tiêu thụ của toàn cơ thể. Lượng năng lượng tinh thần của chúng ta tại bất kỳ thời điểm nào sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ lượng đường trong máu nói riêng và sức khỏe nói chung của cơ thể tại thời điểm đó. Điều này lý giải vì sao sau khi uống các loại nước tăng lực, trí não chúng ta dường như hưng phấn hơn. Hiệu quả đó đến từ lượng lớn các loại đường dễ tiêu trong nước tăng lực, khiến lượng đường trong máu chúng ta đột ngột tăng cao, chứ chẳng liên quan gì đến các chất bổ dưỡng khác được quảng cáo, vì các chất đó phải mất một thời gian mới có thể được tiêu hóa và tan vào máu.

Tuy nhiên, dù năng lượng của chúng ta có dồi dào đến đi nữa, trí não của chúng ta cũng chỉ có thể hoạt động đến một công suất cực đại nhất định. Công suất này có thể khác biệt đôi chút giữa mỗi người, nhưng đối với tuyệt đại đa số chúng ta thì nhìn chung nó rất nhỏ. Điều này khiến chúng ta không thể cùng lúc làm nhiều việc đòi hỏi sự tập trung cao. Một ví dụ dễ thấy là khi chúng ta phải đọc hiểu một cuốn sách: chỉ một chút suy nghĩ lơ đãng sẽ khiến chúng ta không thể tiếp thu được nội dung đang đọc, và buộc phải đọc đi đọc lại một chỗ. Chúng ta chỉ có thể làm nhiều việc cùng lúc khi hầu hết các việc đó đều không cần sự tập trung mà có thể được thực hiện bằng cảm tính. Ví dụ chúng ta có thể vừa lái xe vừa trò chuyện với người khác nếu đường vắng, hay vừa suy nghĩ mông lung vừa tắm rửa. Đó là vì việc lái xe trên đường vắng và tự tắm rửa bản thân là những việc có thể thực hiện ở chế độ “lái tự động” mà không cần nhiều sự tập trung hay suy nghĩ có ý thức.

Khi trí não chúng ta phải hoạt động với cường độ cao, tức công suất đặt ở mức cao trong một khoảng thời gian dài, năng lượng tinh thần dự trữ sẽ dần cạn kiệt, dẫn đến tình trạng “cạn kiệt ý thức” (ego depletion). Khi ý thức cạn kiệt, khả năng kiểm soát bản thân cũng như suy nghĩ lý trí của chúng ta sẽ kém đi đáng kể và chúng ta sẽ cần một thời gian hồi phục nhất định. Tùy vào thiên hướng của mỗi cá nhân mà mỗi người chúng ta sẽ có cách thức phục hồi năng lượng tinh thần khác nhau. Đối với những người hướng ngoại, năng lượng tinh thần có thể được phục hồi bằng việc tham gia các buổi tiệc tùng nhậu nhẹt, hoặc đơn giản là tụ tập bạn bè tán chuyện. Đối với những người hướng nội, việc phục hồi năng lượng tinh thần lại đòi hỏi một khoảng thời gian cô độc, tĩnh lặng hay một mình hưởng thụ thú vui của riêng bản thân. Bên cạnh đó, thời gian ngủ cũng là một khoảng thời gian phục hồi rất quan trọng.

Hầu hết người trưởng thành chỉ có năng lượng tinh thần dự trữ đủ để hoạt động trí óc cường độ cao liên tục trong vòng khoảng 90 phút. Quá thời gian đó, trí não chúng ta sẽ phải điều chỉnh giảm đáng kể công suất hoạt động để tránh cạn kiệt năng lượng, khiến chúng ta thiếu tập trung, thiếu động lực, bị động hơn và cảm tính hơn. Chúng ta không nên làm những công việc đòi hỏi độ tập trung cao hay có rủi ro lớn như lái xe, điều khiển máy móc, kiểm soát không lưu,… trong tình trạng này vì có thể dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Một thời gian nghỉ ngơi khoảng 20 phút sẽ giúp chúng ta phục hồi đáng kể lượng năng lượng tinh thần đã sử dụng. Do đó, cách làm việc hiệu quả nhất, trên lý thuyết, là làm việc tập trung trong vòng 90 phút đan xen với 20 phút nghỉ giữa. Nếu năng lượng tinh thần không được phục hồi mà cứ tiếp tục bị sử dụng đến cạn kiệt, trí não của chúng ta sẽ bị tê liệt và có thể dẫn đến nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng.

Thêm vào đó, không phải cứ làm việc cật lực là sẽ đạt được hiệu quả cao. Lượng công việc có ích mà chúng ta có thể giải quyết được còn phụ thuộc vào “hiệu suất”, hay hiệu quả làm việc của trí não. Hiệu suất này đại diện cho nhiều yếu tố khác nhau: năng lực bẩm sinh, tri thức, kỹ năng, mức độ tập trung,… Năng lực bẩm sinh là thứ chúng ta không kiểm soát được. Tri thức giúp chúng ta biết con đường ngắn nhất để giải quyết vấn đề. Kỹ năng giúp chúng ta bớt phải suy nghĩ lý trí mà sử dụng cảm tính nhiều hơn khi giải quyết vấn đề. Việc tập trung vào chỉ một tác vụ giúp chúng ta giảm lượng năng lượng lãng phí vào việc lưu giữ và nhớ lại những thông tin cần thiết mỗi khi chuyển đổi giữa các tác vụ khác nhau. Đó là lý do vì sao chúng ta nên học hỏi để thu được tri thức, rèn luyện để có kỹ năng, và không nên làm nhiều việc cùng lúc.

2. Lý trí và cảm tính

Trong trí não của chúng ta tồn tại hai dạng suy nghĩ chính: suy nghĩ lý trí và suy nghĩ cảm tính. Suy nghĩ cảm tính thường là những suy nghĩ vô ý thức, nhảy thẳng đến kết quả, diễn ra nhanh chóng trong chớp mắt, và đòi hỏi rất ít năng lượng cũng như sự tập trung. Ngược lại, suy nghĩ lý trí thường là những suy nghĩ có ý thức, có quá trình rõ ràng, diễn ra chậm rãi hơn, và đòi hỏi rất nhiều năng lượng cùng sự tập trung cao. Ví dụ của suy nghĩ cảm tính bao gồm việc nhận dạng và phân loại các vật thể xung quanh chúng ta, điều khiển tay ném một quả bóng trúng đích, đưa ra ấn tượng về ai đó khi gặp gỡ lần đầu, và thực hiện phép tính 1+1=2. Ví dụ của suy nghĩ lý trí bao gồm việc tìm kết quả chính xác của phép tính 26×45, ghi nhớ một dãy 10 chữ số ngẫu nhiên, đánh giá tính đúng đắn của một mệnh đề phức tạp, và cố lắng nghe tiếng nói của ai đó giữa đám đông ồn ào.

Quan hệ giữa lý trí và cảm tính có thể nói là quan hệ giữa một ông chủ với một cậu thư ký. Cảm tính sẽ luôn hoạt động trong suốt thời gian chúng ta thức, liên tục thu thập dữ liệu từ xung quanh, tạo ra những ấn tượng sơ bộ, lục tìm trí nhớ, đánh thức những ký ức có liên quan, và xây dựng nên một “câu chuyện” mạch lạc nhất có thể về tình trạng hiện tại của bản thân cũng như môi trường xung quanh. Lý trí sẽ tiếp nhận các “câu chuyện” từ cảm tính, và có thể chấp thuận, bác bỏ, nghi ngờ, hay tìm cách xác thực lại. Khi chúng ta đi ngoài đường, cảm tính sẽ cho chúng ta biết ở đây có cái cây, ở kia có cái xe, trời đang nắng nóng, quanh ta không có nguy hiểm nào,… Cảm tính làm việc hoàn toàn tự động, và nhiều khi nằm ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta. Ví dụ như trong bức tranh dưới đây, dù lý trí biết rằng ba đoạn thẳng bằng nhau, nhưng cảm tính vẫn liên tục nói với chúng ta rằng chúng không bằng nhau, và chúng ta không có cách nào dập tắt hay thay đổi được điều đó.

ban-ve-tri-nao-2
Ba đoạn thẳng bằng nhau hay không bằng nhau?

Cảm tính là một cậu thư ký nhanh nhẩu (đoảng) và tự tin (quá mức). Cảm tính có thể tạo ra những câu chuyện phức tạp, chi tiết và nghe qua có vẻ rất thuyết phục từ những mảnh thông tin ít ỏi và không đầy đủ. Những câu chuyện đó tuy có vẻ mạch lạc và hợp lý, và nhiều khi là chính xác, nhưng cũng rất có thể là thiếu căn cứ và thậm chí là sai lầm. Trong khi đó, lý trí lại là một ông chủ lười biếng và làm việc kém hiệu quả. Lý trí luôn hoạt động ở mức thấp nhất, chỉ làm việc khi thấy cần thiết, và phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin do cảm tính cung cấp. Thêm vào đó, lý trí hầu như không có khả năng làm nhiều việc cùng lúc. Những tác vụ có vẻ đơn giản nhưng đòi hỏi việc phải vừa ghi nhớ vừa xử lý như tính nhẩm 467×162 mà không dùng giấy nháp sẽ lập tức đẩy lý trí đến cực hạn, chiếm toàn bộ công suất của trí não, và khiến cho các công việc khác được xử lý vội vàng qua quýt hay thậm chí là đình trệ.

Nếu lý trí đang bận bịu, mệt mỏi, chịu ảnh hưởng của cảm xúc, hay đơn giản là thiếu cảnh giác khi tiếp nhận một câu chuyện từ cảm tính, thì rất có thể câu chuyện đó sẽ được chấp thuận một cách dễ dãi mà thiếu sự đánh giá và xác thực cần thiết. Một khi đã được lý trí chấp thuận, một câu chuyện sẽ trở thành những “sự thật” và “niềm tin” trong trí não chúng ta. Kết quả là chúng ta thường xuyên kết luận và tin tưởng một cách quá vội vàng và thiếu căn cứ. Điều này là nguyên nhân gây ra vô số những hiểu lầm, sai sót, định kiến và mê tín vẫn diễn ra hàng ngày. Khi gặp một thông tin nào đó, ví dụ “các địa phương có tỷ lệ phạm tội thấp nhất là các vùng nông thôn”, chúng ta sẽ nhanh chóng tìm ra một câu chuyện để giải thích cho thông tin đó, ví dụ “người dân nông thôn chất phác hơn, mọi người sống đoàn kết hơn”, và có thể quyết định tin vào thông tin lẫn lời giải thích đó mà chỉ dựa trên căn cứ duy nhất là độ mạch lạc và hợp lý của câu chuyện do chúng ta tự nghĩ ra.

Bên cạnh đó, cảm tính còn có tính thiên vị rất cao. Một khi chúng ta đã “tin” hay “thích” một cái gì đó, cảm tính sẽ chỉ tập trung vào thu thập những thông tin giúp củng cố thêm quyết định đó, và loại bỏ hoặc hạ thấp những thông tin đối lập. Ví dụ khi chúng ta ủng hộ việc hợp pháp hóa nghề mại dâm, cảm tính sẽ đưa ra một loạt lý do ủng hộ, tạo ra ấn tượng nhấn mạnh vào các lợi ích đồng thời coi nhẹ các tác hại của chính sách đó. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang suy nghĩ một cách lý trí, thận trọng cân nhắc thiệt hơn, nhưng trong hầu hết trường hợp sự cân nhắc của chúng ta là dựa trên những thông tin chứa đầy sự thiên vị đến từ cảm tính, với một kết luận đã có sẵn từ trước. Trên thực tế, đại đa số những quyết định “trong chớp mắt” của chúng ta là nhảy thẳng đến kết luận bằng cảm tính rồi sau đó mới vận dụng lý trí để tạo nên các lý do ủng hộ cho kết luận đó.

Chú ý rằng ở đây tôi không muốn nói rằng “không nên dựa vào cảm tính” hay “cảm tính = sai lầm”. Trên thực tế, cảm tính của hầu hết chúng ta nhìn chung là hoạt động khá tốt và tương đối chính xác (ít nhất là hơn dựa vào vận may thuần túy). Nếu được rèn luyện, cảm tính có thể đưa ra những phán đoán với độ chính xác khá cao trong hầu hết các lĩnh vực. Thêm vào đó, cảm tính hoạt động nhanh chóng và tiết kiệm nhiên liệu cũng như sử dụng ít công suất của trí não hơn lý trí rất rất nhiều lần. Nếu chúng ta sử dụng lý trí để nghi ngờ và soi xét từng thông tin do cảm tính cung cấp, thì hiệu quả làm việc của chúng ta sẽ tụt xuống thê thảm: chúng ta sẽ suy nghĩ chậm chạp hơn, và trí não của chúng ta sẽ luôn ở trong tình trạng mệt mỏi vì hết công suất và cạn kiệt nhiên liệu. Vấn đề chúng ta cần giải quyết là làm sao tăng độ chính xác của cảm tính, đồng thời đặt lý trí vào tình trạng cảnh giác trong những tình huống cần thiết.

3. Năng lực trí não

Nói đến năng lực của trí não, có lẽ hầu hết chúng ta đều nghĩ ngay đến khái niệm “thông minh”. Chữ “thông” (聡) có nghĩa là nghe rõ. Chữ “minh” (明) có nghĩa là nhìn rõ. “Nghe” và “nhìn” ở đây dùng với nghĩa bóng là tiếp thu thông tin từ thế giới xung quanh. “Thông minh” có nghĩa là nhìn thấy được những bản chất, quy luật, khuôn mẫu và khái niệm của mọi vật xung quanh từ những thông tin thu thập được khi tiếp xúc với thế giới. Như đã nói ở trên, việc thu thập thông tin về môi trường xung quanh và tạo ra những ấn tượng ban đầu là công việc của cảm tính, và do đó, có thể nói rằng “thông minh” là một năng lực của cảm tính chứ không phải của lý trí. Năng lực này chủ yếu là bẩm sinh, nhưng nó cũng có thể được nuôi dưỡng bằng cách khuyến khích việc tin tưởng và sử dụng suy nghĩ cảm tính. Một điều chắc chắn là trí thông minh sẽ không được gây dựng bằng cách ngồi giải một núi đề toán hay học thuộc lòng một núi kiến thức.

Trí thông minh nói riêng, và cảm tính nói chung, hoạt động dựa trên một mạng lưới liên hệ giữa các khái niệm, ý tưởng và ký ức trong trí não con người. Mạng lưới liên hệ này đan xen chằng chịt vô cùng phức tạp, và hầu như hoàn toàn nằm ngoài khả năng nhận thức của chúng ta. Khi đối diện với một sự vật sự việc hay một vấn đề nào đó, cảm tính của chúng ta sẽ tự động mò mẫm lục tìm trong mạng lưới liên hệ nói trên, và đưa ra một loạt các kết quả nhất định: một khái niệm, một thông tin, một kết luận, một phương án giải quyết vấn đề,… Do việc này được thực hiện bên ngoài ý thức, nên bản thân chúng ta nhiều khi cũng không thể giải thích được tại sao mình lại đi đến được kết quả như vậy. Khi quá trình mò mẫm này diễn ra nhanh chóng, hiệu quả và thường xuyên cho kết quả “tốt” thì chúng ta sẽ có cái được gọi là trí thông minh. Người thông minh đơn giản là hiểu nhanh, nhớ nhanh, và nghĩ nhanh mà thôi.

Tuy nhiên, trí thông minh không làm nên tất cả năng lực trí não của chúng ta. Như đã trình bày, cảm tính dù hoạt động rất hiệu quả nhưng thường xuyên cung cấp cho lý trí những thông tin và ấn tượng vô căn cứ và sai lầm. Việc chúng ta có tin theo những thông tin đó hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc lý trí có đủ cảnh giác để nghi ngờ và xác thực lại thông tin hay không. Dù chúng ta có thông minh đến đâu, hiểu biết đến đâu đi nữa, nhưng đến khi cần lý trí của chúng ta lại lười lĩnh, không chịu suy xét thận trọng mà sẵn sàng chấp thuận mọi thứ cảm tính mang lại, thì chúng ta cũng sẽ mắc sai lầm như bất cứ ai khác. Vì vậy, việc tự nghi ngờ chính mình, tự suy xét lại suy nghĩ của chính mình, và nói chung là dùng đến suy nghĩ lý trí trước khi đưa ra một quyết định nào đó cũng là một năng lực trí não quan trọng. Đó là lý do nhà triết học Bertrand Russell nói rằng “bi kịch của thế giới là những kẻ ngốc thì đầy tự tin, còn những người thông thái thì lại đầy nghi hoặc”.

Cuối cùng, chúng ta không thể bỏ qua vai trò quan trọng của “tri thức” và “kỹ năng”. Tri thức thì có lẽ không cần phải giải thích nhiều, nhưng ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng tri thức không nhất thiết phải là những kiến thức cụ thể trong sách vở, mà có thể là bất cứ hiểu biết, thông tin, khái niệm hay ý tưởng nào dù là nhỏ nhất và có thể không có giá trị sử dụng rõ ràng. Vì mạng lưới liên hệ giữa các tri thức mà cảm tính sử dụng rất chằng chịt ngoài khả năng nhận thức của chúng ta, nên chúng ta không thể biết được một tri thức sẽ được cần đến khi nào, trong hoàn cảnh nào. Một tri thức trong một lĩnh vực này có thể sẽ có ích trong một lĩnh vực khác hoàn toàn không liên quan. Do vậy, việc thường xuyên tiếp thu tri thức từ nhiều nguồn khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau có vai trò quan trọng đối với hoạt động của trí não thông qua việc chuẩn bị cho trí não chúng ta một nguồn “nguyên liệu” đầy đủ và đa dạng.

Kỹ năng, nói một cách đơn giản, là sự chuyển giao công việc từ lý trí sang cảm tính. Khi chúng ta chưa có kỹ năng trong một công việc nào đó, thì chúng ta sẽ phải vận dụng lý trí để xử lý mọi tác vụ nhỏ nhặt trong công việc đó. Nhưng một khi kỹ năng của chúng ta đã được nâng cao thông qua luyện tập và kinh nghiệm, chúng ta có thể thực hiện hầu hết các tác vụ trong một công việc bằng cảm tính mà không cần phải tập trung suy nghĩ gì. Hẳn hầu hết chúng ta đều nhớ cảm giác khi mới bắt đầu tập xe đạp. Khi đó chúng ta phải chú ý đến từng chi tiết nhỏ: ngồi trên yên cho vững, giữ ghi đông cho thẳng, đạp pê đan theo vòng tròn, đồng thời quan sát trước mắt. Tất cả những cái đó làm chúng ta cảm thấy quá sức, nghĩ đến cái này thì quên mất cái kia. Nhưng một khi đã quen, chúng ta có thể làm đồng thời tất cả những việc đó, mà vẫn còn đủ thư thái để vừa đạp xe vừa suy nghĩ đủ chuyện trên đời. Đó là vì việc đạp xe đã được giao hoàn toàn cho cảm tính thực hiện.

Điều tương tự có thể được áp dụng cho mọi công việc từ lớn đến nhỏ, từ chân tay cho đến trí óc. Chính vì lý do này mà đối với những công việc lặp đi lặp lại chúng ta nên tiêu chuẩn hóa quy trình làm việc, xây dựng nên những bản “hướng dẫn sử dụng” để không cần phải mất công suy nghĩ từng bước mỗi khi làm việc đó. Chúng ta giao được càng nhiều việc cho cảm tính thì hiệu quả công việc càng cao. Chúng ta càng bớt tiêu phí năng lượng cho những công việc đã định hình sẵn thì càng có nhiều năng lượng để làm những cái mới, những cái có giá trị hơn. Trí thông minh sẽ giúp quá trình học hỏi tri thức và rèn luyện kỹ năng diễn ra nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn. Ngược lại tri thức và kỹ năng sẽ giúp cho trí thông minh được phát huy và tạo ra giá trị thực tế, thay vì chỉ là một năng lực thú vị để người khác nắc nỏm khen.


Bài viết này đơn giản chỉ là viết ra một vài suy nghĩ của tôi về cách thức hoạt động của trí não con người thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau. Tôi không phải một nhà tâm lý học hay nhà khoa học, do đó tôi không đảm bảo tính khoa học của những gì tôi viết ra ở đây. Tuy nhiên cá nhân tôi thấy nó là đúng, và hy vọng rằng nó sẽ giúp ích cho mọi người trong cuộc sống và công việc hàng ngày.