Bàn về tính “tương đối”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Người ta nói rằng, khi được yêu cầu giải thích Thuyết tương đối một cách dễ hiểu, Einstein đã kể một câu chuyện rằng một tiếng đồng hồ ngồi trên một đống than đỏ thì dài đằng đẵng, nhưng cũng một tiếng đồng hồ đó ngồi cạnh một cô gái đẹp thì lại chỉ như một phút chốc. Khi còn là học sinh, tôi thấy lời giải thích đó tuy dễ hiểu nhưng chẳng liên quan gì đến môn Vật lý hay công thức E=mc2 nổi tiếng cả. Đến bây giờ ngẫm lại, tôi lại thấy lời giải thích đó của Einstein mới là cái mà chúng ta nên quan tâm hơn là công thức mang tính biểu tượng kia.

1. Thế nào là “tương đối”

Một số nghĩa của chữ “tương” (相) thể hiện ý “lẫn nhau”, “với nhau” (tương tác, tương hỗ) và thể hiện sự so sánh (tương đương). Một số nghĩa của chữ “đối” (對) thể hiện sự hướng đến, chỉ đến (đối với), ngoài ra còn có nghĩa thể hiện sự tồn tại hai cái, thành cặp (đôi giày). Từ “tương đối” thường được sử dụng với vai trò bổ ngữ với hàm ý “trong sự so sánh với một vật khác”, đối nghĩa với “tuyệt đối” thể hiện ý “không cần vật so sánh”. Ví dụ khi ta nói một cái gì đó “tương đối tốt”, có nghĩa là ta muốn nói rằng cái đó tuy không đạt đến mức “tốt tuyệt đối” nhưng đã tốt hơn khi so sánh với một số cái khác hoặc với một mức trung bình nào đó.

Nói rộng ra, tính tương đối thể hiện sự tồn tại của một số “điều kiện” được sử dụng làm vật so sánh khi đánh giá tính chất của một sự vật sự việc nào đó. Nếu coi bản thân việc “đánh giá” là một hàm số thì những “điều kiện” này sẽ là các biến số trong hàm đó. Giá trị kết quả của hàm số luôn phụ thuộc vào giá trị cụ thể của từng biến số trong hàm. Tương tự như vậy tính chất của các sự vật sự việc khi được đánh giá luôn phụ thuộc vào những điều kiện nhất định, hay còn được gọi là tiêu chuẩn đánh giá. Trong học thuật, tiêu chuẩn đó có thể là các tiền đề hay học thuyết. Đối với con người, tiêu chuẩn đó có thể là đạo đức, văn hóa, giáo dục và vô vàn các yếu tố khác.

Ta lấy ví dụ đơn giản trong vật lý học, muốn tính được vận tốc của một vật nào đó, ta phải lấy một điểm nào đó làm điểm tiêu chuẩn để tính toán. Cùng một vật tại cùng một thời điểm có thể có vận tốc x m/s so với một điểm tiêu chuẩn này, nhưng lại có vận tốc y m/s đối với một điểm tiêu chuẩn khác, thậm chí là đứng yên. Hay như trong toán học, hai đường thẳng song song sẽ mãi mãi không chạm nhau trong hình học Euclid, nhưng sẽ có thể chạm nhau trong hình học phi Euclid. Đối với con người, ta có thể dễ dàng thấy được những ví dụ như nhiều người coi việc ăn thịt chó là không thể chấp nhận được, nhưng nhiều người khác lại coi đó là một việc bình thường. Hay đơn giản hơn một đứa trẻ có thể sẽ thấy cái tủ lạnh thật là cao to đồ sộ, nhưng một người lớn sẽ thấy nó không có gì đặc biệt cả.

2. Tại sao lại “tương đối”

Đạo Phật nói đến luật nhân quả, với ý nghĩa rằng mọi sự vật sự việc đều là kết quả của một nguyên nhân nào đó. Suy nghĩ của con người cũng vậy. Con người không đột nhiên đi đến một kết luận nào cả. Chúng ta nhận thức môi trường xung quanh để tạo nên một số tri thức nền tảng. Chúng ta khái quát hóa những tri thức đó lên hoặc suy luận từ những tri thức đó để đi đến những kết luận mới. Suy nghĩ của con người luôn là đi từ điểm A đến điểm B, trong đó kết luận đạt được ở điểm B phụ thuộc vào những tri thức làm điều kiện ở điểm A. Nói cách khác các kết luận của suy nghĩ con người luôn phải dựa trên những điều kiện nhất định, tức là có tính tương đối.

Lấy ví dụ của toán học, do toàn bộ lý thuyết toán học của con người được xây dựng trên suy luận logic, nên có thể nói bản thân toán học đã mang tính tương đối. Tính đúng đắn của các mệnh đề toán học phụ thuộc hoàn toàn vào tính đúng đắn của suy luận logic và một số mệnh đề được dùng làm điều kiện suy luận. Do chúng ta vẫn chưa tìm ra một “chân lý toán học” đúng tuyệt đối, nên con người buộc phải lấy một số mệnh đề “có vẻ thuyết phục” làm tiền đề để xây dựng nên các mệnh đề khác, tạo nên các hệ thống lý thuyết hiện tại. Một mệnh đề được coi là tiền đề không có nghĩa là nó đúng tuyệt đối, mà đơn giản chỉ là nó được sử dụng làm điều kiện để suy ra tất cả các định lý và đánh giá tất cả các mệnh đề trong một hệ thống lý thuyết nhất định. Tiền đề Euclid không “đúng tuyệt đối”, nhưng mọi định lý trong hình học Euclid đều “đúng tương đối” khi được đánh giá bằng tiền đề Euclid. Nói cách khác các định lý trong hình học Euclid đơn giản chỉ “tuân theo” tiền đề Euclid.

Nói rộng ra, tất cả hiểu biết và suy nghĩ của con người đều dựa trên sự nhận thức mang tính tương đối của con người về môi trường xung quanh. Con người chỉ có thể nhận thức một thứ gì đó khi tồn tại một thứ khác biệt làm đối tượng so sánh. Cũng giống như con cá không thể nhận thức được sự tồn tại của nước cho đến khi bị câu lên cạn, con người không thể nhận thức được không khí nếu không có chân không, không thể nhận thức được sáng nếu không có tối, không thể nhận thức được màu đỏ nếu không có các màu khác, không thể biết được 1m dài bao nhiêu nếu không có mét chuẩn. Mọi khái niệm, mọi hiểu biết, mọi suy nghĩ của con người đều dựa trên sự so sánh giữa ít nhất hai sự vật sự việc với nhau, tức đều có tính tương đối.

Môi trường nhận thức cũng đã luôn luôn biến đổi trong suốt quá trình phát triển của văn minh con người. Một người ở vùng ôn đới khi đến vùng nhiệt đới sẽ không còn coi “xuân hạ thu đông” là một chuyện hiển nhiên nữa, mà người đó đã có thêm nhận thức về khí hậu. Người đó biết rằng mùa đông lạnh hay nóng tùy thuộc vào vùng đất mà mình đang đứng. Darwin khi đến quần đảo Galapagos đã nhận thấy sự khác biệt giữa các sinh vật sống ở đó, từ đấy đi đến Thuyết tiến hóa nổi tiếng. Cứ như vậy mỗi khi con người mở rộng môi trường nhận thức hoặc nâng cao khả năng nhận thức, các “chân lý tuyệt đối” lần lượt trở nên tương đối, thay vào đó lại có các “chân lý tuyệt đối” tạm thời khác được dựng lên. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và văn minh con người, do đó, có thể được coi là một công cuộc đánh đổ các “chân lý tuyệt đối” để gắn lại cho chúng cái mác “tương đối”, tức là “đúng” trong những điều kiện nhất định.

Hành vi đánh giá của con người cũng mang tính tương đối, vì mọi sự đánh giá đều dựa trên hai thứ là nhận thức của con người về điều được đánh giá, và tiêu chuẩn đánh giá của bản thân người đánh giá. Chưa nói đến khả năng hai người khác nhau sẽ có nhận thức khác nhau về cùng một sự vật sự việc (kiểu “thầy bói xem voi”), mà tiêu chuẩn đánh giá của mỗi người cũng có thể rất khác nhau. Những tiêu chuẩn đánh giá đó có thể dễ thấy, thậm chí được viết thành văn bản, nhưng cũng có thể mù mờ hơn mà nhiều khi bản thân người đánh giá cũng không nhận thức được. Con người ta có thể đặt cho các tiêu chuẩn này nhiều cái tên khác nhau như “luật pháp”, “truyền thống”, “văn hóa”, “thuần phong mỹ tục”, “quan điểm”, “sở thích”, nhưng bản chất tương đối của chúng không hề thay đổi. Chúng chỉ “đúng” đối với một số người, trong một số điều kiện nhất định mà thôi.

3. Sự nguy hiểm của “tuyệt đối”

Nói đến đây, có thể sẽ có người đặt ra câu hỏi “vậy có gì là tuyệt đối không?”. Tôi không có câu trả lời tuyệt đối cho câu hỏi đó, nhưng tôi tin là không. Tất cả mọi thứ chúng ta biết đến đều có thể và đều phải được lý giải và đánh giá trong mối quan hệ tương đối với một số sự vật sự việc nhất định làm tiêu chuẩn. Việc coi một cái gì đó là tuyệt đối, là hoàn toàn, là có tính phổ quát vô giới hạn là một vọng tưởng thường thấy ở con người từ xưa đến nay. Vọng tưởng đó giới hạn tiềm năng của con người, đè chết sự sáng tạo và khám phá ở con người. Khi tiếp xúc với một điều gì đó trái với “chân lý” đương thời, vọng tưởng về tính tuyệt đối sẽ khiến con người bịt mắt trước thực tiễn, thậm chí tìm cách áp đặt “chân lý” lên thực tiễn. Chính vọng tưởng về tính tuyệt đối là một trong những lý do gây nên những bi kịch của thế giới như các cuộc thánh chiến hay chủ nghĩa thực dân.

Ở mức độ nhỏ hơn, ngay cả ở thời điểm hiện tại, sau hàng bao thế kỷ nhân loại đạp đổ hết “chân lý” này đến “chân lý” khác, hầu hết mọi người vẫn có ít nhiều vọng tưởng về tính tuyệt đối của một số khái niệm như “đạo đức”, “nhân quyền”, “văn hóa”, thậm chí là “gia đình” hay “tình yêu”. Chúng ta nghĩ rằng văn hóa văn minh chỉ có một cho toàn nhân loại, và rồi cãi nhau xem ăn thịt chó có phải là mọi rợ thiếu văn hóa hay không. Chúng ta nghĩ rằng đôi lứa yêu nhau thì phải quan tâm chăm sóc, phải làm những cái này phải làm những cái kia, và rồi vùng vằng giận dỗi khi không được như ý. Chúng ta tôn thờ cái “đúng”, cái “tốt”, nhưng ít người dừng lại để nghĩ xem thế nào là “đúng”, là “tốt”. Tệ hơn, chúng ta áp đặt những cái “đúng”, cái “tốt” của bản thân lên người xung quanh, nhẹ thì bằng cách châm chọc, chỉ trích, phỉ báng, mà nặng thì dọa dẫm, bắt ép, cấm đoán, trừng phạt, thậm chí đánh đập và giết chóc.

Tại sao chúng ta có thể chấp nhận tính tương đối trong khoa học, nhưng lại không thể chấp nhận tính tương đối trong xã hội con người? Tại sao chúng ta có thể chấp nhận sự tồn tại song song của hình học Euclid và phi Euclid, nhưng lại không thể chấp nhận cả những người ăn thịt chó lẫn những người không ăn thịt chó? Tại sao chúng ta có thể chấp nhận rằng động năng của một vật thay đổi tùy vào điểm tiêu chuẩn, nhưng lại không thể chấp nhận rằng mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng có những giá trị khác nhau? Tại sao lại phải cần có một chân lý tuyệt đối? Để nhằm mục đích gì? Nếu chúng ta cần đến một mục đích cho một chân lý tuyệt đối, thì chẳng phải những người có mục đích khác nhau sẽ có chân lý khác nhau hay sao?

Ở góc độ tôn giáo, tôi nghĩ rằng mối liên hệ giữa lịch sử hàng nghìn năm hòa bình và tính tương đối khi nói về chân lý trong các tôn giáo như Phật giáo không phải là một sự trùng hợp. Việc nhận thức rằng có một chân lý tuyệt đối của vũ trụ và nhiều chân lý tạm thời có tính tương đối của cuộc sống thường nhật khiến cho những người theo đạo Phật dễ dàng đón nhận và giao tiếp với những người có suy nghĩ khác biệt với bản thân, thay vì phủ nhận và tìm cách “giáo hóa” họ bằng vũ lực. Nói như vậy không phải là để đề cao Phật giáo, hay khẳng định rằng Phật giáo là chân lý, nhưng nếu chúng ta thực sự muốn có một thế giới hòa bình, thì chẳng phải lấy tính tương đối làm một chân lý tương đối là một biện pháp tốt hay sao?

4. Kết luận

Tính tương đối là tính chất của một sự vật sự việc mà trong đó sự vật sự việc đó chỉ có thể được đánh giá khi so sánh với một số sự vật sự việc khác, hay khi dựa trên một số điều kiện được lấy làm tiêu chuẩn đánh giá. Tính tương đối giúp con người xây dựng nên các hệ thống tri thức và lý thuyết tạm thời trong khi vẫn chưa tìm ra được một chân lý tuyệt đối của vũ trụ. Tính tương đối là cơ sở cho toàn bộ sự nhận thức của con người về thế giới xung quanh. Tính tương đối cũng giúp con người sống bao dung và hòa bình hơn.

Cá nhân tôi tin rằng mọi thứ đều có tính tương đối. Mọi điều tôi nói ra, nếu nghe như có vẻ tôi cho rằng nó là chân lý, thì đều là chân lý tương đối của riêng cá nhân tôi.