Bàn về “tự do”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy nội dung chính từ cuốn sách “Why we do what we do” của Edward L. Deci và Richard Flaste.

Trong chúng ta có lẽ không ai phủ nhận giá trị của tự do. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận không biết bao nhiêu cuộc cách mạng, bao nhiêu vị anh hùng chiến đấu vì tự do. Cho đến bây giờ con người ở khắp nơi trên thế giới vẫn ngày ngày đấu tranh vì tự do. Dường như đối với chúng ta, “tự do” là một cái gì đó rất vĩ đại, rất to lớn, rất thiêng liêng, rất xa xăm. Tôi không nghĩ vậy. Tôi nghĩ tự do nằm sẵn ở trong đầu chúng ta. Tự do nằm trong từng quyết định, từng suy nghĩ, từng hành động dù là nhỏ nhặt của chúng ta. Mỗi chúng ta đều có khả năng quyết định đến tự do của bản thân, đồng thời gây ảnh hưởng đến tự do của người khác. Trong bài này tôi xin nói qua về những suy nghĩ của tôi về tự do.


1. Tự do là gì

Chữ “tự” (自) chỉ bản thân, chính mình (tự chủ, tự thân). Chữ “do”(由) thể hiện nguyên nhân, nguồn gốc, tùy vào (lý do, do đâu). “Tự do”, nói một cách ngắn gọn, tức là “do tự mình”. Giải thích cụ thể hơn, “tự do” thể hiện việc một người nào đó đưa ra một hành động, quyết định, suy nghĩ nào đó dựa trên những lý do và động lực hoàn toàn đến từ bên trong “cái tôi” thực chất của người đó. Trái ngược với tự do là khi một người làm việc gì đó, quyết định gì đó, suy nghĩ gì đó vì những nguyên nhân bên ngoài hoặc những nguyên nhân tiêm nhiễm từ bên ngoài như sự đe dọa, bắt ép, áp lực, thậm chí là văn hóa và đạo đức xã hội. Chúng ta hành động một cách tự do khi chúng ta muốn hoặc không muốn làm một cái gì đó, và chúng ta quyết định làm theo mong muốn đó của bản thân. Khi chúng ta cảm thấy hay nghĩ rằng mình phải/cần/nên hoặc không được/không thể/không nên làm một việc gì đó, thì rất có thể chúng ta đang không có tự do.

Nếu hiểu theo cách như trên, thì tự do hoàn toàn là một thứ nằm bên trong chúng ta, và do đó, trên lý thuyết, tự do của chúng ta chỉ phụ thuộc vào quyết định của bản thân chúng ta. Không ai có thể tước đi hay ban phát tự do cho chúng ta cả. Chúng ta chỉ mất tự do khi chúng ta không ý thức được tự do của bản thân, hoặc vì một lý do nào đó mà tự mình chối bỏ tự do đó. Ngược lại, trên lý thuyết, dù bị đặt trong hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta vẫn hoàn toàn có thể thể hiện ý chí tự do. Nếu bạn thấy điều này quen quen, thì đó là vì tự do và trách nhiệm là hai mặt của cùng một đồng xu. Chúng ta nhận trách nhiệm hoàn toàn về cuộc đời mình, cũng tức là chúng ta đang thực thi ý chí tự do của bản thân. Tất nhiên, trong thực tế nếu môi trường của chúng ta khích lệ và hỗ trợ tự do thì chúng ta sẽ dễ dàng suy nghĩ và hành động tự do hơn. Ngược lại, nếu một quyết định tự do có thể dẫn đến thiệt hại to lớn về quyền lợi, thì chúng ta sẽ có xu hướng từ bỏ tự do của bản thân.

Như vậy, tự do không có nghĩa là có thể làm điều mình muốn mà không cần phải chịu hậu quả. Tự do là một trạng thái tinh thần chứ không phải một sự đảm bảo hay một đặc quyền. Điều đó có nghĩa là tự do là quyết định làm một điều gì đó dù biết những hậu quả phát sinh mà mình phải gánh chịu. Điều đó cũng có nghĩa là hai hành động nhìn bề ngoài có thể rất giống nhau, nhưng tùy vào suy nghĩ đằng sau nó mà hành động đó có thể là tự do, có thể là không. Tự do cũng không phải một thứ gì đó “đúng” hay “tốt” tuyệt đối, và một quyết định tự do không có nghĩa là nó “đúng”, “tốt” hay thậm chí là “có lợi” cho bản thân chúng ta hoặc bất kỳ ai khác. Một người bỏ công việc ổn định lương cao để theo đuổi đam mê của bản thân có thể là một con người tự do, nhưng rất có thể quyết định đó sẽ dẫn đến việc gia đình anh ta gặp khó khăn, bản thân anh ta gặp thất bại, và khiến anh ta hối hận về quyết định của mình.

2. Tại sao lại cần tự do

Trước hết, tự do là một trong những nhu cầu tâm lý thiết yếu của con người. Những nhà tâm lý học nghiên cứu về Thuyết tự định đoạt (self-determination theory) cho rằng con người có ba nhu cầu tâm lý cơ bản là cảm thấy được làm chủ bản thân, cảm thấy bản thân có năng lực, và cảm thấy được kết nối với người xung quanh. Việc các nhu cầu này không được đáp ứng sẽ dẫn đến sức khỏe tâm lý bị ảnh hưởng, dẫn đến những hậu quả tâm lý như tuyệt vọng, trầm cảm, bức bối, vô cảm,…  và có thể dẫn đến bùng nổ hoặc suy sụp tâm lý. Trong đó, cảm giác được làm chủ bản thân, hay nói cách khác là được tự do, có sự gắn kết chặt chẽ với cảm nhận của chúng ta về nhân cách, hay “mức độ con người”, của bản thân. Khi cảm thấy bị tước mất tự do hay buộc phải từ bỏ tự do, chúng ta sẽ cảm thấy dường như nhân cách của mình bị phủ nhận, dường như mình không được “làm người”, và điều này sẽ dẫn đến một loạt các cảm xúc tiêu cực khác.

Xét từ góc độ hiệu suất làm việc, tự do sẽ giúp cho chúng ta làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn, sáng tạo hơn. Khi chúng ta làm việc mình thích, suy nghĩ của chúng ta sẽ không bị vướng bận gì và có thể được dành toàn bộ cho việc xử lý công việc. Nhưng khi chúng ta phải làm một việc trái mong muốn, tức không có tự do, não bộ chúng ta sẽ phải dành ra một lượng năng lượng tinh thần nhất định để bắt buộc bản thân làm việc đó. Điều này làm tăng tổng mức độ tiêu hao năng lượng tinh thần và giảm bớt lượng năng lượng dùng cho công việc, khiến chúng ta thiếu tập trung và mau chóng kiệt quệ hơn. Thêm vào đó, khi phải vừa làm việc vừa kiềm chế bản thân, chúng ta sẽ sử dụng suy nghĩ lý trí nhiều hơn suy nghĩ cảm tính, trong khi suy nghĩ cảm tính mới là thứ làm nên tính sáng tạo. Điều này khiến chúng ta có xu hướng làm việc thiếu sáng tạo, dựa nhiều vào lối mòn, và chọn cách an toàn hơn là thử nghiệm cái mới.

Đứng ở vai trò người tác động đến hành vi của người khác như cha mẹ với con cái, giáo viên với học sinh, thì việc tôn trọng tự do của đối tượng sẽ giúp cho những tác động của chúng ta dễ được chấp nhận hơn, có hiệu quả lâu bền hơn, và hạn chế hậu quả tiêu cực hơn. Khi chúng ta bắt ép đối tượng làm một việc trái với mong muốn tự do bằng bất cứ phương pháp nào đi nữa, thì cái chúng ta tạo ra được chỉ là sự phục tùng hoặc chống đối mà thôi. Nhìn bề ngoài, phục tùng có vẻ là bằng chứng cho thành công, nhưng phục tùng và chống đối có cùng bản chất là sự cự tuyệt ở bên trong, chỉ khác cách thể hiện ra bên ngoài. Phục tùng không phải là sự thay đổi về suy nghĩ như chúng ta thường mong muốn. Phục tùng có thể biến thành chống đối trong chốc lát chỉ bằng một giọt nước tràn ly. Đó là chưa kể để duy trì sự phục tùng cần có sự giám sát và đốc thúc thường xuyên, vì nó không xuất phát từ lý do bên trong. Khi lý do để phục tùng biến mất, thì sự phục tùng cũng sẽ biến mất.

3. Làm sao để có tự do

Như đã nói ở trên, tự do không phải là một đặc quyền đến từ bên ngoài. Vì vậy đừng mong chờ người khác đem tự do đến cho mình mà hãy bắt đầu từ bản thân. Nếu bản thân chúng ta không có suy nghĩ tự do thì kể cả khi được thoải mái làm điều mình thích, chúng ta cũng sẽ chẳng biết làm gì cả. Do đó, bước đầu tiên để xây dựng suy nghĩ tự do không phải là đòi hỏi tự do, hay vùng lên “làm cách mạng”, mà là nhận trách nhiệm về cuộc đời mình. Cuộc sống của chúng ta sẽ luôn chịu ảnh hưởng, thậm chí là bị quyết định, bởi những yếu tố bên ngoài mà chúng ta không thể cưỡng lại. Tuy nhiên, việc nhìn nhận và thay đổi cuộc đời theo chiều hướng tốt đẹp hơn là việc của chúng ta, chỉ có chúng ta mới có thể làm được. Và kể cả khi phải từ bỏ tự do trong một vấn đề nào đó, ít ra chúng ta cũng có được sự an ủi rằng bản thân mình là người đưa ra quyết định đó, chứ không phải một nạn nhân bất lực trước hoàn cảnh.

Tiếp theo, cái chúng ta cần làm là xây dựng nên một nhận thức về “cái tôi”. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần suy nghĩ xem mình là ai, mình là người như thế nào, tính cách mình ra sao, mình thích gì, mình ghét gì, mình coi trọng cái gì, mình có đam mê gì, mình có năng lực gì, mình phù hợp với công việc gì, đạo đức của mình là gì,… Nhận thức đó không nhất thiết phải “đúng” hoàn toàn, mà có thể được thay đổi chỉnh sửa theo thời gian. Cái quan trọng là chúng ta có một nhận thức rõ ràng và một niềm tin vào “cái tôi” để làm cơ sở cho những suy nghĩ tự do của bản thân, thay vì phải du nhập những tư tưởng, chuẩn mực, đánh giá từ bên ngoài. “Cái tôi” của chúng ta tồn tại độc lập với khả năng nhận thức của chúng ta về nó, nên những thứ du nhập mà không phù hợp với “cái tôi” sẽ gây ra xung đột bên trong mà không sớm thì muộn chúng ta sẽ phải nhận ra, và người chịu ảnh hưởng nhất chỉ có chúng ta mà thôi.

Cuối cùng, chúng ta cần phải không ngừng tu dưỡng bản thân cả về tri thức, suy nghĩ lẫn kỹ năng thực tế. Người thông minh, hiểu biết và có kỹ năng hơn sẽ tự do hơn, đơn giản vì người đó sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm ra cách thực thi và bảo vệ ý chí tự do của bản thân trước những khó khăn và áp lực của hoàn cảnh, thay vì phải từ bỏ tự do để bảo vệ những lợi ích khác. Người lái đò sông Đà có thể di chuyển tự do trên con sông hung dữ không phải vì con sông “cho phép” ông đi bất cứ đâu mình muốn, mà là vì ông hiểu về cách con sông vận hành, và có kỹ năng lái đò tương xứng để có thể đi tới những cái đích mà ông muốn tới. Trong cuộc sống, chúng ta có thể bảo vệ tự do của mình “chỉ bằng niềm tin”, nhưng trong hầu hết trường hợp sẽ phải hy sinh nhiều lợi ích khác. Hiểu biết, suy nghĩ và kỹ năng sẽ giúp chúng ta giảm thiểu sự hy sinh đó.

4. Hãy khích lệ và nuôi dưỡng tự do

Nếu đứng ở vị trí cha mẹ, giáo viên, cấp trên, hay bất cứ ai có trách nhiệm hướng dẫn hành vi của người khác, đặc biệt là đối với những đối tượng còn nhỏ tuổi, tôi thành thực mong muốn rằng chúng ta hãy biết công nhận, khích lệ và nuôi dưỡng sự tự do trong con em, học sinh, hay cấp dưới của chúng ta. Sự tự do đó không chỉ cần thiết và có lợi cho sức khỏe tinh thần của đối tượng, mà trong hầu hết trường hợp còn mang lại lợi ích cho chính chúng ta. Chúng ta hay nghĩ rằng một đứa trẻ, một cấp dưới “biết nghe lời” sẽ “an toàn” hơn, “yên tâm” hơn. Nhưng tôi cho rằng một con người tự do mới là người sẽ biết hành động có suy nghĩ hơn, có trách nhiệm hơn, và nhìn chung là thành công và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, suy nghĩ tự do là một thứ rất mong manh, khó xây dựng mà lại rất dễ bị hủy hoại, nhất là ở tuổi nhỏ. Do vậy chúng ta cần lưu ý đến một số điểm dưới đây nếu muốn nuôi dưỡng một con người tự do.

Trước hết, chúng ta nên để cho đối tượng được tự do quyết định hết mức có thể. Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải để mặc cho đối tượng làm bất cứ thứ gì tùy thích, mà chúng ta cần xác định những gì là cốt lõi, những gì chúng ta sẽ không thỏa hiệp, và để cho đối tượng được tự do lựa chọn đối với những thứ còn lại. Ví dụ, bạn có thể yêu cầu con giúp bạn việc nhà, nhưng để cho con tự do lựa chọn giúp việc gì cụ thể. Nếu con giúp việc rửa bát, bạn có thể để con tự do lựa chọn rửa bát lúc nào, miễn là hoàn thành xong trước một thời hạn nào đó. Nhìn từ phía chúng ta, những quyết định đó có thể là nhỏ nhặt không đáng kể, và kết quả đem lại có thể không phù hợp với kết quả lý tưởng mà chúng ta nghĩ tới, nhưng nếu vì thế mà chúng ta tước đi hoàn toàn cơ hội quyết định của đối tượng, thì tức là chúng ta đã dập tắt những suy nghĩ tự do từ trong trứng nước.

Thứ hai, chúng ta không nên dựa vào những nguồn động lực bên ngoài để khiến đối tượng làm theo chúng ta muốn, bất kể nguồn động lực đó là hình phạt, đe dọa, phần thưởng, hay thậm chí là lòng tự trọng, đạo đức hay lý lẽ. Nhất là đối với những việc vốn sẵn đối tượng đã thích làm, nếu chúng ta cho thêm nguồn động lực bên ngoài vào thì sẽ vô tình phá hoại nguồn động lực bên trong của đối tượng. Dấu hiệu nhận biết chung cho những nguồn động lực bên ngoài là “tình yêu có điều kiện”: mẹ sẽ không đánh con, mẹ sẽ không giận con, mẹ sẽ yêu con, mẹ sẽ khen con, mẹ sẽ thưởng con, con “ngoan”, con “người lớn”, con “đúng đắn” chỉ với điều kiện con làm theo ý mẹ muốn. Nếu chúng ta muốn nuôi dưỡng sự tự do, cái chúng ta nên làm là cung cấp cho đối tượng thông tin về những lựa chọn có thể có và những hệ quả của từng lựa chọn, và chấp nhận sự lựa chọn của đối tượng với một “tình yêu vô điều kiện”, dù lựa chọn đó có thể không hoàn toàn vừa ý mình.

Thứ ba, khi cần phải yêu cầu đối tượng làm một điều gì đó, nhất là một việc đối tượng không thích thú, chúng ta nên tìm cách yêu cầu sao cho đối tượng cảm thấy nhân cách của họ được tôn trọng. Cụ thể, chúng ta có thể nói với đối tượng rằng chúng ta biết đối tượng không thích làm việc đó. Điều này giúp đối tượng cảm thấy cảm xúc của mình được công nhận. Tiếp theo, chúng ta có thể đưa ra lý do cho yêu cầu của mình. Lý do đó không nhất thiết phải “hợp lý” hay “khách quan”, nhưng ít nhất không nên dừng ở mức “vì tôi muốn thế”. Điều này sẽ giúp đối tượng cảm thấy việc mình phải làm là có lý do, chứ không phải một việc vô nghĩa, hay chỉ vì bị người khác sai khiến. Chúng ta cũng nên nói thẳng thắn rằng đây là một yêu cầu (“bố muốn con làm …”) thay vì nói gián tiếp vòng vo (“con cần phải …”, “bố ước gì …”) hay tệ hơn là ngụy trang dưới dạng câu hỏi chỉ có một đáp án.

Cuối cùng, chúng ta nên giao kèo rõ ràng từ trước và sau đó thi hành những hậu quả đặt ra đối với từng lựa chọn của đối tượng. Ví dụ bạn có thể yêu cầu con phải liên lạc mỗi khi đi chơi về muộn, nếu không sẽ bị cấm đi chơi một tuần. Điều này có vẻ đi ngược lại với tự do và quyền lựa chọn, nhưng đó là điều cần thiết để khiến đối tượng hiểu rằng mọi lựa chọn đều có hậu quả, và tự do tức là chấp nhận hậu quả của điều mình đã lựa chọn, cũng tức là có trách nhiệm với lựa chọn của bản thân. Điểm cốt lõi là chúng ta cần chú ý đặt ra hậu quả tương xứng với mức độ nghiêm trọng của lựa chọn, và thi hành hậu quả không phải vì đối tượng đã lựa chọn “sai”, vì chúng ta muốn đối tượng làm theo ý mình, mà đơn giản chỉ là làm theo đúng giao kèo đã đặt ra giữa hai bên. Việc thể hiện “tình yêu vô điều kiện” song song với việc thi hành hậu quả là yếu tố rất quan trọng để đối tượng tiếp nhận đúng thông điệp mà chúng ta muốn truyền tải.


Tự do không phải một thứ đặc quyền mà chúng ta nhận được từ bên ngoài. Tự do là trạng thái tinh thần của chúng ta khi đưa ra một quyết định hay hành động dựa trên những giá trị, những suy nghĩ, những mong muốn của chính bản thân chúng ta. Khi đưa ra một quyết định tự do chúng ta sẽ thấy thanh thản và nhẹ nhàng. Ngược lại khi phải từ bỏ tự do chúng ta sẽ thấy nặng nề và bức bối. Tự do của chúng ta là do chúng ta tự quyết định. Tuy nhiên khi phải chịu áp lực quá lớn, chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng không nhận thức được tự do của bản thân, hoặc phải quyết định từ bỏ nó. Vì vậy, khi đứng ở vị trí là người hướng dẫn và tác động lên hành vi người khác, chúng ta nên chú ý khích lệ và nuôi dưỡng, hay ít nhất là tránh hủy hoại suy nghĩ tự do của đối tượng nếu như mục đích của chúng ta không phải là tạo ra những cái máy hay những kẻ nổi loạn, mà là tạo nên những con người biết tự mình suy nghĩ một cách có trách nhiệm.