Cá nhân và tập thể

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

1. Cá nhân và tập thể

“Cá” (個) chỉ sự đơn lẻ, riêng lẻ (cá tính, cá biệt). “Nhân” (人) chỉ con người. “Cá nhân” là một con người riêng lẻ thể hiện bằng một ý chí và nhân cách riêng biệt, thống nhất và độc lập ở mức độ nhất định với xung quanh. Một đứa trẻ mới hình thành trong bụng mẹ tuy về mặt sinh học hoặc đạo đức có thể được coi là một con người, nhưng chưa phải là một “cá nhân” vì chưa thể hiện được ý chí và nhân cách của riêng mình. Ngược lại, đối với một người thần kinh phân liệt đa nhân cách thì có thể nói rằng trong một cơ thể người đó tồn tại nhiều “cá nhân” khác nhau.

“Tập” (集) chỉ sự tụ họp lại, gom góp lại (tập hợp, tuyển tập). “Thể” (体) chỉ cơ thể, thân mình (thể dục, bản thể). “Tập thể” (người) là một nhóm người có một sự liên kết nào đó với nhau, tập hợp lại làm nên một “cơ thể” có sự kết nối ở một mức độ nhất định. Ví dụ về “tập thể” là xã hội, quốc gia, dân tộc, làng xã, doanh nghiệp, gia đình… Ở đây tôi chỉ xét khía cạnh con người mà bỏ qua khía cạnh đất đai, tài sản,… của các khái niệm này.

Cá nhân là đơn vị xây nên và là nền tảng cốt lõi của tập thể. Trên lý thuyết một cá nhân có thể không tham gia vào bất cứ tập thể nào, nhưng không có tập thể nào tồn tại mà không cần đến cá nhân. Nhìn theo một cách nào đó, tập thể chỉ là một cái mác dùng để gọi tên, phân loại hay nhận dạng các cá nhân. Trong thực tế, có thể nói rằng tập thể không hề tồn tại với tư cách một thực thể hay một ý chí riêng biệt và thống nhất hoàn toàn như cá nhân.

“Ý chí tập thể”, nếu có tồn tại một thứ như vậy, thực chất chỉ là kết quả còn lại của sự tranh đấu, điều khiển, thỏa hiệp và đồng thuận tạm thời giữa các ý chí cá nhân trong tập thể. Sự thống nhất một cách hoàn toàn ý chí của tất cả các cá nhân trong tập thể thành một ý chí duy nhất là việc rất hiếm và chỉ có thể đạt được ở một thời điểm và một khía cạnh hạn hẹp nào đó. Giả sử bằng một cách nào đó sự thống nhất ấy được kéo dài và mở rộng ra mọi mặt, thì lập tức có thể nói rằng ý chí cá nhân đã biến mất, và “cá nhân” mất ý nghĩa tồn tại. Tương tự như vậy, “lợi ích tập thể” cũng đơn giản chỉ là tổng thể các lợi ích riêng lẻ của tất cả, hay ít nhất là đa số, các cá nhân trong tập thể.

2. Sự tham gia của cá nhân vào tập thể

Vậy tại sao cá nhân lại tụ tập lại để làm nên tập thể mới, hoặc tham gia vào một tập thể có sẵn? Nhiều lý do có thể được đưa ra để giải thích cho điều đó. Thứ nhất, việc hợp tác và góp chung công sức và tài nguyên với các cá nhân khác thay vì hoạt động đơn lẻ thường sẽ đem lại hiệu quả lớn hơn trong việc đạt tới các mục đích của từng cá nhân, trong đó có sinh tồn. Điều này có thể thấy khi con người phải đối mặt với những thử thách vượt quá khả năng của từng cá nhân riêng lẻ như săn bắt các loài thú to lớn và nguy hiểm.

Thứ hai, sự chênh lệch quyền lực giữa con người và thiên nhiên xung quanh là quá lớn, do đó nếu như cá nhân ý thức được một cách toàn bộ sự nhỏ bé của bản thân trước thiên nhiên và những rủi ro mà thiên nhiên lẫn những cá nhân khác có thể mang lại, thì sẽ có thể dẫn đến một cảm giác tuyệt vọng và sợ hãi tột độ. Việc cảm thấy thuộc về và được bảo vệ bởi một cái gì đó lớn hơn thay vì phải tự chịu trách nhiệm toàn bộ đối với bản thân đem lại cho tâm lý cá nhân một cảm giác yên tâm và nhẹ nhõm phần nào.

Thứ ba, việc giao tiếp với những cá nhân khác trong tập thể giúp thỏa mãn nhu cầu kết nối và yêu thương của mỗi cá nhân. Việc nhu cầu này là nguyên nhân khiến con người sống thành bầy đàn, hay chính vì sống thành bầy đàn quá lâu mà ở con người xuất hiện nhu cầu này là việc khó khẳng định được, nhưng sự tồn tại của nhu cầu giao tiếp với các cá nhân khác là điều mọi người đều có thể cảm nhận thấy.

Những lý do nói trên có thể đem lại hiểu lầm rằng việc tham gia vào tập thể chỉ là một lựa chọn có lợi hơn trong nhiều lựa chọn cùng có thể đảm bảo sự sinh tồn của cá nhân. Trên thực tế, tự cổ chí kim tuyệt đại đa số các cá nhân con người ngay từ khi chào đời đều buộc phải tham gia vào các tập thể nếu muốn bảo toàn sinh mạng của bản thân. Con người trong một thời gian tương đối dài sau khi sinh ra không thể tự mình sinh tồn mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của đồng loại xung quanh. Do vậy ngay khi sinh ra cá nhân không có lựa chọn nào khác là tham gia vào một gia đình hoặc một bộ tộc nào đó. Nói đúng hơn, ở thời điểm đó cá nhân còn chưa ý thức được bản thân với tư cách là một cá nhân, nên không phải là cá nhân không có sự lựa chọn, mà là cá nhân còn chưa tồn tại rõ ràng và do đó không hề và không thể lựa chọn.

Nhưng kể cả khi cá nhân đã trưởng thành và ý thức đầy đủ về nhân cách bản thân mình, tách biệt khỏi tự nhiên và các cá nhân xung quanh, thì việc lựa chọn không tham gia vào các tập thể cũng không hề dễ dàng hơn chút nào. Trước đây, khi những đường biên giới còn chưa rạch ròi, khả năng áp đặt quyền lực của các tập thể còn hạn chế, và vẫn còn nhiều mảnh đất vô chủ có thể nuôi sống con người, thì một cá nhân có thể đặt bản thân ra khỏi tất cả mọi tập thể và sống đơn lẻ một mình nếu đủ khả năng. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay bề mặt Trái Đất hầu như đã không còn vùng đất màu mỡ nào không bị tuyên bố chủ quyền bởi một hay thậm chí một vài quốc gia hay xã hội khác nhau, với các lực lượng hành pháp chuyên nghiệp và tầm bao phủ rộng lớn. Cá nhân dù muốn tách mình ra khỏi các tập thể này, cũng vẫn sẽ phải chịu rủi ro bị áp đặt các luật lệ bằng nhiều biện pháp, trong đó có bạo lực, từ phía các tập thể mà mình không hề mong muốn tham gia.

Đối với một số phân loại tập thể nhất định, việc thay đổi tập thể mà cá nhân muốn tham gia cũng gặp rất nhiều khó khăn. Ở thời điểm hiện tại luật pháp của hầu hết tất cả các quốc gia đều không công nhận việc thay đổi gia đình đối với trẻ vị thành niên, trừ một số trường hợp đặc biệt như nhận cô nhi làm con nuôi. Thậm chí ở một số nước, trẻ em tìm cách thoát khỏi gia đình hiện tại có thể bị cưỡng chế đưa về gia đình hoặc tệ hơn là các cơ sở công cộng, chứ không được phép lựa chọn một gia đình mới. Ngoài ra, việc thay đổi cộng đồng sinh sống trong cùng một quốc gia có thể là tương đối dễ dàng, nhưng việc di cư và trở thành công dân một quốc gia khác thì thường đòi hỏi một lượng tài nguyên rất lớn cả về năng lực, tài chính và thời gian, kèm theo đó là các rủi ro và khả năng bị tập thể mới từ chối không cho gia nhập. Như vậy, bên cạnh những tập thể mà cá nhân có thể lựa chọn tham gia, không tham gia hay rút khỏi một cách tương đối tự do, cũng có một số tập thể mà việc từ chối tham gia hay tìm cách thoát khỏi có thể dẫn đến việc tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc quyền lợi của cá nhân bị đe dọa nghiêm trọng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong đó hai ví dụ cụ thể là gia đình và quốc gia.

3. Quyền lực kiểm soát tập thể

Như đã nói ở trên, trong thực tế không có cái gọi là “ý chí tập thể” tồn tại một cách liên tục và thống nhất ở mức độ như ý chí cá nhân. Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy các tập thể đưa ra các quyết định và hành động nhân danh tất cả các cá nhân trong tập thể đó. Vậy ý chí đưa ra những quyết định đó dựa vào cơ sở nào để có thể ra quyết định thay cho cả tập thể, hay đúng hơn là áp đặt quyết định của mình lên cả tập thể? Quan sát từ tất cả các tập thể từ trước tới nay, thì xét đến cùng yếu tố tiến gần nhất tới việc đảm bảo cho khả năng đó là bạo lực, hay đúng hơn, là sự hủy diệt. Điều này có thể dễ dàng thấy được trong những tập thể vốn chấp nhận yếu tố bạo lực như quân đội, tội phạm có tổ chức, hay các thể chế nhà nước thời cổ. Các lãnh chúa Châu Âu Trung Cổ thống trị người dân trong lãnh địa của mình bằng đội ngũ binh lính và kỵ sĩ chuyên nghiệp, và nhà vua thực chất cũng chỉ là một lãnh chúa sở hữu vũ lực mạnh hơn tất cả các lãnh chúa khác mà thôi.

Ngay cả những tập thể hoạt động trên nguyên tắc “dân chủ”, tức bỏ phiếu lấy ý kiến số đông, trên thực tế cũng dựa vào bạo lực. Bạo lực trong trường hợp này ẩn mình trong sức mạnh áp đảo của số đông so với số ít hay với từng cá nhân, và trong thực tế sẽ được thực thi một cách gián tiếp thông qua một lực lượng mang danh nghĩa đại diện cho cả tập thể. Điều này đặc biệt đúng khi quyền lợi của số đông không cho phép số ít được rời khỏi tập thể. Một cá nhân có thể thấy sự áp đặt ý chí bằng bạo lực tiềm ẩn này hoàn toàn “hợp lý”, hay thậm chí là “công bằng”, nếu như cá nhân đó ngẫu nhiên thuộc về số đông, được hưởng lợi hay ít ra là không bị ảnh hưởng từ việc áp đặt ý chí lên số ít hay cá nhân khác. Ngược lại, cũng cá nhân đó sẽ nhanh chóng thấy sự áp đặt là “bất công”, “trái đạo đức” nếu như bản thân nằm trong số các nạn nhân, nhất là khi sự áp đặt ấy đe dọa một giá trị cốt lõi nào đó của nhân cách cá nhân.

Rất may rằng ngày nay trong đa số trường hợp, đối với những tập thể mà việc tham gia mang tính tự nguyện như các doanh nghiệp hay đoàn thể, cá nhân hoàn toàn có thể tự mình rút ra khỏi tập thể mà không gặp phải sự đe dọa nghiêm trọng tới sinh mạng, sức khỏe hay tài sản ngoài những quyền lợi có được từ chính việc tham gia tập thể đó. Khi đó tập thể cũng không thể áp đặt ý chí của mình lên cá nhân nếu như không muốn gặp phải sự can thiệp từ phía một tập thể lớn hơn và quyền lực hơn là xã hội mà đại diện là nhà nước. Thế nhưng đối với những tập thể mà việc tham gia không mang tính tự nguyện và cá nhân rất khó có thể thoát khỏi như gia đình hay chính các xã hội thì sự việc sẽ thế nào? Hẳn không khó để tìm ra câu trả lời khi đứng trước hiện thực là cách các bậc cha mẹ bắt buộc con cái phải nghe lời, và cách mà các nhà nước hiện nay sử dụng các lực lượng vũ trang và bảo vệ pháp luật.

Mở rộng ra, có thể nói rằng ít nhất ở thời điểm hiện tại, trong mọi trường hợp phương pháp duy nhất có thể gần như đảm bảo chắc chắn cho một cá nhân có thể áp đặt ý chí của mình lên một cá nhân khác là sự hủy diệt, mà đại diện điển hình là bạo lực giữa người với người. Sự hủy diệt chỉ thất bại trong trường hợp nó hủy diệt chính sinh mạng của đối tượng trước khi kịp đạt đến mục đích. Có thể trong tương lai khoa học sẽ phát minh ra một phương pháp nào đó để điều khiển suy nghĩ của con người mà không cần đến bạo lực. Tuy nhiên đó vẫn sẽ là sự hủy diệt, chỉ khác ở chỗ nạn nhân của sự hủy diệt sẽ là nhân cách tự do của cá nhân mà thôi.

4. Cơ chế hoạt động cho tập thể

Hiển nhiên, nói như vậy không có nghĩa là tất cả các tập thể trong xã hội loài người hiện tại đều được điều hành bằng bạo lực. Trên thực tế có thể có rất nhiều cơ chế hoạt động khác có thể được sử dụng cho một tập thể. Quyền lực kiểm soát tập thể có thể không đến từ bạo lực mà từ các quyền lực mềm khác, hoặc từ sự giao phó của tất cả các cá nhân trong tập thể dựa trên một cơ chế nhất định. Một tập thể cũng có thể hoàn toàn không có các cá nhân nắm quyền điều hành một cách lâu dài, mà từng quyết định chung của tập thể được đưa ra bởi sự thương thảo, thỏa hiệp và đồng thuận của tất cả các cá nhân cho từng trường hợp cụ thể. Các cá nhân trong một tập thể cũng có thể đơn thuần chỉ thương lượng trực tiếp ở mức độ cá nhân với nhau, và tập thể chỉ được duy trì bởi một số nguyên tắc chung tối thiểu đã được tất cả các cá nhân cùng chấp nhận. Việc cơ chế nào có thể sử dụng được phụ thuộc vào số lượng và trình độ phát triển của các cá nhân trong tập thể đó.

Bạo lực có thể là con đường dễ dàng nhất để kiểm soát một tập thể, nhưng cũng thường là con đường kém hiệu quả nhất về mặt lâu dài. Một tập thể các cá nhân mà sự kiểm soát được duy trì và bảo vệ bằng bạo lực hoặc sự đe dọa bạo lực, hay các đe dọa về lợi ích khác sẽ không thể có được hiệu quả hoạt động bằng một tập thể trong đó mọi cá nhân đều được tôn trọng đúng mức, và sự khác biệt được giải quyết qua tranh luận, thương lượng, thỏa hiệp và đồng thuận dựa trên một số nền tảng cơ bản chung mà tất cả mọi cá nhân trong tập thể có thể cùng chấp nhận. Lý do đơn giản là vì đối với một cá nhân, việc ý chí tự do và nhân cách tự thân của bản thân bị phủ nhận, nếu như không đủ tạo nên sự phản kháng công khai, thì cũng sẽ làm mất đi phần lớn cảm giác trách nhiệm của cá nhân đối với vai trò của mình trong tập thể. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến sự giảm sút năng suất, chất lượng và tính sáng tạo trong bất cứ hoạt động nào mà cá nhân đó phụ trách.

Một cơ chế tiến bộ hơn và được sử dụng phổ biến ngày nay là lấy ý kiến số đông. Các cá nhân trong tập thể có thể vẫn sẽ không đồng thuận về các vấn đề cụ thể, nhưng điều mà tất cả các cá nhân cùng đồng thuận ở đây là một nguyên tắc ra quyết định chung. Cho đến chừng nào tất cả các cá nhân còn cùng đồng ý về điều này, thì ít nhất trên lý thuyết có thể nói rằng các quyết định chung của tập thể đều đạt được sự đồng thuận gián tiếp từ phía các cá nhân. Tuy nhiên, việc duy trì sự đồng thuận hoàn toàn và thực chất của tất cả các cá nhân trong tập thể về một nguyên tắc ra quyết định chỉ có thể đạt được nếu như cá nhân cảm thấy việc tham gia vào tập thể là tự nguyện và việc rút lui khỏi tập thể là tự do. Điều này có thể là đúng đối với các doanh nghiệp hay đoàn thể dân sự bình thường, nhưng trên thực tế là việc không thể đối với hầu hết tất cả công dân các quốc gia trên thế giới ngày nay, dù cho việc đó có là “công bằng” hay không. Và do đó, thực chất các nhà nước “dân chủ” ngày nay vẫn hoạt động dựa trên nền tảng bạo lực, dù sự lạm dụng bạo lực đã được kiểm soát ở một mức độ nhất định.

Cũng phải nói thêm rằng, một tập thể trong đó ý kiến cũng như tự do của mọi cá nhân đều được tôn trọng ở mức độ cao không hề là bất khả thi. Trên thế giới đã xuất hiện những mô hình doanh nghiệp do người lao động tự quản mà không cần đến bộ máy quản lý và lãnh đạo chuyên trách. Ở đó, các cá nhân tự thỏa thuận về trách nhiệm công việc với nhau, và quyền lực, hay nói đúng hơn là sức ảnh hưởng, của những cá nhân có vai trò lãnh đạo đều dựa trên sự tin tưởng tự nguyện của các cá nhân khác trong tập thể (tham khảo Holacracy). Trong lĩnh vực giáo dục, các mô hình trường học trong đó sự tự chủ của từng cá nhân học sinh được tôn trọng triệt để, nơi mà học sinh, giáo viên lẫn nhân viên nghiệp vụ đều bình đẳng về mặt quyền lực cũng đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới (tham khảo Sudbury school).

Những mô hình này cho đến nay tuy chưa được phổ biến rộng rãi, nhưng đã đạt được thành công ở mức nhất định, chứng minh được tính khả thi và cho thấy tiềm năng trở thành tiêu chuẩn cho các tập thể trong tương lai. Mức độ phát triển cả về năng lực lẫn nhân cách của các cá nhân trong tập thể càng cao, thì mức độ tự do và lỏng lẻo có thể đạt được mà vẫn giữ sự kết nối trong tập thể càng cao. Đó là vì hai lý do : 1. càng phát triển cao thì cá nhân càng ý thức được giá trị của tự do tư tưởng và sự tôn trọng nhân cách cá nhân đối với bản thân cũng như đối với các cá nhân khác, và 2. càng phát triển cao thì các cá nhân trong tập thể càng có thể dễ dàng tìm ra được các phương pháp giải quyết mâu thuẫn quyền lợi có hiệu quả mà không cần dùng đến bạo lực hay sự áp đặt ý chí.

Việc xóa bỏ hoàn toàn mâu thuẫn quyền lợi, ít nhất ở thời điểm hiện tại, là điều không thể, vì “quyền lợi” là một khái niệm tương đối: “quyền lợi” của người này có thể là “sự áp đặt” đối với người kia. Do đó, một tập thể lý tưởng mà trong đó tự do, nhân cách và quyền lợi của mọi cá nhân đều được tôn trọng một cách tuyệt đối có thể là không bao giờ đạt tới được, nhưng đó là cái đích mà chúng ta nên nhắm tới, tương tự như việc khoa học nhắm tới chân lý khách quan tuyệt đối của vũ trụ vậy.

5. Kết luận

Tất cả những điều lảm nhảm tôi viết ra ở trên đây không phải là những phát hiện mới mẻ hay có giá trị gì, mà đơn giản chúng chỉ là nền tảng lý luận cho một số quan điểm của riêng tôi như sau:

  • Tập thể đơn giản chỉ là một nhóm các cá nhân, trong đó mỗi cá nhân có ý chí và lợi ích của riêng mình. Do đó việc cho rằng tập thể “thiêng liêng” hơn cá nhân, ý chí của tập thể “đứng trên” ý chí cá nhân, lợi ích của tập thể “phải được ưu tiên” hơn lợi ích cá nhân là điều vô nghĩa và vô căn cứ về mặt đạo đức. Mọi cá nhân nên và cần tôn trọng bản thân trước tiên, sống bằng ý chí của chính mình, và lấy việc phục vụ lợi ích của bản thân làm đầu. “Lợi ích tập thể” chỉ nên được xét đến khi nó gián tiếp phục vụ lợi ích của cá nhân, và điều đó cũng phải do mỗi cá nhân tự đánh giá.
  • Nếu như một cá nhân không được tự do lựa chọn việc tham gia hay rút khỏi tập thể, thì cá nhân đó cũng không có nghĩa vụ về mặt đạo đức phải tuân theo những quyết định và luật lệ của tập thể. Do đó, trẻ em không có nghĩa vụ đạo đức phải tuân thủ lời nói của cha mẹ, và người dân không có nghĩa vụ đạo đức phải tuân thủ luật pháp của quốc gia mình sinh sống, trừ khi người đó đã lựa chọn di cư tới quốc gia ấy trước.
  • Khi chúng ta thuộc về số ít, hãy nhớ rằng số đông cũng chỉ là tập hợp những kẻ chạy theo lợi ích của bản thân, chứ không hề sở hữu đạo đức hay trí tuệ ghê gớm nào. Khi chúng ta thuộc về số đông, hãy nhớ rằng số ít rất có thể đang cảm thấy bị chúng ta chèn ép, mà không có con đường nào để thoát ra được.
  • Vì cá nhân là nền tảng cốt lõi làm nên tập thể, nên cách thực chất và lâu bền nhất để xây dựng nên một tập thể tốt hơn là nuôi dưỡng nên những cá nhân tốt hơn. Mặt bằng phát triển chung của các cá nhân trong tập thể sẽ quyết định bản chất cơ chế hoạt động trong thực tế của tập thể, bất chấp cơ chế đó có được đặt tên như thế nào. Ở đây, mức độ “tốt” của tập thể được đánh giá bằng mức độ áp đặt trong việc điều hành tập thể, và mức độ “tốt” của cá nhân được đánh giá bằng mức độ áp đặt trong cách cá nhân đó đối xử với xung quanh và với bản thân.