Về bài viết “Chuyện bé như hạt gạo…”

Chú ý: Đây là một bài viết từ một người bạn của tôi nhằm đáp lại bài viết “Chuyện bé như hạt gạo hay thảm họa quốc gia” được đăng tại đây và đã được rất nhiều người chia sẻ trên Facebook. Bài viết chỉ mang tính tham khảo và tập trung vào duy nhất một mục đích là chỉ ra những vấn đề về mặt khoa học trong bài viết được dẫn link nói trên, chứ không nhằm bàn luận gì về sự việc cá chết hàng loạt của Vũng Áng nói riêng và vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung.

Tựa: Tác giả bài viết không có ý quy kết hay bào chữa nguyên nhân cá chết hay các sự kiện đến cá chết và Vũng Áng cho bất cứ ai. Chỉ nêu ra những cái sai cơ bản của bài “báo cáo khoa học” trên.

Link bài gốc

Thông thường, một “báo cáo khoa học” sẽ gồm 4 phần chính:

– Cơ sở lý thuyết

– Thực nghiệm

– Phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm.

– Kết luận, khuyến nghị.

Có thể thấy ngay, bài viết trên không có phần thực nghiệm, và do đó cũng không có cả phần phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm.

I. Các sai sót về định tính trong bài.

1.

chuyen-be-nhu-hat-gao-1

Đoạn này trích dẫn theo tài liệu:
” Heavy Metals Toxicity and the Environment” .

Tuy nhiên, thực tế trong tài liệu viết:

chuyen-be-nhu-hat-gao-2

Dịch doạn bôi đậm tiếng Anh: Độc tính của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như liều lượng, đường hấp thụ, dạng tồn tại hóa học cũng như tuổi, giới tính, đặc điểm gen và tình trạng dinh dưỡng của người phơi nhiễm.

Thông tin bài viết truyền tải KHÔNG CHÍNH XÁC VỚI NGUỒN

2.

chuyen-be-nhu-hat-gao-3

Trong bài viết có hình ảnh, được chú thích là “cột nước thải”, trích dẫn nguồn theo link: http://dantri.com.vn/xa-hoi/vu-ca-chet-hang-loat-ngu-dan-tu-lan-bien-truy-tim-nguon-xa-thai-doc-2016042210520221.htm

Tuy nhiên trong link đã dẫn trên, không hề có những hình ảnh này.
Tiếp: Theo link này về clip của VTC-14, từ 1 phút 20 trở đi có thể thấy đây là cái ống bị hà bám chứ KHÔNG PHẢI là cột nước thải.
http://tinvn.biz/ong-xa-thai-cua-formosa-duoi-day-bien-vung-ang.html

Hoàn toàn không có hình ảnh về Cột nước thải.
Do đó thông tin bài viết truyền tải KHÔNG CHÍNH XÁC VỚI NGUỒN.

3.

chuyen-be-nhu-hat-gao-4

Nguồn của bài viết tự trích dẫn chính mình, và không có chi tiết này.

Theo nguồn nghiên cứu năm 1992 của Phòng thí nghiệm Oak Ridge (Hoa Kỳ): http://www.vce.org/mercury/methyl_mercury.pdf

Trên thực tế, nghiên cứu về liều lượng nguy hiểm hấp thụ qua da của Methyl thủy ngân đều chưa có con số lượng hóa chính xác (hấp thụ trong bao nhiêu thời gian, tỷ lệ, liều lượng).

Tuy nhiên, nếu xem xét các số liệu đã có về liều gây chết trong 24 giờ của Methyl thủy ngân trên chuột, con số trên là 20 – 50 mg/ kg thể trọng qua đường ăn uống. Giả sử độ mẫn cảm của người và chuột là như nhau thì một người 60 kg cần hấp thụ hoàn toàn vào máu từ 1,2 – 3 g methyl thủy ngân để chết trong 24 giờ. Tức là khoảng 0,3 – 0,75 ml, tương đương 6 – 25 giọt. Việc hấp thụ hoàn toàn 100% vào máu lượng này ngay lập tức là vô phương. Vì thế có thể kết luận thông tin đưa ra trên là KHÔNG CHÍNH XÁC.

II. Các sai sót về định lượng trong bài.

1.

chuyen-be-nhu-hat-gao-5

Bài viết có đoạn: Chỉ cần một lượng chì 1g/ 1 triệu lít nước cũng đủ chết người, theo nguồn: Frances Solomon, ‘Impacts on aquatic ecosystems and human health’, Mining.com (April, 2008)

Tuy nhiên, trong nguồn bài viết này KHÔNG CÓ đoạn nào như trên. Bảng 1 trang 15 cho thấy hàm lượng chì cho phép trong nước uống của Canada là 10 ppb, tức 10 phần tỷ, nếu tính gần đúng theo khối lượng tức là 10 g/ 1 triệu lít nước ( 1 lít nước nặng 1000g, 1 triệu lít nước nặng 1 tỷ g). Vậy là người Canada được phép chết 10 lần mỗi lần uống nước?
Tiếp, theo tài liệu này của Trung tâm kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh Hoa Kỳ
http://www.cdc.gov/niosh/idlh/7439921.html

Liều gây chết của chì đối với người là 450 mg/ kg thể trọng qua đường ăn uống, tức là 31,5 g đối với người nặng 70 kg. Tức là nếu hấp thụ hoàn toàn nước chứa chì với nồng độ 1 g/ 1 triệu lít, 1 người nặng 70 kg cần uống và hấp thụ hoàn toàn 31,5 triệu lít nước thì sẽ chết, tức là tương đương với 12,6 lần thể tích bể bơi tiêu chuẩn Olympic.

Kết luận: THÔNG TIN SAI NGHIÊM TRỌNG. KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG NGUỒN.

2.

Bài viết có đoạn: 1 g chì / 10 triệu lít nước đủ nguy hại đến cá, theo bài báo của Solomon.

chuyen-be-nhu-hat-gao-6

Thực tế trong bài báo của Solomon:

chuyen-be-nhu-hat-gao-7

Bảng trên cho thấy tiêu chuẩn an toàn cho phép của chì đối với các sinh vật thủy sinh là từ 1-7 ppb, tức 1-7 g/ 1 triệu lít nước, tức là gấp từ 10-70 lần con số trong bài viết trên đưa ra.
Kết luận: THÔNG TIN SAI, KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG NGUỒN.

3.

Bài viết có đoạn: Theo nghiên cứu của Salomon chỉ cần 0,1 ppb lượng ion bạc là đủ giết cá.

chuyen-be-nhu-hat-gao-8

Tuy nhiên, trên thực tế, trong nghiên cứu của Salomon KHÔNG có đoạn nào như thế này. 0,1 ppb lượng ion bạc là hàm lượng an toàn cho phép theo tiêu chuẩn của Canada như bảng 1 phía trên.
Vậy bao nhiêu bạc thì đủ giết cá?
Theo nghiên cứu của đại học Kentucky, Hoa Kỳ, đối với 5 loại cá thí nghiệm, hàm lượng ion bạc đủ để gây chết đối với các cá thể cá (trong 5 loài thí nghiệm) là 183 -1065 microgam/ lít, tức 183-1065 gam/ triệu lít, gấp 1.830 lần – 10.650 lần con số bài “nghiên cứu khoa học” trên đưa ra.

http://images.library.wisc.edu/EcoNatRes/EFacs/Argentum/Argentumv05/reference/econatres.argentumv05.shawacute.pdf

Kết luận: THÔNG TIN SAI. KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG NGUỒN.

KẾT LUẬN CHUNG:

Chỉ trong một bài viết ngắn, khoảng gần 2000 chữ nhưng chứa rất nhiều điểm sai sót định tính, định lượng theo hướng trầm trọng hóa vấn đề như trên và nhiều phỏng đoán không có cơ sở khoa học. Đây là một bài viết ngụy tạo khoa học và vô giá trị.

Xoay quanh câu chuyện học Sử

Trong suốt thời gian vừa rồi, báo chí và dư luận (mạng) xã hội bàn tán rất sôi nổi và nóng hổi xung quanh vấn đề học sinh chán học Sử, không biết Sử nước nhà và đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác. Cá nhân tôi đây đó cũng có một số suy nghĩ của riêng mình sau khi đọc một số bài báo và bài viết trên mạng, tuy nhiên do chúng quá vụn vặt và cảm tính nên chưa viết gì cụ thể cả. Đến nay, sau một thời gian quan sát và tích lũy, tôi xin viết ra những suy nghĩ của mình dưới đây để những ai có hứng thú có thể tham khảo.

Tuy nhiên trước hết, tôi phải nói rõ rằng tôi không phải một nhà chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục, cũng như có hiểu biết cụ thể về vấn đề lần này. Tôi mới chỉ đọc một vài bài báo, một vài bài bình luận, và một tá comment facebook, do đó những gì tôi viết ra ở đây là dựa trên cách hiểu nông cạn của riêng tôi, và không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Nếu bạn nào muốn đọc những bài viết phân tích cụ thể, sâu sắc và có căn cứ chắc chắn hơn, thì tôi xin giới thiệu facebook của anh Nguyễn Quốc Vương, một nghiên cứu sinh ngành giáo dục tại Nhật Bản. Còn sau đây, tôi xin trình bày những suy nghĩ của cá nhân mình.


1. Học sinh xé đề cương Sử, thế thì sao?

Cá nhân tôi rất thích câu hỏi “thế thì sao?” (so what?), tuy rằng trong thực tế cuộc sống tôi rất ít khi dùng vì thường sẽ bị cho là khiêu khích. Tôi thích câu hỏi đó vì mặc dù rất đơn giản, nhưng nó khiến cho người được hỏi phải nhìn nhận rõ hơn những quan điểm, lòng tin và định kiến (gọi chung là tiền đề) của bản thân mà bình thường ít người ý thức đến. Khi đưa ra một quyết định hay một phán xét nào đó, chúng ta thường có xu hướng dựa vào cảm tính của mình để đưa ra kết luận chớp nhoáng dựa trên một số tiền đề nhất định, sau đó mới bắt đầu lục tục dùng đến lý trí để cố nặn ra những lý do củng cố cho kết luận của mình. Một trong những hệ quả của việc “suy nghĩ nhanh” kể trên là chúng ta thường bỏ qua một công đoạn rất quan trọng, đó là xác định rõ ràng vấn đề và tiền đề. Xác định sai vấn đề hay tiền đề đều sẽ dẫn đến việc đưa ra những quyết định và phán xét “sai lệch” và không đem lại kết quả như mong muốn.

Quay trở lại câu chuyện học Sử, nếu tôi nhớ không nhầm thì mọi chuyện bắt đầu nóng lên sau khi có việc các em học sinh ở một trường nọ xé đề cương Sử vứt trắng sân trường sau khi biết không phải thi môn này. Báo chí vào cuộc, dư luận sôi sục, mọi người tranh nhau nói. Tôi thì chỉ ngứa mồm muốn hỏi một câu “thế thì sao?”. Trong ký ức thời học sinh của tôi “đề cương Sử” chỉ là một tờ giấy ghi lại tất cả những nội dung cần phải học thuộc lòng để thi và kiểm tra. Nó đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho một mục đích là thi cử, không hơn, không kém. Khi mục đích không còn, thì công cụ cũng là đồ bỏ. Chuyện chỉ đơn giản có thế. Là tôi tôi cũng sẽ vứt ngay vào sọt rác. Không xé, không vứt thì giữ lại làm gì? Có ai ngây thơ nghĩ rằng kể cả không thi học sinh cũng nên/cần/phải ngồi ôn đề cương Sử không? Nếu không, vậy học sinh xé đề cương Sử thì có làm sao? Chuyện này thì liên quan gì đến việc “học” Sử? Tại sao chúng ta lại nhảy từ việc “thi” sang việc “học” như vậy? Vấn đề ở đây nằm ở việc “học” hay việc “thi”? Việc nhầm lẫn giữa “thi” với “học” chẳng phải cũng là một vấn đề hay sao?

Tôi không nói rằng việc học Sử ở trường lớp không có vấn đề. Tôi không nói rằng mọi người không nên bàn luận về giáo dục chỉ vì học sinh xé đề cương. Cái tôi muốn nói ở đây là chúng ta cần nhìn rõ hiện tượng đang diễn ra thực sự nói lên cái gì. Trong mắt tôi, học sinh xé đề cương Sử rõ ràng là phản ứng lại đối với việc “thi” Sử, chứ không phải việc “học” Sử. Do đó cái chúng ta cần chú ý đến trước hết là việc “thi”, chứ không phải việc “học”. Chừng nào “thi” còn được xem là mục đích cuối cùng và thậm chí là bị nhầm lẫn với việc “học”, thì chúng ta có tranh luận, sửa đổi việc “học” chán chê cũng chẳng đem lại kết quả nào lâu dài. Đơn giản là vì mục đích quyết định hành động. Thầy cô giáo có muốn sáng tạo, thử nghiệm cách dạy mới, cuối cùng vẫn sẽ phải dành thời gian để “luyện thi” cho học sinh vì thành tích của mình. Học sinh học có vui vẻ thích thú đến mấy, cuối cùng vẫn phải đối diện với thực tế “thi cử” phũ phàng nếu muốn tốt nghiệp. Cái trước mắt chúng ta cần là 1. sửa đổi cách “thi”, hoặc/và 2. tách việc “thi” ra khỏi việc “học”, khiến việc “thi” trở nên không bắt buộc và không phải là mục đích của việc “học”.

Cũng nói thêm rằng, tôi ủng hộ việc xé đề cương Sử, ủng hộ nhiệt liệt. Vì sao? Vì trong mắt tôi đó là một hành vi khẳng định nhân cách, khẳng định “tính người” của các em học sinh. Nó chân thực và có tính nhân văn, “tính người” hơn nhiều những lời lẽ và lý luận cao siêu mà tôi thấy xuất hiện la liệt khắp nơi xoay quanh hành động đó. Đối với tôi, thời học sinh việc ngồi dành cả một tiết học để chép đề cương Sử là một cực hình. Đúng hơn, đó là một sự sỉ nhục nhân cách, sỉ nhục “tính người”, phủ nhận quyền tự do “làm người” của tôi. Việc chép những gì đã viết trong sách ra một tờ giấy theo mệnh lệnh, học thuộc lòng nó để rồi quên ngay sau 5 phút ra khỏi phòng thi là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa. Tôi sinh ra trên đời không phải để làm những việc vô nghĩa ấy theo lệnh của người khác. Xét trên một khía cạnh nào đó, những người bắt ép tôi chép đề cương Sử cũng giống như những kẻ thực dân đế quốc đè đầu cưỡi cổ dân ta ngày xưa vậy.

Tương tự, câu hỏi “thế thì sao” cũng có thể được áp dụng cho một vụ “xì căng đan” được báo chí đưa tin sau đó ít lâu. Đó là việc một số em học sinh nhầm lẫn một vài nhân vật lịch sử. Cụ thể thế nào tôi không nhớ nữa, vì nó quá nhạt nhẽo và quá vô nghĩa. Các em nhầm lẫn, thế thì sao? Việc biết về những nhân vật lịch sử đó có nói lên được thực chất năng lực và kiến thức sử học của các em không? Nó có nói lên được sự thông minh, năng lực tiềm tàng, giá trị con người của các em không? Nó có giúp ích được gì cho các em không, có ý nghĩa gì đối với các em không? Nó có giúp ích được gì cho xã hội không? Nếu những kiến thức lịch sử đó là “thường thức”, là việc ai cũng phải biết, không biết là một tội, thì ai là người đã quyết định điều đó, dựa vào quyền hạn gì? Nếu chưa suy nghĩ thấu đáo đến những điều như vậy mà đã nhao nhao lên, thì chúng ta chỉ lãng phí thời gian và nước bọt mà thôi. Toàn bộ đoạn phỏng vấn các em học sinh chỉ để lại trong tôi một ấn tượng duy nhất: nhỏ nhen, nếu không muốn nói là tiểu nhân. Tôi chỉ ước gì các em đã có thể trả lời thẳng vào mặt phóng viên rằng “Tôi không biết, thế thì sao?“.

2. Họ đang muốn giữ lại cái gì thế?

Tiếp sau hai vụ lùm xùm của các em học sinh, là đến đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác để làm thành môn gì gì đó, và đưa môn này trở thành môn tự chọn thay vì bắt buộc. Nói thực tôi chưa đọc một bài viết cụ thể nào về đề án kia, nên cũng chẳng biết cái “tích hợp” mọi người đang nói đến là cái gì. Tôi chỉ mường tượng ra đại khái nó là một môn tổng hợp các kiến thức về xã hội, trong đó có các kiến thức lịch sử. Nếu như vậy thì tôi thấy cũng bình thường, tích hợp hay không cũng thế. Vì xét cho cùng lịch sử vẫn xuất hiện trong chương trình học, vấn đề là lượng thế nào và cách truyền đạt ra sao. Và việc đưa môn Sử thành tự chọn cũng là một việc tốt, vì nó tôn trọng tự do của học sinh. Thế nhưng rất nhiều người lại lên tiếng phản đối kịch liệt đề án này. Tôi cũng chỉ đọc qua loa một vài ý kiến, nhưng cảm nhận của tôi là đa số những ý kiến này không thuyết phục, dựa trên những định kiến và quan điểm lệch lạc (với quan điểm của tôi).

Nhiều người muốn giữ Sử làm một môn độc lập, thậm chí đưa ra những ý kiến như “tích hợp/tự chọn là khai tử môn Sử”. Nhưng kiến thức lịch sử đâu có biến mất khỏi chương trình sau khi được tích hợp? Học sinh đâu có bị cấm học Sử sau khi Sử thành môn tự chọn? Tại sao hầu hết mọi người không mấy quan tâm xem kiến thức Sử sẽ có những nội dung gì, được học thế nào? Tại sao họ cứ nhất mực chú tâm đến cái từ “độc lập” với “bắt buộc”? Cái mà họ thực sự quan tâm là cái gì vậy? Trong mắt tôi, cái hầu hết những người đó muốn giữ chỉ là một cái mẽ. Họ chỉ muốn giữ lại một khái niệm, một biểu tượng, một “môn Sử” trên giấy tờ và danh nghĩa. Đối với họ, một “môn Sử” “độc lập” và “bắt buộc” là một cái gì đó linh thiêng, tuyệt đối, không ai được chạm tới. Đối với họ, đây là vấn đề “sĩ diện” của “môn Sử”, của chính họ, chứ không còn là vấn đề giáo dục nữa. Họ không quan tâm xem học sinh muốn học gì, học như thế nào, có thích học hay không. Họ không quan tâm đến Sử học, đến học sinh, họ chỉ muốn bắt học sinh học “môn Sử” của họ, học những gì họ cho là học sinh phải học, đơn giản là vì họ muốn thế.

Sử học vốn không phải là một “môn học”. Sử học vốn là một môn khoa học, nghiên cứu về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Trước khi Sử bị biến tướng thành một môn giáo khoa, người ta nghiên cứu lịch sử bằng cách tìm hiểu các tài liệu lịch sử, các di tích, các nhân chứng vật chứng. Vì không ai có thể kiểm chứng được quá khứ trong hiện tại, nên lịch sử luôn mang tính chủ quan. Bởi vậy những người muốn biết được “sự thật” lịch sử chỉ có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn, đối chiếu và tự rút ra “sự thật” lịch sử của riêng mình. Khi có thêm những thông tin mới xung đột với “sự thật” hiện tại, thì “sự thật” đó cần được xem xét và điều chỉnh nếu cần thiết. Đó là khoa học. Khoa học không phải chân lý bất biến. Khoa học đơn giản chỉ là một trong những cách lý giải thế giới tự nhiên và con người, và khoa học luôn sẵn sàng thay đổi để phù hợp với những gì quan sát được từ thế giới xung quanh. Nếu chiếu theo cách hiểu đó, thì cái gọi là “môn Sử” hiện nay không phải là Sử học, càng không phải một môn khoa học. Cái mà đa số những người phản đối tích hợp và tự chọn môn Sử muốn giữ lại chỉ một công cụ tẩy não mà thôi.

Tôi không ủng hộ cũng không phản đối việc “tích hợp” môn Sử, trước hết vì tôi cũng chưa hiểu cái “tích hợp” mà người ta đang nói đến là cái gì. Tuy nhiên tôi ủng hộ quyền tự do lựa chọn. Và đọc những ý kiến đưa ra bảo vệ cho cái sự “độc lập” và “bắt buộc” của môn Sử thì tôi thấy ghê sợ. Ghê sợ vì đằng sau những ý kiến đó là những quan điểm, chuẩn mực, định kiến nguy hiểm cho giáo dục và bản thân các em học sinh. Trong những ý kiến đó, các em học sinh “phải” biết cái này, “phải” có phẩm chất kia, như thể các em không phải là những con người tự chủ mà là những công cụ phục vụ cho giấc mơ của người khác vậy. Chúng ta ngày ngày tâng bốc các em học sinh, trường trường căng biểu ngữ “tất cả vì các em học sinh thân yêu”, nhưng có được bao nhiêu người thực sự coi các em, từng em, là những con người, với đầy đủ những cảm xúc, suy nghĩ, lý tưởng, ham muốn và tự do như tất cả những “người lớn” khác? Giáo dục là cái lò luyện công cụ hay là nơi phát triển con người?

3. Lịch sử không phải để giáo dục lòng yêu nước

Một trong những lý do được đưa ra để ủng hộ môn Sử hiện nay là để “giáo dục lòng yêu nước”. Tôi rất ghét lòng yêu nước. Hay nói đúng hơn tôi rất ghét cái mà nhiều người tự cho là “lòng yêu nước”. Tôi ghét “lòng yêu nước” hơn cả “thuần phong mỹ tục”, “chuẩn mực đạo đức” hay “truyền thống văn hóa”, vì những thứ đó thường chỉ dùng để khinh bỉ, đả kích, bắt ép người khác, còn “lòng yêu nước” có thể dùng làm cái cớ để đàn áp và giết chóc. Tôi không tin vào giá trị của “lòng yêu nước”. Cái tôi tin là một cảm xúc tự nhiên và chân thành đối với gia đình, bạn bè, cộng đồng, những người nói cùng ngôn ngữ, có cùng văn hóa với mình, mong muốn cho họ được sống hạnh phúc hơn, no đủ hơn, tự do hơn. Cảm xúc đó không cần đến cái gọi là “môn Sử” hiện nay, mà hình thành thông qua sự tiếp xúc va chạm với xung quanh trong suốt quá trình trưởng thành và sinh sống của mỗi người. Nếu không có cảm xúc đó, thì cái gọi là “lòng yêu nước” chỉ là một thứ tín ngưỡng mù quáng, một công cụ để kìm kẹp và áp chế người khác, và “giáo dục” nó là một việc làm nguy hiểm.

Từ trước đến nay, người ta nghiên cứu về lịch sử (không phải “học” Sử) để làm gì? Có thể vì họ muốn dùng lịch sử để lý giải tình trạng hiện tại, lý giải những mối quan hệ đang tồn tại, dựa trên những ân nghĩa, thù oán, nhân duyên trong quá khứ, để từ đó có thể đưa ra được những hành động phù hợp, mang đến kết quả họ mong muốn. Có thể đơn giản họ chỉ muốn biết về những “sự thật” đã xảy ra. Có thể những thông tin lịch sử thu hút họ, khiến họ hứng thú lao vào tìm hiểu. Dù thế nào đi nữa, con người ta tìm đến với lịch sử là vì những động cơ và mục đích thực tiễn và tự thân, như đối với tất cả các môn khoa học khác. “Môn Sử”, nếu muốn thu hút được học sinh, cần phải phục vụ được một nhu cầu nào đó của bản thân các em học sinh, chứ không phải mục đích ích kỷ của những người xung quanh. Nói cách khác, bắt học sinh “học” lịch sử để “giáo dục” “lòng yêu nước” là một trong những nguyên nhân khiến môn Sử thất bại thảm hại như ngày nay.

Bên cạnh “lòng yêu nước”, tôi còn nghe thấy nhiều lý do khác được dùng làm căn cớ cho cái sự “bắt buộc” của môn Sử như “biết sử để tự hào dân tộc”, “không biết sử là mất gốc”, “không biết sử làm sao viết tiếp được lịch sử dân tộc”. Cảm nhận của tôi là những câu nói đó tuy hoa mỹ mà trống rỗng và vô nghĩa. “Tự hào” để làm gì? “Mất gốc” là thế nào? “Mất gốc” thì làm sao? “Viết tiếp lịch sử” là cái quái gì? Trong suy nghĩ của tôi, chỉ có những người chưa hình thành nên một “cái tôi” vững vàng, chưa thực sự tự chủ được suy nghĩ, biết mình là ai, muốn làm gì, mới cần phải bám vào những “cái phao” mang những cái tên mỹ miều như “tự hào dân tộc” hay “gốc gác cội nguồn” mà thôi. Đó là chưa kể, những điều đó không thể dùng làm lý do để bắt ép học sinh học Sử. Nếu em học sinh nào muốn học Sử để được tự hào về dân tộc, để “có gốc”, thì tốt thôi, đó là tự do của em đó. Nhưng chúng ta không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho các em” mà bắt các em phải học. Chúng ta càng không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho đất nước/dân tộc” (thực chất là để thỏa mãn bản thân chúng ta) mà bắt các em phải học. Vì đó là hành vi vi phạm tự do của các em học sinh.

Thêm vào đó, một điều làm tôi thấy ngạc nhiên, hay đúng hơn là thất vọng, là gần như 100% những ý kiến tranh luận về việc học Sử, kể cả từ học sinh, phụ huynh, giáo viên, cho đến chuyên gia, chính trị gia, có vẻ như đều chỉ chăm chăm vào lịch sử chính trị và quân sự Việt Nam. Hầu như tôi không thấy có mấy ý kiến động chạm một cách nghiêm túc đến các mảng khác của lịch sử. Lịch sử thế giới thì sao? Lịch sử văn hóa thì sao? Lịch sử theo chủ đề thì sao? Trừ một vài người tỉnh táo và có cái nhìn rộng, còn lại không ai bàn đến những cái đó cả. Điều này càng nói lên rằng trong nhận thức của hầu hết những người đang sôi sục phát ngôn ngoài kia, lịch sử không phải một môn khoa học, không phải là tìm kiếm và mở rộng hiểu biết, mà đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho động cơ chính trị của bản thân mà thôi. Và nếu chúng ta còn giữ cái nhìn đó, thì còn lâu môn Sử nói riêng và giáo dục nói chung mới khá lên được.

4. 80% học sinh thích bắt nạt bạn học

Trước hết tôi xin nhận tội: tiêu đề trên là để câu khách, kẻo oan cho các em học sinh. Con số 80% tôi lấy từ một bài báo, trong đó có thông tin rằng trong một cuộc khảo sát, 80% các em học sinh cho biết ủng hộ việc bắt buộc học môn Sử. Ở đây tôi tạm thời dừng nói về bản thân môn Sử, mà muốn nói đến cái chuyện “ủng hộ bắt buộc” kia. Nghe qua câu chuyện, chúng ta sẽ có cảm giác rằng dường như đa số các em học sinh thích Sử, đồng ý bắt buộc môn Sử, và do đó môn Sử nên được làm môn bắt buộc. Nhưng nếu suy nghĩ một cách tường tận hơn, ta có thể thấy rằng, những em ủng hộ việc bắt buộc môn Sử hẳn là thích môn Sử. Do đó nếu Sử là môn bắt buộc, các em hẳn vẫn sẽ vui vẻ học. Kể cả nếu Sử là môn tự chọn, các em vẫn có thể lựa chọn môn Sử. Như vậy thì môn Sử có bắt buộc hay không, đối với bản thân các em ấy cũng không có mấy sự khác biệt. Trong cả hai trường hợp các em đó đều có quyền lợi “được học Sử”. Nói cách khác, chọn thế nào các em ấy cũng chẳng mất gì.

Ngược lại, số 20% các em còn lại thì có lẽ là không thích môn Sử cho lắm. Và một khi môn Sử trở nên bắt buộc thì các em sẽ mất đi quyền lợi “không phải học Sử”. Tất nhiên 80% các em kia cũng mất đi quyền lợi này, nhưng vì các em ấy thích môn Sử nên khả năng cao là quyền lợi này không có giá trị lắm. Như vậy, nhìn theo một cách nào đó, 80% các em học sinh trong cuộc khảo sát kia mong muốn tước đi quyền lợi của 20% bạn học trong khi bản thân mình thì không mất gì. Và đó là cái mà tôi gọi là “bắt nạt”. Tất nhiên, tôi không nghĩ rằng bản thân các em có chủ ý như thế, hay thậm chí là suy nghĩ được đến mức như thế, và các em hoàn toàn có quyền nói lên chủ kiến của bản thân. Nhưng tôi thấy lo ngại khi các em sẵn sàng ủng hộ việc hy sinh quyền lợi của bản thân, và quan trọng hơn, là hy sinh quyền lợi của người khác như vậy. Trong mắt tôi, đó là một trong những tác hại của cái gọi là “lòng yêu nước” với “tinh thần dân tộc” đang được “giáo dục” ở trường lớp.

Nói rộng ra, tâm lý trên cũng xuất hiện rất phổ biến ở con người nói chung. Khi chúng ta có cảm tình với một cái gì đó, chúng ta thường đề cao lợi ích và coi nhẹ tác hại mà nó mang lại. Sự thiên vị này càng nặng nề hơn khi cân nhắc lợi ích cho bản thân và tác hại với người khác. Điều này dẫn đến trong nhiều trường hợp chúng ta sẵn sàng áp đặt, bắt ép, cấm đoán, hay nhẹ hơn là lên án, đả kích người khác theo ý thích của mình, miễn là bản thân không bị ảnh hưởng gì. Điều đó có thể thấy rõ trong những “phong trào” như phản đối ăn thịt chó, dẹp lễ hội mổ lợn, cấm hôn nhân đồng giới, và bây giờ là bắt buộc học môn Sử. Tôi phản đối những “phong trào” đó, không phải vì tôi thích thịt chó, hay tôi đồng tính, mà vì tôi lo sợ rằng chúng sẽ tạo nên những tiền lệ xấu, tạo nên một xã hội ngột ngạt, trong đó con người sẵn sàng siết cổ nhau chỉ vì sở thích bản thân, miễn là cổ mình không (chưa) bị siết. Tôi không muốn nói điều đó là “sai”, vì nó là một phần tâm lý tự nhiên của con người. Tôi cũng không muốn nói số đông phải nhượng bộ số ít. Tôi chỉ muốn nhắn nhủ rằng: gieo gió thì gặt bão. Sẽ có ngày những người từng hùa theo đám đông đi siết cổ người khác, lại bị một đám đông khác hùa vào siết cổ với danh nghĩa “sở thích của số đông”.

5. Tôi ghét “học” Sử, và tôi thích lịch sử

Nếu bạn nào đủ kiên nhẫn đọc được đến đây, có lẽ sẽ có ấn tượng rằng tôi là một người ghét Sử. Thẳng thắn mà nói tôi rất chán ghét “học” Sử, nhất là sau khi đã trải qua thời cấp 2 với một cô giáo dạy Sử thường xuyên cho điểm dưới 5 và được coi là nỗi sợ hãi của học sinh cả trường. Tôi chán “học” Sử vì những cái tôi muốn biết, muốn tìm hiểu kỹ hơn thì lại không có hoặc không được chú ý, mà những cái tôi chẳng hề có hứng thú thì lại được viết tràng giang đại hải. Tôi ghét “học” Sử vì cái gọi là “học” ở trường gắn liền với “kiểm tra” và “thi cử”. Mà “kiểm tra” với “thi cử” của “môn Sử” là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa, vô bổ và vô căn cứ, làm lãng phí thời gian, lãng phí trí lực của con người.

Nhưng thế không có nghĩa là tôi ghét lịch sử. Tôi thích lịch sử là đằng khác. Thời sinh viên tôi có thể dành ra hàng tiếng đồng hồ đọc về các giai đoạn, các sự kiện lịch sử trên Wikipedia. Tôi có thể say sưa tìm hiểu về cách tổ chức của các quân đoàn lê dương La Mã, cách chiến đấu của những chiến binh pha lăng Hy Lạp, những lãnh chúa Nhật Bản của thời kỳ Chiến Quốc, cuộc binh biến của đội quân Janissary, số phận của đế chế hậu duệ La Mã Byzantine, “quân đội sở hữu quốc gia” của xứ Phổ,… Trong những nội dung tôi đã từng tìm hiểu có cả hệ thống cung cấp nước bằng ống tre của thành Edo, cách con người ta “đi ngoài” từ cổ chí kim, cách chế tạo và sử dụng súng hỏa mai, thuyền dài của người Viking, vai trò của nước chanh trong thời đại hải hành… Một số không ít những nội dung đó tôi được truyền cảm hứng từ trò chơi, truyện tranh, phim ảnh. Một số khác là do có kết nối với các nội dung tôi đang tìm hiểu. Và một số đơn giản là vì một ngày đẹp trời tự dưng tôi nổi hứng.

Đoạn văn trên tôi viết không hẳn chỉ để khoe. Mà qua đó, tôi muốn nhấn mạnh vào hai điều: 1. lịch sử rất thú vị, và 2. lịch sử không hề và không thể biệt lập một mình. Về điểm thứ nhất, tôi không thể giải thích một cách rõ ràng tại sao tôi lại thấy lịch sử thú vị, tôi càng không thể “thuyết phục” bất kỳ ai rằng lịch sử thú vị chỉ bằng lời nói. Tôi chỉ có thể nói đơn giản rằng việc phát hiện ra những gì con người đã từng làm trong quá khứ, lý giải được tại sao họ lại làm như vậy, và nhìn thấy sự liên hệ giữa quá khứ với hiện tại đem lại cho tôi một niềm thích thú. Ý nghĩa của mọi vật nằm trong mối quan hệ giữa vật đó với xung quanh. Việc phát hiện ra những mối quan hệ đó khiến cho tôi thấy thế giới xung quanh có ý nghĩa hơn, chứ không hoàn toàn hỗn loạn và ngẫu nhiên. Tuy nhiên, cái sự thích thú đó đến từ trong bản thân tôi, do tự tôi tìm ra. Tôi không cho rằng vì tôi thấy lịch sử thú vị nên tất cả mọi người khác cũng thấy vậy, hay tất cả mọi người khác đều nên/cần/phải “học” lịch sử như tôi.

Về điểm thứ hai, nhiều người cho rằng “môn Sử” là một “môn khoa học” “độc lập”. Tôi không rõ họ muốn nói gì thông qua từ “khoa học” và “độc lập”, nhưng qua những gì tôi đã tìm hiểu, thì tôi tin rằng lịch sử không thể tách rời ra khỏi rất nhiều các lĩnh vực khác, từ to tát như chính trị, quân sự, văn hóa, đến cụ thể như dinh dưỡng, tâm lý, y học, vật liệu, ngôn ngữ,… Người nghiên cứu lịch sử cần đến, và sẽ buộc phải tiếp xúc với những lĩnh vực đó để hiểu được những gì đã xảy ra trong quá khứ, hiểu được tại sao lịch sử lại diễn ra như vậy. Hơn nữa, chính sự liên kết với các mặt, các lĩnh vực thực tiễn của cuộc sống hiện tại đem lại ý nghĩa cho lịch sử, khiến người ta tự tìm đến với lịch sử. Một thứ lịch sử “chỉ có lịch sử” sẽ là một thứ lịch sử rỗng tuếch, nhàm chán, vô dụng và vô nghĩa.

Cuối cùng, tôi có một lời khuyên cho những người muốn các em học sinh nói riêng và mọi người nói chung “thích” lịch sử: nếu muốn thuyết phục ai đó, hãy tìm cách phục vụ người đó, thay vì phục vụ bản thân. Cá nhân tôi rất thích chơi trò chơi điện tử. Khi chơi Rome: Total War, tôi có hứng tìm hiểu về đế chế La Mã và Carthage. Khi chơi Mount & Blade Warband: Viking Conquest, tôi có hứng tìm hiểu về nước Anh thời kỳ tiền Norman. Tôi có hứng thú tìm hiểu lịch sử từ trò chơi, vì một khi đã bắt gặp trong trò chơi, những vùng đất, những quốc gia, những dân tộc đó không còn là xa lạ đối với tôi nữa. Tôi biết thành Carthage ở đâu trên bản đồ thế giới, vì tôi đã xuất phát từ đó mà chinh phục gần hết Địa Trung Hải. Tôi biết từng đường biển, từng vùng đất, từng hòn đảo mà tôi đã đi qua trên bước đường “chinh chiến”. Và do đó đối với tôi chúng “có ý nghĩa”. Cứ thế mỗi trò chơi có bối cảnh lịch sử lại mở ra cho tôi một chương khác của lịch sử thế giới.

Điểm quan trọng ở đây là những trò chơi đó không được tạo ra để “học lịch sử”. Chúng được tạo ra để phục vụ đúng mục đích của một trò chơi: giải trí. Và vì chúng phục vụ tốt mục đích đó của tôi, nên tôi sẵn sàng tiếp nhận chúng. Cảm hứng với lịch sử đơn thuần chỉ là tác dụng phụ, nhưng hiệu quả hơn nhiều so với hàng tá những lý lẽ cao siêu và “cao cả” mà mọi người đang ra rả rao giảng hiện nay. Tôi nói vậy không phải để muốn nói rằng môn Sử phải được biến thành trò chơi, hay lên phim, hay tìm đủ cách “sinh động hóa”, “lý thú hóa”. Tôi muốn nhắc lại rằng lịch sử, hay phương tiện truyền tải lịch sử, trước hết phải phục vụ được, và phục vụ tốt, một nhu cầu thực tiễn và tự thân của học sinh nói chung và mọi người nói riêng, nếu muốn được đón nhận và tiếp thu có hiệu quả. Mọi sự cưỡng ép truyền tải lịch sử nhằm phục vụ mục đích bên ngoài đối tượng được truyền tải đều sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. Hay ít nhất, đó không phải là lịch sử, mà là “môn Sử”.


Bài viết lần này khá dài, do nó tổng hợp những suy nghĩ lẻ tẻ rời rạc của tôi xung quanh câu chuyện “học” Sử. Tôi xin tóm tắt lại những ý chính mà mình muốn truyền tải như sau: 1. hãy tôn trọng tự do của các em học sinh, của từng em học sinh, 2. hãy suy nghĩ từ góc nhìn của các em học sinh, 3. hãy để lịch sử là một môn khoa học, là sự tìm hiểu và khám phá tri thức, 4. đừng lợi dụng lịch sử cho mục đích của bản thân, 5. nếu muốn ai đó thích lịch sử, hãy tìm cách để lịch sử phục vụ được mục đích nào đó của họ. Những suy nghĩ này không bó hẹp trong phạm vi lịch sử hay giáo dục, mà có thể và nên được áp dụng cho mọi mặt của xã hội con người. Tôi tin rằng chỉ có như vậy mọi việc chúng ta làm mới có thể có hiệu quả cao, đạt mục đích mong đợi, và dẫn đến một thế giới hòa bình hơn.

Trong bài viết này, tôi chủ yếu đưa ra các nhận định các góc nhìn của cá nhân, chứ không tập trung vào các giải pháp cụ thể. Vấn đề tìm giải pháp tôi xin nhường lại cho những người trong cuộc và có hiểu biết hơn. Tuy nhiên theo tôi những giải pháp đó cần dựa trên cơ sở là những điểm tôi đã liệt ra ở trên nếu muốn đạt được sự thay đổi thực chất và tích cực. Bạn nào có hứng thú có thể tham khảo thêm các bài viết khác của tôi như “Bàn về cái sự ‘học'”, “Tôi học tiếng Nhật ‘vui’ thế nào”“Bàn về ‘tự do'”.

Hãy tập trung vào bản thân

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết mượn nhiều ý tưởng từ cuốn sách “Conscious Business: How to build Value through Values” của Fred Kofman.

Trong một vài năm trở lại đây, khi Facebook bắt đầu lan tỏa rộng rãi hơn tại Việt Nam, cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều trang (page) có nội dung thời sự và giải trí hơn, tôi nhận thấy một xu hướng khá rõ rệt đang diễn ra: chúng ta kêu ca nhiều hơn, và chỉ trích nhiều hơn. Nhìn đâu cũng thấy mọi người kêu ca và chỉ trích về đủ vấn đề: Nhà nước, xã hội, văn hóa, doanh nghiệp, cho đến cả ông hàng xóm. Tất cả những kêu ca và chỉ trích đó đều có một điểm chung: chúng tập trung vào “chuyện của người khác” hơn là “chuyện của bản thân”. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng “chuyện của bản thân” mới là cái chúng ta nên tập trung sự chú ý và suy nghĩ.


1. Ai chịu trách nhiệm về cuộc đời bạn?

Khi được hỏi câu này, có lẽ đa số chúng ta sẽ trả lời là “chính tôi”. Nếu thực sự là như vậy, tại sao chúng ta còn kêu ca? Nếu chúng ta hiểu “trách nhiệm” theo cách tôi đã viết ở một bài viết trước, thì không có lý do gì để chúng ta kêu ca về bất cứ một vấn đề gì trong cuộc sống cả, bởi chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn về cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của chúng ta, từ những vấn đề nhỏ nhặt nhất cho đến cả những vấn đề xã hội và quốc gia. Nếu không suy nghĩ như vậy, thì chúng ta sẽ chỉ là nạn nhân của các tác động xung quanh, và sẽ không phải là người làm chủ cuộc sống của bản thân.

Nói đến đây hẳn nhiều người sẽ phản bác lại rằng: thế thì Nhà nước để làm gì, công an để làm gì, nhà trường để làm gì,… ai cũng phải có trách nhiệm chứ? Để đáp lại, tôi xin hỏi một câu: vậy ai sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất từ các vấn đề trong cuộc sống của chúng ta? Chẳng cần phải suy nghĩ nhiều chúng ta cũng có thể thấy rằng đó chính là bản thân chúng ta. Hay nói đúng hơn, chúng ta coi một điều gì đó là “vấn đề” bởi chúng ta cảm thấy mình phải hoặc sẽ phải chịu thiệt thòi từ nó. Không có gì đảm bảo là người khác sẽ thấy cùng một “vấn đề” với chúng ta, hay có thể tìm ra được cách giải quyết “vấn đề” theo ý chúng ta. Nếu họ không giải quyết hay không giải quyết được, thì chỉ có chúng ta là người tiếp tục bị thiệt thòi mà thôi.

Có người cũng sẽ lại nói rằng: nhưng mà tôi không có lỗi, cớ gì tôi phải chịu trách nhiệm? Như tôi đã nói trong bài viết trước, đúng sai và trách nhiệm không liên quan đến nhau. Kể cả khi chúng ta không có lỗi, nếu chúng ta bước lên nhận trách nhiệm thay vì đổ lỗi cho hoàn cảnh và người xung quanh, thì tức là chúng ta đã biến mình thành người trong cuộc, đặt mình vào vị trí có thể tác động và thay đổi vận mệnh của bản thân. Còn nếu chúng ta không nhận trách nhiệm, tức là chúng ta tự đẩy mình ra khỏi cuộc chơi, biến mình thành khán giả đối với chính cuộc đời của mình. Vận mệnh của chúng ta, do đó, sẽ được quyết định bởi hoàn cảnh và người xung quanh.

Không chịu trách nhiệm cũng là một lựa chọn, thậm chí đôi khi là hợp lý. Việc không chịu trách nhiệm có thể được ví như cổ động viên bóng đá cổ vũ đội nhà vậy. Họ có thể cổ vũ, có thể hò hét cầu thủ, chỉ trích huấn luyện viên, chửi mắng trọng tài, buộc tội đội bạn, nhưng cuối cùng họ vẫn không thể tác động gì đến việc thắng thua của đội nhà. Thắng thì họ vui vẻ ăn mừng, chẳng may thua thì họ hậm hực ra về, nhưng có được niềm an ủi là “không phải lỗi của mình, mà là lỗi của cầu thủ/huấn luyện viên/trọng tài/đội bạn”. Không chịu trách nhiệm đồng nghĩa với không phải chịu áp lực, không phải lao tâm khổ tứ, nhưng cũng không được có quyền lựa chọn số phận của bản thân, tức không có tự do. Lựa chọn thế nào là tự do của chúng ta.

2. Đừng quá khắt khe với bản thân

Tuy nhiên, việc nhận trách nhiệm không đảm bảo cho việc giải quyết được vấn đề. Việc nhận trách nhiệm chỉ giúp chúng ta có cơ hội giải quyết vấn đề mà thôi. Năng lực giải quyết từng vấn đề cụ thể của mỗi chúng ta đều có hạn. Trong suốt cuộc đời, chúng ta thường xuyên chịu sự chi phối của những yếu tố nằm ngoài khả năng tác động của bản thân, và những yếu tố đó có thể cản trở việc giải quyết vấn đề. Bởi vậy, chúng ta cũng không nên tự trách bản thân khi gặp phải một vấn đề nằm ngoài khả năng giải quyết. Làm như vậy chỉ có hại cho chúng ta mà thôi.

Vậy chúng ta “nên” chịu trách nhiệm đến đâu? Cái đó tùy thuộc vào mỗi người tự đánh giá, xem chúng ta đang muốn “làm vừa lòng” ai? Cá nhân tôi nghĩ rằng, xét cho cùng chúng ta sống là để tìm hạnh phúc, mà chỉ có chúng ta mới có thể đánh giá được hạnh phúc của bản thân, nên chúng ta cũng chỉ cần nhận trách nhiệm trong chừng mực bản thân không thấy hối hận là được. Người khác có thể đặt ra những yêu cầu cao hơn, nhưng không có nghĩa là chúng ta phải làm theo. Như tôi đã nói, việc quyết định xem sẽ nhận trách nhiệm đến đâu, và quyết định nhận trách nhiệm về những hệ quả của quyết định đó, cũng là thể hiện của con người tự do. Và tôi tin là nếu thực sự nhận trách nhiệm, thì chúng ta sẽ không có gì phải hối hận về quyết định của mình cả.

Một người nông dân có tự nhận trách nhiệm về mùa màng của mình đến đâu cũng không thể khiến trời tự đổ mưa cứu hạn, mà chỉ có thể tìm cách đưa nước từ nơi khác về ruộng thay vì kêu trời. Nếu người đó không thể tìm ra cách nào, thì đơn giản là mùa màng sẽ mất và người đó sẽ trắng tay. Sau khi trắng tay, người đó có thể tự vựng dậy và tìm cách mưu sinh, hoặc tiếp tục kêu trời và chịu chết đói. Cuộc sống vốn không diễn ra theo ý chúng ta muốn. Nếu bạn vẫn còn cảm thấy tấm tức, thì có thể tham khảo thêm một bài viết khác của tôi về cái sự “giận”.

3. Đừng “cưỡng ép cải tạo” người xung quanh

Một khuynh hướng tôi hay thấy ở nhiều người, nhất là bản thân tôi trước đây, là mỗi khi bắt gặp hay nghĩ ra một “chân lý” nào đó, liền lập tức tìm cách áp đặt nó lên người xung quanh. Có thể bản thân tôi cũng chưa hoàn toàn thấm nhuần “chân lý” đó, nhưng tôi đã vội vàng đánh giá người khác. Bây giờ thì tôi thấy đó là một hành động thật ngạo mạn. Thế nhưng theo cảm nhận của tôi, rất nhiều người trong số chúng ta vẫn làm điều đó hàng ngày hàng giờ. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó khi nhìn vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào. Chúng ta đánh giá lẫn nhau, tìm cách thuyết phục nhau, không thuyết phục được thì tranh luận, tìm cách “chiến thắng” qua việc chỉ ra đối phương “sai”, không thắng được thì miệt thị đối phương là “ngu dốt”, là “vô đạo đức” này kia.

Chúng ta hãy thử nghĩ xem: đã bao giờ chúng ta cho rằng một người có cùng ý kiến với chúng ta là “ngu dốt” chưa? Tất cả những người chúng ta chỉ trích, phản đối, thậm chí miệt thị, đều là những người không có cùng ý kiến với chúng ta, hoặc không tuân theo những gì chúng ta mong muốn. Vậy họ “sai”, họ “ngu dốt”, họ “vô đạo đức” là vì đó là bản chất của họ, hay là vì chúng ta thấy họ không như mình muốn? Nếu hỏi có ai có cách nào để xác định tuyệt đối một người có “ngu dốt” không thì có lẽ không ai trong chúng ta đưa ra được, nhưng trong cuộc sống chúng ta vẫn trùm cái mũ đó lên đầu những người chúng ta không đồng ý. Vậy vấn đề nằm ở họ hay ở cách nhìn nhận của chúng ta?

Cứ coi như vấn đề là ở họ, vậy sau khi “chiến thắng” họ thì chúng ta được cái gì? Bản thân tôi chưa có gia đình cũng chưa có người yêu, nhưng ai đã từng yêu hay lập gia đình có lẽ đều hiểu một kinh nghiệm xương máu: không có “chiến thắng” nào trong chuyện tình cảm cả. Khi có xung đột, bạn có thể khuất phục người kia bằng lý lẽ, tình nghĩa, hay vũ lực, nhưng kết quả vẫn là nhẹ thì tình cảm xa cách, nặng thì quan hệ đổ vỡ. “Chiến thắng” có thể thỏa mãn lòng tự kiêu của chúng ta trong chốc lát, nhưng hầu như không bao giờ thay đổi được người khác. Nếu không có mục đích nào cao hơn, mọi “chiến thắng” với người khác cuối cùng đều vô nghĩa. Cái chúng ta cần là sự hòa hợp và hợp tác, và điều đó không thể có được từ thái độ thù địch hay ngạo mạn bề trên.

Đức Phật Thích Ca, kể cả sau khi đã ngộ ra chân lý, cũng chỉ giảng Phật pháp cho những người muốn nghe, chứ không hề bắt ép hay đánh giá ai cả. Đức Phật thậm chí còn chú trọng giảng cho người hiểu nhiều trước người hiểu ít, người hiểu ít trước người chưa hiểu, thay vì giảng đồng đều cho tất cả mọi người. Đó là vì Người hiểu rằng muốn thay đổi thế gian, muốn đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, thì phải bắt đầu từ việc giúp từng cá nhân một ngộ ra chân lý của bản thân. Chúng ta chẳng cần bàn những việc đao to búa lớn hay quốc gia trọng đại, chẳng cần vung tiền làm từ thiện hay giúp đỡ tất cả mọi người hoạn nạn (tất nhiên làm được thì tốt), chỉ cần mỗi người chúng ta hiểu được đạo lý và đối xử với nhau tốt hơn, là thế gian đã hạnh phúc lên một chút rồi.


Tôi viết bài này không phải để đả kích bất kỳ ai. Thực tế bản thân tôi hàng ngày đôi khi vẫn phạm vào những cái mà tôi cho là không nên làm. Nhưng việc ý thức được những đạo lý trên (của cá nhân tôi) giúp cho tôi có thể luôn không ngừng tự kiểm điểm và sửa chữa bản thân, nhằm tiến dần đến hình mẫu con người lý tưởng (của cá nhân tôi). Tôi cảm thấy nếu chúng ta cứ buông thả việc tu dưỡng bản thân và chỉ chăm chăm vào soi mói chuyện người khác, thì dần dần xã hội của chúng ta sẽ trở thành một nơi rất ngột ngạt mà tôi nhất định không muốn sống trong đó. Qua bài viết này, tôi mong có thể đóng góp thêm một góc nhìn để mọi người có thể tham khảo, và nếu thấy hợp lý thì áp dụng, tất nhiên là với bản thân trước tiên.

Tôi đọc sách “vui” thế nào

Gần đây báo đài và dư luận thường nói nhiều về việc đọc sách, về “văn hóa đọc” “đang xuống cấp” của người Việt Nam, và cách làm thế nào để mọi người đọc sách nhiều hơn, đọc các sách “tốt” hơn. Cá nhân tôi từ bé đến lớn cũng đã đọc khá nhiều sách đủ thể loại, và cho đến nay vẫn hàng tháng đều đều mua về vài ba cuốn sách để đọc. Qua những câu chuyện về cuộc đời đọc sách của cá nhân tôi dưới đây, tôi muốn cung cấp cho mọi người một góc nhìn, mới hay không thì không rõ, về việc đọc sách và sự lôi cuốn của sách.


1. Những cuốn sách của tuổi thơ

Nếu không tính đến các cuốn sách giáo khoa ở trường, thì tôi nhớ là mình bắt đầu đọc sách từ khá sớm. Tôi may mắn vì dù thời bé nhà khá nghèo, nhưng lại có một tủ sách nho nhỏ, và bố mẹ tôi cũng hay mua sách cho tôi. Nói đến lý do tôi bắt đầu đọc sách, thì có lẽ nó chỉ đơn giản là vì … buồn chán. Đến những năm cuối cấp một, khi thùng đồ chơi không còn hấp dẫn như trước nữa mà nhà vẫn chưa có máy tính, thì ngoài một vài cuốn truyện tranh và tivi ra, sách là một trong những lựa chọn ít ỏi cho việc giải trí. Thằng nhóc tôi không bắt đầu đọc sách vì muốn biết cái này biết cái kia, vì muốn “mở ra chân trời tri thức”, mà đơn giản là vì nằm nhà không có việc làm nên buồn buồn lần mò tủ sách xem có gì hay không.

Những cuốn sách đầu tiên tôi đọc lại là những cuốn sách chứa nhiều tri thức khá “nặng đô” từ tủ sách của mẹ tôi (giáo viên Vật lý cấp hai). Nhưng chúng không hề khô khan như sách giáo khoa, mà là những cuốn dạng “Toán học vui”, “Vật lý vui” (tên cụ thể tôi không nhớ nữa). Những cuốn sách đó kể cho tôi nghe những câu chuyện về lực ly tâm, về lực ma sát, tam giác Pascal, hệ chữ số,… Tôi đã đọc chúng vì chúng thú vị, vì chúng giải thích cách thế giới quanh tôi hoạt động, vì chúng khiến tôi cảm thấy “người lớn”. Tôi thích cuốn “Vật lý vui” đến mức tôi đã hào hứng hỏi mẹ xem lúc nào thì con được học Vật lý (khi đó tôi mới học cấp một). Nhưng đến khi được học Vật lý ở trường thì chao ôi là tôi thất vọng, thất vọng thế nào thì xin được kể vào một dịp khác.

Tôi cũng đọc cả những cuốn sách về đạo đức chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thế giới internet ngày nay, nếu đem những câu chuyện đó ra thì có lẽ một vài người sẽ cười khẩy hay gào lên là tuyên truyền với cả nhồi sọ. Nhưng những câu chuyện về cách Bác đối đãi với người dân và những điều Bác dạy bảo người xung quanh đã giúp tôi tạo nên nền móng của khái niệm “đạo đức”. Tôi đã hiểu một người “tốt”, một người đáng được tôn vinh thì phải hành động được như thế này, phải suy nghĩ được như thế kia. Đến bây giờ sau khi đã lớn lên và tiếp xúc nhiều thông tin đối lập nhau về chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi không còn “thần tượng cá nhân” Bác nữa, nhưng “đạo đức Hồ Chí Minh”, dù là thật hay là bịa, vẫn luôn là cái mà tôi ngưỡng mộ và hướng tới.

Bên cạnh đó tôi cũng đọc một số truyện chữ. Cuốn sách truyện chữ gây ấn tượng với tôi nhất là hai tập truyện ngắn nhi đồng của Tô Hoài. Tuy không có “Dế mèn phiêu lưu ký”, nhưng những mẩu chuyện về tuổi thơ đi học ông đồ, về anh Kim Đồng, về cuộc sống thời Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp rất lôi cuốn đối với tôi. Qua những câu chuyện đó, tôi biết về một thế giới khác, thế giới của những anh trưởng tràng (lớp trưởng), của những lớp bình dân học vụ của Hội khuyến học, của những anh học sinh đi học xách theo lon mực và tan học thì xồ vào hàng bánh chiên mua ăn một cách “có nghề”. Truyện của Tô Hoài rất sống động và chi tiết, dễ hiểu và dễ hình dung, đến mức bây giờ tôi vẫn nhớ như in những hình ảnh tôi đã tưởng tượng ra khi đọc lúc mới khoảng mười tuổi.

Có thể nói, đối với tôi lúc bé thì sách, giống như truyện tranh, đơn giản chỉ là một nguồn giải trí. Tôi không đọc truyện chữ vì muốn giỏi Văn (tôi rất ghét sách Văn mẫu). Tôi không đọc “Toán học vui” vì thích Toán, hay “Vật lý vui” vì thích Lý, mặc dù hai cuốn sách đó đã khiến tôi thích Toán và Lý (ngành khoa học chứ không phải môn học). Tôi đã đọc một cách rất “thô thiển”, mở sách ra giữa chừng xem có gì hay, đọc một lúc chán lại vứt sang một bên. Tôi đã đọc một cách rất “tạp nham”, có gì đọc nấy, chẳng theo một lĩnh vực gì cụ thể cả. Tôi cũng chẳng phải dạng “mọt sách” đọc suốt ngày, mà có lẽ một tuần tôi mở sách đọc được vài lần. Nhưng chính những thời gian đọc sách rất “lung tung” đó đã tạo nên nền tảng tư tưởng và suy nghĩ của tôi bây giờ.

2. Những cuốn sách của tuổi trưởng thành

Khi lớn lên vào cấp ba cho đến khi đi làm, tôi đọc ít đi rất nhiều. Những cuốn sách tôi đọc chủ yếu là sách cũ đã đọc từ bé và một số tiểu thuyết của Việt Nam và Nga. Một cuốn sách khiến tôi khá thích thú là tập truyện của Mikhail Bulgakov trong đó có “Những quả trứng định mệnh” và “Trái tim chó”. Khi nhà tôi kết nối internet, tôi được tiếp cận với lượng thông tin lớn hơn nhiều một cách dễ dàng hơn nhiều. Các phương thức giải trí cũng tăng lên với các trò chơi trực tuyến và các trò chơi tải về từ trên mạng. Đã có một thời gian tôi nghĩ rằng tôi không cần sách nữa, chỉ cần mạng internet là đủ. Tôi đã nhầm.

Mạng internet, bên cạnh là một công cụ giao tiếp, còn là một công cụ tìm kiếm thông tin và tri thức rất hiệu quả. Tôi có thể đọc về bất cứ lĩnh vực nào mình muốn, bất cứ lúc nào tôi muốn, chứ không nhất thiết phải giở và đọc từng trang như sách. Sự kết nối lẫn nhau của mạng internet cũng giúp tôi mở rộng phạm vi hiểu biết của mình một cách nhanh chóng. Tôi có thể đọc wikipedia cả buổi, từ cái này nối sang cái kia, bắt đầu bằng việc đọc về cây chuối và kết thúc bằng một bài viết về trận chiến thành Stalingrad. Mạng internet là một phát minh vĩ đại của nhân loại.

Nhưng khi tôi đã tìm được một đề tài nào đó tôi cảm thấy thú vị và muốn tìm hiểu sâu hơn, thì tôi mới thấy được sự hạn chế của internet. Đơn giản là vì không mấy người viết tất cả mọi thứ mình dày công tìm tỏi và xây dựng rồi vứt lên mạng cho mọi người đọc miễn phí cả. Màn hình máy tính cũng không phải là một công cụ đọc thích hợp cho những nội dung dài và dày đặc chữ. Thế là tôi lại tìm về với sách. Và khi đã bắt đầu đọc sách trở lại thì tôi mới thấy mạng internet tuy thật rộng nhưng cũng thật nông. Những bài viết tâm đắc tôi đọc được trên mạng chỉ được coi là cưỡi ngựa xem hoa so với những gì viết trong sách. Tôi thấy thật may mắn vì đã trở lại với sách, chứ không chỉ đọc qua loa một cách hời hợt như trước.

Động lực đọc sách của tôi cũng đã thay đổi, không còn chỉ là đọc cho vui nữa. Tôi đọc sách để tìm hiểu sâu hơn về một lĩnh vực tôi có hứng thú, hoặc để tìm ra phương pháp giải quyết cho một vấn đề mà tôi đang tự suy nghĩ trong đầu. Tôi đọc sách để hy vọng có thể thực hiện mơ ước lập nên một cái gì đó của riêng mình, để lại dấu ấn trong xã hội. Và tôi đọc sách đơn giản vì nó đem lại cho tôi một cảm giác khoan khoái khi thấy những suy nghĩ của mình không hề lạc lõng, khi cảm thấy hiểu biết của mình ngày một rộng và sâu hơn rõ rệt, khi thấy vẫn còn rất nhiều thứ mình có thể tìm hiểu. Đó là một cảm xúc rất chân thành và có phần ngây thơ. Tôi đọc sách vì bản thân tôi, vì tôi biết mình cần và thích sách, chứ không phải vì xã hội đang hô hào phải đọc sách đi.

Bây giờ, tôi đọc sách có “trật tự” hơn một chút, đọc từ đầu đến cuối, từng trang từng trang, hết cuốn này mới sang cuốn khác. Sách tôi đọc cũng tập trung theo đề tài hơn, chủ yếu là về lãnh đạo, kinh doanh, giáo dục, xây dựng, tâm lý và triết lý. Tuy nhiên tôi vẫn chỉ đọc những cái mình muốn, trong những lúc mình thích. Có những cuốn sách mua về thấy không hay tôi cũng vứt một xó. Lúc nào chán đọc thì tôi lại quay sang chơi điện tử triền miên. Tôi đã lấy lại được niềm vui đọc sách sau một thời gian dài, tôi không muốn ép bản thân đọc sách đến mức trở nên ghét sách và tự mình đánh mất niềm vui đó.

3. Hãy giúp con bạn thích đọc sách

Vì hiểu được niềm vui của việc đọc sách nói riêng và khám phá tri thức nói chung, nên tôi rất mong các bậc cha mẹ trẻ ngày nay sẽ sớm giúp cho các con của mình trở nên hứng thú với việc đọc sách. Sách không chỉ là tri thức. Sách còn là công cụ giúp trẻ nhỏ phát triển khả năng đọc hiểu, khả năng sử dụng ngôn ngữ, và qua đó là khả năng tư duy bằng các khái niệm trừu tượng chứ không chỉ là hình ảnh. Nói ngắn gọn lại các con bạn tiếp xúc với càng nhiều ngôn ngữ và tư duy thì sẽ càng có vốn ngôn ngữ và khả năng tư duy phong phú.

Trước hết, các bạn có thể đọc sách cho con nghe khi con chưa biết đọc. Khi con đã tự biết đọc thì các bạn có thể để cho con đọc sách cho mình nghe. Thú thực là giờ tôi cũng không còn nhớ được là bố mẹ có đọc sách cho tôi hay tôi có đọc sách cho bố mẹ nghe khi còn bé không nên cũng không dám khẳng định, nhưng việc làm này có thể giúp các con bạn có khái niệm sớm về sách như một hình thức giải trí. Nó cũng sẽ giúp củng cố mối quan hệ giữa các bạn và các con.

Thứ hai, các bạn nên có nhiều sách ở trong nhà. Điều này khá dễ dàng nếu bản thân các bạn là người thích đọc sách, và sẽ giúp các con bạn hiểu rằng sách là một phần của cuộc sống. Các bạn cũng có thể thường xuyên đọc sách trước mặt các con để đánh vào tính tò mò của chúng, khiến cho chúng cũng muốn bắt chước theo. Các bạn cũng nên chuẩn bị sẵn một số cuốn sách phù hợp để có thể đưa cho con đọc khi chúng muốn, hoặc thậm chí là xây dựng một tủ sách cho các con từ sớm.

Trẻ nhỏ có đầu óc phát triển và ham muốn học hỏi hơn là người lớn chúng ta nghĩ. Khi con bạn đã biết tự đọc, hãy mua nhiều sách với nhiều chủng loại về nhiều đề tài khác nhau, và để cho chúng tự tìm ra thứ mình thích. Đối với trẻ cấp một cấp hai, các bạn có thể tìm mua các tập truyện ngắn hoặc sách tri thức, sách đạo đức dưới dạng các câu chuyện ngắn thì có thể chúng sẽ dễ cảm thấy có hứng thú hơn. Truyện ngắn của các tác giả nổi tiếng Việt Nam thế hệ trước như Tô Hoài, Ngô Tất Tố hay Vũ Trọng Phụng đều có sức cuốn hút rất lớn. Các sách về tri thức “lặt vặt” trong cuộc sống cũng là một lựa chọn tốt. Tất nhiên đó chỉ là dựa trên sở thích của tôi khi còn nhỏ.

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng sở thích đọc sách phải bắt nguồn từ động lực bên trong của trẻ, chứ không phải từ áp lực bên ngoài. Do đó đừng bao giờ bắt ép các con bạn đọc sách, đừng khiến chúng cảm thấy “đọc sách” là một dạng “bài tập nặng nhọc”, đừng vì áp lực xã hội và mong muốn bản thân mà khiến các con bạn ghét sách. Và nếu bản thân các bạn không phải người thích đọc sách, thì đừng nghĩ đến việc muốn làm cho các con bạn thích đọc sách (có thể chúng vẫn sẽ tự đọc sách). Nếu các con bạn không tìm ra được một mục đích nào cho việc đọc sách, thì đơn giản chúng sẽ không thích đọc sách. Hãy để chúng được tự do đọc sách, và tự do không đọc sách.


Đối với cá nhân tôi, sách là công cụ để cải thiện và nâng cao bản thân, là công cụ để thực hiện ước mơ của bản thân, những cũng đồng thời là nguồn giải trí, là niềm vui. Tôi muốn truyền đạt được niềm vui đó đến càng nhiều người càng tốt. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi cho rằng đọc sách là một việc “tốt tuyệt đối”, ai ai cũng phải làm. Thay vì dùng những từ ngữ to tát và mù mờ như “văn hóa đọc”, rồi tranh cãi, đổ tội, phê phán nhau, tôi nghĩ mọi người nên chỉ nhìn vào bản thân mình trước, xem mình có thực sự thích đọc sách hay không và đọc sách vì mục đích gì. Nếu các bạn không thích đọc sách, đó là chuyện bình thường. Nếu các bạn thích đọc sách, hãy thử tìm cách truyền ham thích đó cho người xung quanh. Tôi nghĩ như vậy sẽ hiệu quả hơn nhiều.

(Nếu bài viết ưng ý, mong các bạn ủng hộ tại trang Facebook của tôi)