Thuyết tự chủ và động lực con người (phần 1)

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng của cá nhân tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết ăn cắp ý tưởng và thông tin một cách không biết xấu hổ từ cuốn sách Handbook of Self-Determination Research biên tập bởi Edward L. Deci và Richard M. Ryan và cuốn sách Self-Determination Theory: Basic Psychological Needs in Motivation, Development and Wellness của cùng tác giả.

Động lực tinh thần là một trong những thành phần quan trọng nhưng lại thường ít được để ý đến của đời sống cá nhân và xã hội. Đối với mỗi cá nhân, động lực là lực lượng đứng sau thúc đẩy mọi hoạt động có ý thức của con người. Đối với các tổ chức, việc quản lý và tạo ra động lực hoạt động cho các thành viên của mình là một việc thiết yếu và có ảnh hưởng to lớn đến kết quả hoạt động và thậm chí là sự tồn vong của mỗi tổ chức. Do vai trò quan trọng của nó, mà cho đến nay các nhà khoa học, chuyên gia tâm lý và các triết gia đã đưa ra rất nhiều lý thuyết nhằm giải thích và tiên đoán về động lực tinh thần của con người từ nhiều khía cạnh và trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Một trong những lý thuyết hiện đang thu hút được nhiều sự chú ý là Thuyết tự chủ (self-determination theory) mà tôi xin được giới thiệu trong bài viết lần này.


1. Thuyết tự chủ và động lực

Trước khi đi vào nội dung của Thuyết tự chủ, ta hãy nói qua về khái niệm “động lực”. Động lực, đúng như tên gọi, là thứ (lực) khiến con người thực hiện hành vi (động). Điều đó có nghĩa là động lực vừa cung cấp một sự “định hướng”, vừa cung cấp “năng lượng” để cá nhân thực hiện hành vi. Nói cách khác, động lực luôn là động lực hướng đến hành vi, chứ không có động lực đứng một mình không có phương hướng cụ thể. Nhưng động lực cũng lại khác biệt với những khái niệm khác như “lý do” hay “mục đích” ở chỗ bản thân động lực còn có tính định lượng, thể hiện ở mức độ mạnh mẽ của năng lượng mà động lực cung cấp cho hành vi của cá nhân. Do vậy, khái niệm “động lực” không những có thể được dùng để lý giải vì sao một cá nhân lại thực hiện một hành vi nào đó, mà còn có thể dùng để lý giải mức độ hoạt bát và năng nổ của cá nhân ấy khi thực hiện hành vi.

Thuyết tự chủ là một học thuyết dựa trên thực nghiệm và nằm trong trào lưu các học thuyết tổ chức sinh vật (organismic) về hành vi con người và phát triển nhân cách. Tuy chủ yếu tập trung nghiên cứu ở lĩnh vực tâm lý học, nhưng Thuyết tự chủ cũng được dựa trên một số kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý học và thần kinh học. Bài viết này đề cập chính đến khía cạnh động lực con người, cũng là khía cạnh nghiên cứu chính của Thuyết tự chủ, nhưng phạm vi của nó thì rộng lớn và bao quát hơn, với mục đích là giúp cho con người hiểu rõ hơn về các quá trình tâm lý xảy ra trong nội tâm bản thân và các cá nhân khác, cũng như tìm kiếm các phương pháp hiệu chỉnh môi trường xung quanh, nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần lẫn thể chất và hiệu quả hành động cũng như sự phát triển của mỗi cá nhân.

Đa số lý thuyết về nhận thức từ trước tới nay thường chỉ coi động lực là một khái niệm đơn nhất. Điều đó có nghĩa là các lý thuyết này thường dựa trên giả thiết là tất cả động lực đều giống nhau về định tính và chỉ khác nhau về định lượng, tức là chỉ có động lực mạnh và động lực yếu chứ không có động lực khác biệt nhau về bản chất. Trong các lý thuyết đó, động lực thường được định lượng bằng cách nhân giá trị về mặt tâm lý của kết quả hành vi với xác suất của việc cá nhân có thể đạt được kết quả đó, hoặc dựa trên những khái niệm khác tương tự như niềm tin của cá nhân đối với việc đạt được kết quả, hay kỳ vọng của cá nhân về năng lực bản thân và mối quan hệ nhân quả của hành vi. Các phương pháp tiếp cận này, do vậy, thường bỏ qua việc phân tích sự khác nhau, chẳng hạn, giữa động lực mà cá nhân tự sinh ra với động lực sinh ra bởi phần thưởng hay đe dọa.

Đây cũng là một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa Thuyết tự chủ với nhiều học thuyết khác bàn về động lực. Thuyết tự chủ cho rằng động lực có thể được chia ra làm nhiều phân loại khác nhau về mặt định tính, bên cạnh sự khác nhau về định lượng. Cụ thể, các phân loại động lực này có thể được sắp xếp thành một dải động lực giữa hai thái cực: một bên là động lực có tính tự chủ (autonomous) và một bên là động lực không có tính tự chủ, hay động lực  bị điều khiển (controlled). Chúng có sự khác biệt rõ rệt về nguồn gốc cũng như phương thức đem lại năng lượng và định hướng cho hành vi của cá nhân, và qua đó mang lại sự khác biệt cả về kết quả của các hành vi ấy cũng như tâm lý của bản thân cá nhân. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng lý thuyết về động lực vào thực tế: chúng ta không chỉ cần nghĩ tới việc tạo ra thật nhiều động lực cho cá nhân, mà còn phải nghĩ tới việc tạo ra những loại động lực “tốt” hơn.

Một đặc điểm nữa của Thuyết tự chủ là nó có tính bao quát và mạch lạc, tức là nó không chỉ đề cập và nghiên cứu về cách phân loại động lực, mà còn cả về các điều kiện tác động từ môi trường xung quanh đến cá nhân để dẫn đến từng phân loại động lực khác nhau, cũng như những tác động của mỗi phân loại động lực đối với sức khỏe và hiệu quả hành động của cá nhân. Nói cách khác, Thuyết tự chủ nghiên cứu cả về động lực lẫn tiền đề và kết quả của nó. Thêm vào đó, Thuyết tự chủ dựa trên nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng các kết quả thí nghiệm khoa học trong môi trường thí nghiệm lẫn trong thực tế, trên nhiều lĩnh vực (giáo dục, thể thao, tôn giáo, chính trị,…) và phạm vi đối tượng (giới tính, độ tuổi, văn hóa, quốc gia,…) khác nhau. Tất cả những điều này giúp cho những kết luận của Thuyết tự chủ có mức độ tin cậy cũng như tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao.

2. Năm phân loại động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tinh thần của con người có thể được chia ra làm hai phân loại lớn, dựa trên tương quan giữa động lực và hành vi mà động lực đó thúc đẩy: động lực nội tại (instrinsic motivation) và động lực ngoại lai (extrinsic motivation).

Động lực nội tại là động lực có nguồn gốc từ sự hấp dẫn và thỏa mãn cố hữu của bản thân hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Nói cách khác, động lực nội tại được gói gọn bên trong hành vi và không cần thêm bất cứ một nguồn gốc nào khác nằm ngoài hành vi đó. Khi cá nhân cảm thấy có động lực nội tại đối với một hành vi nhất định, và không gặp phải sự ngăn cản, cá nhân ấy sẽ tự mình thực hiện và duy trì hành vi đó một cách hoàn toàn tự phát mà không cần bất cứ sự thúc đẩy nào khác. Sự hấp dẫn và thỏa mãn làm nên động lực nội tại có thể rất đa dạng, nhưng tựu chung có thể được chia ra làm ba loại chính: động lực tìm hiểu đến từ việc tìm tòi khám phá ra những điều mới mẻ, động lực thành tựu đến từ việc tạo nên một điều gì đó hoặc vượt qua giới hạn của bản thân, và động lực trải nghiệm đến từ việc tiếp nhận những kích thích cảm giác. Ví dụ về động lực nội tại có thể dễ dàng tìm thấy trong hầu hết các hoạt động giải trí của con người.

Động lực ngoại lai là động lực có nguồn gốc nằm bên ngoài hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Một cá nhân thực hiện một hành vi nào đó bằng động lực ngoại lai sẽ không làm như vậy vì bản thân hành vi ấy, mà để nhằm đạt được một mục đích nào đó tách biệt khỏi hành vi, và hành vi khi đó chỉ còn đóng vai trò là công cụ mà thôi. Vì lúc này bản thân hành vi không còn sinh ra động lực, nên động lực sẽ cần phải được tạo ra một cách “nhân tạo” từ một sự kiểm soát (regulation) nào đó. Thuyết tự chủ, do vậy, chia động lực ngoại lai ra làm bốn phân loại nhỏ hơn, dựa trên tính chất của sự kiểm soát nằm trong nó, đi từ không có tính tự chủ đến có tính tự chủ cao: sự kiểm soát từ bên ngoài (external regulation), sự kiểm soát đã tiêm nhiễm (introjected regulation), sự kiểm soát đã đồng nhất (identified regulation), và sự kiểm soát đã tích hợp (integrated regulation).

Sự kiểm soát từ bên ngoài là sự kiểm soát nằm hoàn toàn bên ngoài cá nhân, tức là sự  kiểm soát đến từ môi trường xung quanh. Sự kiểm soát dễ nhận thấy nhất thuộc dạng này là sự đe dọa và cưỡng ép, nhưng chúng cũng có thể là tiền bạc, danh vọng, địa vị, sự tán thưởng, kỳ hạn công việc, kỳ vọng của người thân, sự phán xét của xã hội… Tựu chung lại, một cá nhân bị kiểm soát từ bên ngoài sẽ thực hiện hành vi để nhằm đạt đến một kết quả tích cực nào đó, hoặc tránh khỏi một kết quả tiêu cực nào đó mà hoàn toàn không liên quan tới bản thân hành vi. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác không có sự lựa chọn hoặc chịu sự chi phối từ bên ngoài. Một ví dụ là một người làm việc chỉ để nhận lương, và luôn nghĩ rằng nếu không phải vì tiền thì mình đã nghỉ việc quách cho xong.

Sự kiểm soát đã tiêm nhiễm là sự kiểm soát đã xâm nhập phần nào đó vào bên trong nội tâm cá nhân, nhưng vẫn chưa được chấp nhận làm một phần của nhân cách tự thân. Sự kiểm soát thuộc dạng này thường được thể hiện dưới dạng các sức ép nội tâm như cảm giác nghĩa vụ, cảm giác xấu hổ,… Bản chất của sự kiểm soát này là sự tích tụ của những sự kiểm soát từ bên ngoài mà cá nhân đã trải nghiệm hoặc quan sát được trong quá khứ, được cá nhân ghi nhớ, đúc rút kinh nghiệm và chuyển hóa thành một sự tự kiểm soát bản thân để tránh khỏi các hậu quả của sự kiểm soát trực tiếp từ bên ngoài. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác mâu thuẫn nội tâm tương đối rõ ràng giữa áp lực tinh thần từ bên trong của sự kiểm soát và mong muốn thực sự của nhân cách tự thân cá nhân. Một ví dụ là một người làm việc để không trở thành người thất nghiệp vì sợ bị người xung quanh dè bỉu.

Sự kiểm soát đã đồng nhất là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận về nguyên tắc dựa trên giá trị mà hành vi mang lại, tuy có thể vẫn còn tồn tại sự xung đột ở mức độ nào đó. Sự kiểm soát thuộc dạng này dựa trên một sự đánh giá có ý thức về các mặt lợi hại của hành vi, cả về vật chất lẫn tinh thần, và một sự quyết định có ý thức về việc thực hiện hành vi đó từ nhân cách của cá nhân. Nói cách khác, sự kiểm soát đã đồng nhất xuất hiện khi cá nhân thực hiện một hành vi vì thấy điều đó đem lại giá trị cho bản thân và do vậy tự mình đứng về phía quyết định thực hiện hành vi đó, tức hành vi và lợi ích của cá nhân đã trở nên đồng nhất. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác trách nhiệm đối với hành vi của bản thân. Một ví dụ là một người làm việc vì đã đánh giá và quyết định rằng công việc đó đem lại lợi ích tiền bạc và kinh nghiệm lớn hơn tổng số thiệt hại mà nó đòi hỏi.

Sự kiểm soát đã tích hợp là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận hoàn toàn và tích hợp thành một bộ phận hài hòa với các bộ phận khác của nhân cách. Sự kiểm soát thuộc dạng này xuất phát từ nhu cầu hiện thực hóa nhân cách, tức nhu cầu thể hiện ra bên ngoài những hành vi thống nhất với nhận thức của cá nhân về bản thân mình. Khi đó, cá nhân sẽ thực hiện một hành vi vì đó là một phần của định nghĩa “tôi là ai” trong nội tâm cá nhân, và việc thực hiện hành vi sẽ củng cố thêm cho định nghĩa ấy, giúp cho nhân cách tự thân của cá nhân thêm rõ ràng và chắc chắn. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác tự hào và một sự ủng hộ tinh thần hoàn toàn đến từ bên trong nội tâm cá nhân đối với hành vi được thực hiện. Một ví dụ là một người làm việc vì cảm thấy công việc đó có ý nghĩa cao cả và phù hợp hệ giá trị đạo đức của bản thân.

Bốn cấp bậc của sự kiểm soát thể hiện cho những kết quả khác nhau của một quá trình nội tâm hóa (internalization) những quy củ và yêu cầu từ môi trường xung quanh của cá nhân. Thuyết tự chủ cho rằng con người là một sinh vật luôn có xu hướng tự nhiên là xây dựng nên một nhân cách, một “cái tôi” ngày một thống nhất và phức tạp hơn, thông qua việc thu nhận, tích hợp và tổ chức lại các trải nghiệm từ môi trường xung quanh thành một hệ thống hoàn chỉnh, hợp lý và mạch lạc. Quá trình nội tâm hóa, tức biến những sự kiểm soát tồn tại trong môi trường thành sự kiểm soát của bản thân, là một bộ phận của xu hướng tự nhiên kể trên. Khi quá trình nội tâm hóa diễn ra thành công, kết quả sẽ là những sự kiểm soát có tính tự chủ cao, mà cụ thể ở đây là động lực từ sự kiểm soát đã đồng nhất hoặc đã tích hợp. Sự kiểm soát từ bên ngoài hay đã tiêm nhiễm đều thiếu tính tự chủ và là kết quả của một quá trình nội tâm hóa không thành công.

Chú ý rằng sự phân loại động lực kể trên chỉ thuần túy mang tính học thuật chứ không ám chỉ sự tồn tại của năm thực thể động lực tách biệt nhau trong trí não con người. Thêm vào đó, các loại động lực khác nhau có thể cùng tồn tại ở những mức độ khác nhau đối với cùng một hành vi ở cùng một thời điểm. Một người có thể làm việc vừa để đảm bảo cuộc sống (sự kiểm soát từ bên ngoài), vừa vì một cảm giác nghĩa vụ với xung quanh (sự kiểm soát tiêm nhiễm), đồng thời vì muốn học hỏi kinh nghiệm cho bản thân (sự kiểm soát đã đồng nhất). Sự khác biệt nằm ở mức độ chi phối mạnh mẽ và thường trực của từng loại động lực trong nhận thức của cá nhân. Việc phân loại sự kiểm soát theo mức độ tự chủ từ thấp đến cao cũng không có nghĩa rằng quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó sẽ phải diễn ra qua từng thang bậc theo đúng thứ tự ấy, mà hoàn toàn có thể có sự “nhảy vọt”, tùy thuộc vào những yếu tố sẽ được nói đến sau.

Bên cạnh các phân loại động lực trên, để có thể giải thích đầy đủ các trạng thái động lực của con người, Thuyết tự chủ đưa ra thêm một khái niệm nữa là vô động lực (amotivation). Vô động lực là một trạng thái của cá nhân khi thực hiện một hành vi có ý thức (khác với vô thức và bản năng) mà không có động lực nào đáng kể cả. Trạng thái này thường xuất hiện khi cá nhân bị buộc phải thực hiện một hành vi mà bản thân cá nhân thấy vô nghĩa. Khi đó, cá nhân không nhận thấy được mối liên hệ giữa hành vi với kết quả, và do đó không thực hiện hành vi với chủ ý đạt được kết quả nhất định nào cả. Điều này dẫn đến hệ quả là cá nhân sẽ cảm thấy hoàn toàn chán chường, và sẽ chỉ thực hiện hành vi dưới dạng một loạt các cử động thân thể theo khuôn mẫu như máy móc, chứ không có sự suy nghĩ và đánh giá thường thấy ở hành vi có chủ đích. Bước tiếp theo của trạng thái vô động lực thường sẽ là việc cá nhân dừng hoàn toàn hành vi đang thực hiện.

3. Ba nhu cầu tinh thần cơ bản

Thuyết tự chủ cho rằng mỗi cá nhân con người có ba nhu cầu tinh thần cơ bản: nhu cầu tự chủ (autonomy), nhu cầu năng lực (competence), và nhu cầu kết nối (relatedness).

Nhu cầu tự chủ là nhu cầu cảm thấy mình là khởi nguồn cho những hành vi của bản thân, cảm thấy mình đang làm chủ được bản thân mình. Một cá nhân sẽ cảm thấy mình tự chủ khi cá nhân đó cảm thấy những hành vi và quyết định của mình là sự thể hiện của những giá trị trong nhân cách thực của bản thân, thay vì là kết quả của sự chi phối trực tiếp hay gián tiếp của những nhân tố nằm ngoài nhân cách ấy (đọc thêm Bàn về “nhân cách”). Chú ý rằng cảm giác về sự tự chủ không nhất thiết đồng nhất với sự tự do thường được nghĩ tới, tức là sự không bị giới hạn trong hành động. Một người hoàn toàn vẫn có thể quyết định cảm thấy mình có sự tự chủ ở mức độ nào đó khi làm theo yêu cầu của người khác, hay thậm chí trong những hoàn cảnh thường được cho là kìm kẹp và thiếu tự do như bị uy hiếp, bị giam cầm,… (đọc thêm Bàn về “tự do”)

Nhu cầu năng lực là nhu cầu cảm thấy mình có thể tương tác với môi trường xung quanh một cách có hiệu quả. Điều này bao gồm việc cảm thấy mình có thể dễ dàng lý giải được những sự vật sự việc đang tồn tại và diễn ra xung quanh, cũng như cảm thấy mình biết cách và có khả năng tác động để kiểm soát hoặc thay đổi được những sự vật sự việc ấy, và cuối cùng là cảm thấy sự tác động của mình thực sự đã đem lại được kết quả như mong muốn. Nhìn từ một góc độ nào đó, nhu cầu tự chủ có thể chỉ được coi là nhu cầu năng lực đối với việc kiểm soát cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, nhu cầu tự chủ chú trọng đến nguồn gốc của hành động (bản thân vs. bên ngoài), trong khi nhu cầu năng lực chú trọng đến kết quả (có hiệu quả vs. không có hiệu quả), và do đó hai khái niệm này là khác biệt nhau. Chú ý rằng cảm giác về năng lực không nhất thiết đồng nhất với năng lực thực sự nhìn từ các tiêu chuẩn khách quan.

Nhu cầu kết nối là nhu cầu cảm thấy mình có thể kết nối với môi trường xung quanh một cách gần gũi và có ý nghĩa. Môi trường xung quanh ở đây không chỉ giới hạn ở các cá nhân cụ thể, mà còn có thể là thú cưng hay vật nuôi, hay những cấu trúc xã hội hoặc tinh thần trừu tượng hơn như tổ chức, cộng đồng, dân tộc, quốc gia, hay thậm chí là thế lực siêu nhiên nào đó như thánh thần, Mẹ thiên nhiên,… Nhu cầu này thường được thỏa mãn khi cá nhân cảm thấy mình đang quan tâm, chăm sóc và bảo vệ, và được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ bởi môi trường xung quanh, cảm thấy mình đang là một phần, đang thuộc về một cái gì đó lớn lao hơn. Chú ý rằng sự kết nối ở đây không phải là một công cụ để đạt đến một mục đích khác (vd. tình dục), mà giá trị thỏa mãn nhu cầu nằm ở chính bản thân sự kết nối, vì nó mang lại cho cá nhân cảm giác an toàn trước sự đơn độc và đe dọa cố hữu của cuộc sống con người.

Ba nhu cầu tinh thần cơ bản nói trên, đúng như tên gọi, có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất, chúng là nhu cầu tinh thần, và do đó sự thỏa mãn của chúng sẽ được quyết định bởi trạng thái tinh thần của chính cá nhân, mà ở đây đã được nhấn mạnh thông qua từ “cảm thấy”, chứ không phải bởi các yếu tố khách quan. Tất nhiên, từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng môi trường xung quanh đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đối với các nhu cầu này, nhưng xét cho cùng vai trò ấy vẫn chỉ là gián tiếp mà thôi. Thứ hai, các nhu cầu này là nhu cầu cơ bản, tức là chúng tồn tại trong tất cả mọi cá nhân con người, bất kể sự khác biệt về độ tuổi, giới tính, thể chất, địa vị, tài sản, văn hóa hay nhân cách. Tuy nhiên, tùy vào những yếu tố khác biệt đó mà các nhu cầu này có thể được thể hiện ra dưới các dạng khác nhau và cần được thỏa mãn bằng những cách thức khác nhau.

Việc các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng có mối liên hệ mật thiết với cảm giác của cá nhân về sức khỏe và hạnh phúc của bản thân, cả về thể chất lẫn tinh thần. Cụ thể, những người có nhu cầu tinh thần được thỏa mãn tốt thường cũng sẽ có lòng tự trọng cao hơn, hoạt bát hơn, ít bồn chồn lo âu hơn, và có ít các triệu chứng tinh thần thể hiện ra ở cơ thể hơn. Một điểm thú vị là những nghiên cứu về nhu cầu tinh thần cơ bản cũng chỉ ra những kết quả kể trên có mối liên hệ tiêu cực, tức tỷ lệ nghịch, với việc theo đuổi những mục tiêu nằm bên ngoài bản thân, vd. của cải, danh tiếng và hình ảnh. Từ đó có thể suy đoán rằng những mục tiêu kể trên không phục vụ cho những nhu cầu tinh thần thiết thực của con người, và mối liên hệ tiêu cực với sức khỏe và hạnh phúc có thể được lý giải là do việc theo đuổi những mục tiêu ấy khiến cho việc đáp ứng những nhu cầu tinh thần thực sự cần thiết bị sao nhãng và thậm chí là bị cản trở.

Nhưng điểm quan trọng hơn đối với bài viết này, đó là các nghiên cứu khoa học còn cho thấy khi các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng đầy đủ, thì động lực của cá nhân có xu hướng dịch chuyển về phía các phân loại động lực có tính tự chủ cao. Không khó để thấy rằng một hành vi làm thỏa mãn một nhu cầu tinh thần nào đó của cá nhân sẽ khiến cá nhân nảy sinh động lực nội tại đối với hành vi đó. Nhưng không chỉ có vậy, khi các yếu tố xã hội từ môi trường xung quanh hỗ trợ các nhu cầu tinh thần của cá nhân trong quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó, thì sự nội tâm hóa ấy cũng sẽ có xu hướng tạo nên những sự kiểm soát có tính tự chủ cao hơn. Ngược lại, nếu như môi trường xung quanh ngăn cản và chống lại các nhu cầu tinh thần cơ bản, đặc biệt là nhu cầu tự chủ, thì không những sự kiểm soát được tạo nên sẽ nghiêng về các phân loại thiếu tính tự chủ, mà cả động lực nội tại của cá nhân cũng sẽ bị đè nén và xóa sổ.

4. Phạm vi động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tồn tại ở ba mức độ phạm vi khác nhau: phạm vi toàn cục (global), phạm vi ngữ cảnh (contextual), và phạm vi tình huống (situational).

Động lực toàn cục là khuynh hướng động lực chung nhất và có ảnh hưởng bao quát khắp toàn bộ mọi mặt cuộc sống của cá nhân. Đây cũng thường là động lực ổn định nhất về mặt định lượng lẫn định tính, và thể hiện cho việc cá nhân có xu hướng tiếp cận và thực hiện mọi hành vi với động lực nội tại hay ngoại lai hay vô động lực. Một cá nhân sinh ra thường bắt đầu với một khuynh hướng động lực toàn cục mang tính nội tại thuần túy và sơ khai. Sau đó, động lực toàn cục của cá nhân sẽ  được định hình (uốn nắn?) dần trong quá trình cá nhân xây dựng nên một nhân cách cho riêng mình.

Động lực ngữ cảnh là khuynh hướng động lực có ảnh hưởng bao trùm trong một phân vùng cụ thể nào đó, hay một ngữ cảnh, trong cuộc sống của cá nhân. Ở mức độ rộng nhất, động lực ngữ cảnh có ba phân vùng chính: công việc (bao gồm cả việc học tập), giải trí và quan hệ con người. Đi xuống sâu hơn, động lực ngữ cảnh có thể được chia ra cho từng hoạt động nhất định như đàn hát, bơi lội, chạy bộ, tiệc tùng, tán phét,… Động lực ngữ cảnh tương đối ổn định, nhưng vẫn có thể chịu ảnh hưởng và bị thay đổi bởi môi trường xung quanh. Đồng thời, động lực ngữ cảnh cũng chỉ có ảnh hưởng trong ngữ cảnh cụ thể của nó, chứ không hề có ảnh hưởng gì đến các hành vi ở những ngữ cảnh hoàn toàn tách biệt khác.

Động lực tình huống là động lực trong từng tình huống cụ thể trong cuộc sống của cá nhân. Nói cách khác, động lực tình huống là động lực của cá nhân đối với từng tác vụ cụ thể ở từng thời điểm cụ thể. Từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng động lực tình huống chịu ảnh hưởng ngay lập tức bởi nội dung của tác vụ, kết quả của hành vi, cũng như các yếu tố trong môi trường xung quanh, và do đó động lực tình huống rất không ổn định và có thể thay đổi nhanh chóng cả về chất và lượng qua từng thời điểm.

Việc phân chia động lực theo mức độ phạm vi có ý nghĩa như thế nào? Trước hết, theo Thuyết tự chủ thì động lực ở một phạm vi nhất định sẽ chịu sự tác động và điều chỉnh chủ yếu từ những yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương. Theo đó, động lực toàn cục sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở phạm vi toàn cục, tức những yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến mọi mặt hoặc nhiều mặt của cuộc sống cá nhân một cách lâu dài (vd. gia đình, cộng đồng, Nhà nước,…), động lực ngữ cảnh sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở từng phạm vi ngữ cảnh cụ thể, tức là những yếu tố xã hội có tính bao trùm trong ngữ cảnh đó (vd. động lực đối với việc học tập sẽ chịu ảnh hưởng chính từ nhà trường, giáo viên,…). Điều này sẽ giúp việc xác định động lực cần tác động và những yếu tố xã hội cần được thay đổi để tạo nên tác động một cách chính xác hơn.

Thêm vào đó, bên cạnh việc phụ thuộc vào sự hỗ trợ hay ngăn cản nhu cầu tinh thần của các yếu tố xã hội ở phạm vi tương ứng, động lực ở một phạm vi thấp hơn còn chịu ảnh hưởng của động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Điều này có nghĩa là động lực tình huống của một hành vi sẽ chịu ảnh hưởng từ động lực ngữ cảnh của ngữ cảnh bao trùm hành vi và tình huống đó, đồng thời chịu ảnh hưởng ở mức độ nhỏ hơn từ động lực toàn cục. Có thể hình dung rằng động lực toàn cục và động lực ngữ cảnh tồn tại như những nền móng hay bản vẽ cơ sở khi động lực tình huống của cá nhân được hình thành trong mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Cuối cùng, đồng thời và ngược lại với ảnh hưởng từ trên xuống được nói đến ở trên, động lực ở phạm vi thấp hơn cũng sẽ có ảnh hưởng mang tính đệ quy tới động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Nói cách khác, nếu như động lực tình huống của cá nhân trở nên thiếu tự chủ trong nhiều hành vi và tình huống cụ thể một cách lặp đi lặp lại, thì điều đó sẽ có tác động đến động lực ngữ cảnh tương ứng, khiến cho động lực ngữ cảnh cũng trở nên dần dần thiếu tự chủ hơn, và thông qua đó cuối cùng sẽ gây ảnh hưởng đến động lực toàn cục của cá nhân. Điều này giải thích lý do vì sao động lực ở mỗi phạm vi lại chịu tác động chủ yếu bởi các yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương: đó là vì việc định hình nên các động lực ở phạm vi lớn đòi hỏi sự tác động liên tục kéo dài và nhất quán trong hàng loạt các tình huống, điều mà chỉ có các yếu tố xã hội bao trùm trên các phạm vi lớn tương ứng mới có thể tạo ra được.

5. Ảnh hưởng của động lực

Các nghiên cứu khoa học của Thuyết tự chủ đã cho thấy phân loại động lực trong hành vi của con người có liên hệ mật thiết với nhiều hệ quả và phẩm chất quan trọng ở nhiều mặt khác nhau của cuộc sống, mà cụ thể là hiệu quả hành động, tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, tính tự giác và tính bền bỉ.

Cụ thể, các hệ quả và phẩm chất kể trên được thể hiện ra tích cực nhất khi động lực hành vi là động lực nội tại, và suy giảm dần theo từng thang bậc mức độ tự chủ của động lực, thể hiện ra một cách tiêu cực nhất ở trạng thái vô động lực. Ba phân loại động lực mang lại kết quả tích cực hơn các động lực còn lại là động lực dựa trên sự kiểm soát đã đồng nhất và đã tích hợp (gọi tắt là động lực đồng nhất và động lực tích hợp), cùng với động lực nội tại, được xếp vào nhóm các phân loại động lực tự chủ. Đặc điểm chung của các phân loại động lực tự chủ là cá nhân cảm thấy mình có quyền lựa chọn, và đã tự mình lựa chọn, việc thực hiện hành vi. Đồng thời, lý do cho sự lựa chọn đó cũng bắt nguồn từ bên trong cá nhân: một kết quả đánh giá dựa trên hệ giá trị của bản thân (động lực đồng nhất), một sự mong muốn thể hiện nhân cách bản thân (động lực tích hợp), hoặc những cảm xúc và cảm giác của bản thân khi thực hiện hành vi (động lực nội tại).

Hiệu quả tích cực của các loại động lực tự chủ có thể dễ dàng được lý giải dựa trên những tính chất đã được trình bày ở trên. Trước hết, với các loại động lực tự chủ, tâm trí cá nhân được giải thoát khỏi sự giằng co giữa nhu cầu tự chủ với sự chi phối từ xung quanh như ở sự kiểm soát bên ngoài, hay với sự chi phối của áp lực tâm lý bên trong như ở sự kiểm soát tiêm nhiễm, và do đó cá nhân được tự do dành toàn bộ năng lượng tinh thần và sự tập trung cho hành vi đang thực hiện. Thứ nữa, khi cảm thấy mình không bị kiểm soát bởi một yếu tố nào khác ngoài mong muốn của chính bản thân, cá nhân sẽ có được sự tự do tinh thần để mạnh dạn thử nghiệm những ý tưởng và phương pháp mới thay vì lựa chọn những con đường an toàn hơn. Cuối cùng, do nguồn gốc đến từ những mong muốn và cảm xúc của riêng cá nhân, nên động lực tự chủ có thể được phát huy và duy trì một cách độc lập mà không bị phụ thuộc vào sự tồn tại và tác động liên tục của các yếu tố từ môi trường xung quanh.

Đặc biệt hơn, động lực nội tại thường được gắn với trạng thái “cuốn chảy” (flow), một trạng thái trải nghiệm được cho là tối ưu của con người, trong đó cá nhân đắm chìm hoàn toàn vào hành vi mình đang thực hiện với một cảm giác tập trung cao độ, toàn tâm toàn trí, nhiều khi quên đi ý thức về không gian, thời gian và thậm chí là cả bản thân. Lý thuyết về “cuốn chảy”, một học thuyết khác nằm ngoài Thuyết tự chủ, cho rằng trạng thái này có thể đạt được nếu có đủ ba yếu tố: 1. cá nhân bắt tay vào một hoạt động nào đó một cách có chủ ý, có mục đích và có lộ trình rõ ràng, 2. các tác vụ cụ thể trong hoạt động đó đem lại phản hồi một cách nhanh chóng và rõ ràng, và 3. cá nhân có cảm nhận về mức độ thử thách trước mắt cân bằng với cảm nhận về năng lực của bản thân.

Nhìn từ quan điểm động lực, trạng thái “cuốn chảy” có thể được giải thích dưới dạng một vòng xoáy tích cực của động lực nội tại. Cụ thể, việc cảm thấy mức độ thử thách tương xứng với năng lực khiến cho cá nhân có tự tin vào năng lực của mình, và từ đó nảy sinh động lực nội tại đối với việc thực hiện tác vụ trước mắt để thỏa mãn hơn nữa nhu cầu năng lực của bản thân. Động lực nội tại đó khiến cho cá nhân có khả năng cao hơn trong việc hoàn thành tốt tác vụ, và việc tác vụ phản hồi nhanh chóng sẽ khiến cho nhu cầu năng lực của cá nhân lập tức được thỏa mãn, làm nảy sinh thêm động lực nội tại đối với hoạt động. Cuối cùng, việc có chủ ý, mục đích và lộ trình toàn cục cho hoạt động sẽ giúp cho cá nhân kết nối tới và bắt đầu tác vụ tiếp theo một cách nhanh chóng và trơn tru, bảo toàn được động lực nội tại đã nảy sinh và được bồi đắp từ tác vụ trước, làm nên một chuỗi “phản ứng dây chuyền” kéo dài và có thể càng lúc càng mạnh thêm.

Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng chú ý giữa động lực nội tại với hai loại động lực ngoại lai có tính tự chủ còn lại. Theo đúng định nghĩa, động lực nội tại phụ thuộc vào tính hấp dẫn của hành vi đối với cá nhân, và do đó thường chỉ tồn tại trong phạm vi từng tác vụ hoặc hoạt động cụ thể. Điều này trái ngược với động lực đồng nhất và tích hợp, vốn là các động lực nhắm tới việc đạt được một giá trị nào đó hoặc thể hiện một khía cạnh nào đó của nhân cách cá nhân, và do đó thường tồn tại một cách bao quát và liền mạch trong suốt quá trình đi đến một mục đích nhất định. Nói đơn giản hơn, động lực nội tại có xu hướng cục bộ và hướng tác vụ, trong khi động lực đồng nhất và tích hợp có xu hướng toàn cục và hướng mục đích. Sự khác biệt này khiến cho động lực nội tại thuần túy thường không đem lại kết quả cao so với động lực đồng nhất và tích hợp đối với những hoạt động “dài hơi”, đòi hỏi sự kiên trì cao và bao gồm trong nó nhiều hành vi kém hấp dẫn. Trạng thái động lực lý tưởng, do vậy, là một sự kết hợp giữa động lực nội tại trong từng tác vụ cụ thể với động lực đồng nhất hoặc tích hợp đứng sau hỗ trợ và duy trì hoạt động ở cấp độ bao quát hơn.

(còn tiếp)

 

Tôi học tiếng Nhật “vui” thế nào

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trong số những thứ tôi đã học qua suốt hơn 20 năm đầu đời này, có lẽ tiếng Nhật là thứ tôi thấy vui thú nhất. Tôi bắt đầu học tiếng Nhật khi bắt đầu bước chân vào trường đại học, và ngay sau khi tốt nghiệp tôi đã đến Nhật Bản làm việc. Vậy tính ra cho đến nay tôi đã học và sử dụng tiếng Nhật liên tục được gần 9 năm. Khi còn là sinh viên, tôi đỗ 3kyu (tương đương N3 hiện nay?) sau 1 năm mà không cần ôn thi, và đỗ 1kyu (N1) ngay lần đầu sau 3 năm (hôm thi 2kyu tôi ngủ quên nên bỏ qua). Đến thời điểm này tôi có thể tự tin nói rằng khả năng tiếng Nhật của tôi ngang tầm một người Nhật bình thường, còn theo lời nói đùa của đồng nghiệp (người Nhật) thì là “giỏi hơn mấy người Nhật làng nhàng”. Nói như vậy bảy phần là để khoe, còn ba phần là để chứng minh rằng cách học tiếng Nhật mà tôi viết dưới đây nếu không có tác dụng tích cực thì ít nhất cũng không hề ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học của tôi. Vậy thì, tôi đã học tiếng Nhật như thế nào?

Điểm thứ nhất, suốt 5 năm học tiếng Nhật, tôi không hề ghi chép một tí gì. Đến lớp học tiếng Nhật tôi không hề mang theo một quyển vở nào. Tất nhiên, tôi vẫn sử dụng những sách vở và tài liệu mà các thầy cô giáo phát cho, nhưng chỉ có thế mà thôi. Tại sao tôi lại không ghi chép? Một phần đó là vì tôi tự tin vào khả năng ghi nhớ của mình trong lĩnh vực ngôn ngữ. Nhưng quan trọng hơn, tôi nghĩ rằng nếu tôi không thể nhớ được một cái gì đó thì chứng tỏ nó không hoặc chưa quan trọng đối với tôi và do đó không cần phải nhớ. Đến bây giờ nghĩ lại tôi nhận thấy một điều: mọi người đi học đều chép bài hùng hục, nhưng nếu không phải vì những thông tin đó sẽ bị kiểm tra, mà lại không thể tìm kiếm được trong sách vở khác, thì có ai buồn nhìn lại đến lần thứ hai những quyển vở dày đặc chữ mà bản thân đã bỏ công ra chép hay không? Nếu câu trả lời là không, thì toàn bộ việc chép bài là để phục vụ cho cái gì? Bản thân việc học là để nhằm mục đích gì?

Đối với tôi, việc học tiếng Nhật là để thu về được những kiến thức và kỹ năng có ích, giúp cho tôi có thể sử dụng tiếng Nhật được trong thực tế. Điều đó có nghĩa mục tiêu của tôi không phải là những điểm 10, không phải là những chứng chỉ nọ kia, mà là để làm sao cho tôi có thể dùng tiếng Nhật như một người Nhật: nói chuyện, đọc sách báo, xem tivi, chơi trò chơi bằng tiếng Nhật. Một người Nhật bình thường muốn làm được điều đó cũng phải mất cả chục năm trời. Tôi không thấy có lý do gì để mình phải vội vàng nhai ngấu nghiến từng bài học trên lớp cả. Tôi sẵn sàng học 10 quên 9, quan trọng là cái 1 phần còn lại đó tôi cảm thấy có ý nghĩa, cảm thấy nó đáng nhớ, dễ nhớ, bám sâu vào trong trí não của tôi, trở thành một cái gì đó rất tự nhiên mà có thể sử dụng bằng cảm tính, thay vì phải mất công nhớ một cách máy móc. Chỉ cần tôi tích lũy từng chút một những cái 1 phần đó, rồi thì theo thời gian tôi cũng sẽ có một vốn kiến thức lớn mà lại thực chất.

Điểm thứ hai, suốt 5 năm học tiếng Nhật, thời gian tôi “học” lại rất ít. Trên lớp, tôi dành thời gian tán phét với thầy cô giáo cùng bạn bè bằng tiếng Nhật nhiều hơn là “học”. Ở nhà, tôi cũng chỉ làm vừa đủ hết bài tập được giao, chứ hầu như chẳng bao giờ ôn bài (vì có chép đâu mà ôn). Sau khoảng một năm, khi đã có căn bản, tôi bắt đầu tìm đủ thứ trò để “chơi” với tiếng Nhật. Tôi tải trò chơi tiếng Nhật về để vừa chơi vừa đọc và nghe hội thoại. Tôi cài plugin tra cứu từ điển rikaichan vào trình duyệt web, và đọc đủ các chủng loại trang web bằng tiếng Nhật. Từ những thời gian “chơi” đó, tôi thu được vô số hiểu biết nhỏ nhặt mà lý thú về tiếng Nhật nói riêng và xã hội Nhật nói chung mà tôi không bao giờ được dạy. Ngược lại, tôi cực ghét những kiểu “học” thường thấy như viết cả đống từ ngữ ngẫu nhiên ra giấy rồi ngồi học thuộc lòng. Một phần cũng là vì tôi vốn dĩ lười, một phần nữa là vì từ cảm tính tôi tin rằng học như thế là vô nghĩa và sẽ chỉ khiến tôi chán ghét việc học mà thôi.

Rất may là cảm tính của tôi có vẻ đã đúng. Sau này khi đọc một số sách về tâm lý tôi biết rằng những gì được gắn kết với những ký ức vui vẻ, thú vị thì sẽ dễ nhớ hơn và dễ lấy ra hơn. Trí não cảm tính của chúng ta hoạt động dựa trên việc kết nối giữa các ý tưởng, khái niệm và suy nghĩ với nhau. Khi chúng ta lục tìm thông tin, một cách vô thức trí não của chúng ta sẽ lần mò theo những sợi dây kết nối đó để tìm đến thông tin cần thiết. Một thông tin, một ý tưởng, một kiến thức nếu được tiếp nhận một cách rời rạc, đơn lẻ, không có sự kết nối đa dạng và chặt chẽ với những thông tin khác trong trí não chúng ta, tức là không “có ý nghĩa”, thì sẽ nhanh chóng bị quên lãng nếu chúng ta không liên tục ý thức về nó. Đó cũng là lý do vì sao (sau khi thi/kiểm tra xong) chúng ta có thể lập tức quên phắt những kiến thức đã học, nếu như chúng không được liên hệ với cuộc sống, không gắn với những ký ức thú vị, không hề được yêu thích, và nói chung không liên quan gì đến chúng ta.

Điểm thứ ba, trong quá trình học tôi thường xuyên “chơi trội”. Điều đó có nghĩa là tôi đem những mẩu kiến thức tiếng Nhật “ngoài lề” “vượt giáo án” mà mình góp nhặt được trong quá trình “chơi” vào sử dụng trên lớp và thậm chí cả vào bài kiểm tra. Các bài tập làm văn, nếu như một số bạn bè khác chỉ viết đầy một trang theo đúng yêu cầu, thì tôi viết dài ra đến hai ba trang, dùng cả những cấu trúc ngữ pháp và lối nói chưa được dạy và không bị yêu cầu. Tôi làm vậy có thể nói là vì tôi muốn “thể hiện”, cũng có thể nói là vì tôi cố tình muốn được “sai sót”. Đối với tôi, việc tự thu thập, tự nghiệm ra, tự tổ chức kiến thức, rồi kiểm nghiệm nó trong thực tế, sửa chữa khi thấy nó sai có ý nghĩa lớn hơn và thú vị hơn nhiều việc cố gắng không sai gì hay là điểm chác của mấy bài kiểm tra. Tôi cho rằng cách học đó có tính “khoa học”. Khoa học, xét cho cùng, là đưa ra các giả thuyết và kiểm nghiệm các giả thuyết đó một cách chặt chẽ cho đến khi nó đứng vững. Học cũng vậy.

Bằng cách này, có thể nói rằng tôi đã học tiếng Nhật bằng các thí nghiệm khoa học. Một ví dụ là việc tôi phát hiện ra だ = である. Tôi có hai đầu mối: 1. phủ định của だ là じゃない, じゃない là cách viết khác của ではない, bắt nguồn từ でない, trong khi đó ない là phủ định của ある, và 2. kính ngữ của だ là でございます, mà ございます lại là kính ngữ của ある. Từ hai đầu mối này tôi đưa ra giả thuyết だ = である. Sau khi đã có giả thuyết, tôi kiểm nghiệm độ chính xác của nó bằng cách dùng である ở một đôi chỗ trong các bài tập làm văn hay khi nói chuyện với thầy cô. Khi thấy cách dùng này không bị phê sai hay sửa chữa, tôi đã khá tự tin rằng giả thuyết của mình là đúng, và quả thật sau này tôi gặp rất nhiều ví dụ thực tế khác khẳng định điều đó. Có thể nói tôi đã tự mình “phát hiện” ra một kiến thức bằng “phương pháp khoa học” mà không cần được ai dạy, và điều đó đem lại cho tôi niềm vui rất lớn, đến mức kiến thức đó chưa từng bao giờ rời khỏi trí não của tôi.

Điểm thứ tư, tôi học tiếng Nhật bằng “cảm nhận” và “bắt chước” nhiều hơn là “suy nghĩ”. Tôi bắt chước từ cách viết chữ, cách phát âm, cách nói năng và dùng từ, cho đến cả tính cách, trước hết là từ thầy cô người Nhật của tôi, sau đó là đến những nhân vật trong trò chơi, những người viết blog và bình phẩm trên internet, và sau này là các đồng nghiệp người Nhật. Tôi nghe và bắt chước theo cách thầy cô tôi phát âm và lên xuống giọng như khi tôi tập hát theo một bài hát nào đó. Nếu bạn có khả năng nghe một bài hát và hát theo, thì bạn cũng có đầy đủ khả năng để phát âm tốt tiếng Nhật bằng cách bắt chước theo người Nhật như lúc bạn tập hát. Nếu bạn không làm được, thì vấn đề có lẽ là ở chỗ bạn “suy nghĩ” quá nhiều, rằng chữ này phải phát âm thế này, chữ kia phải phát âm thế kia, mà quên đi việc “cảm nhận” xem người Nhật nói tiếng Nhật như thế nào. Xét cho cùng, “tiếng Nhật” là “ngôn ngữ mà người Nhật đang dùng”, chứ không phải một môn học cứng nhắc và sách vở.

Điểm cuối cùng, tôi học tiếng Nhật với một thái độ “chấp nhận” và “mù mờ”, tức là tôi không bỏ công suy xét đến cùng một cái gì, mà chấp nhận nó như nó vốn thế. Khi gặp một cách thể hiện, một lối nói, một câu văn dường như trái với những gì tôi đã biết, tôi không thắc mắc “sao nó lại thế”. Khi đọc, tôi cố gắng không tra cứu mà dùng văn cảnh để đoán nghĩa của từ, của câu và của cấu trúc. Những từ, những cấu trúc nào tôi chưa biết nhưng không thấy có hứng thú hay không ảnh hưởng đến ý nghĩa toàn cục thì tôi sẵn sàng đoán bừa hay bỏ qua. Kể cả khi phải tra cứu, tôi cũng tránh dùng từ điển Nhật-Việt, mà dùng từ điển Nhật-Anh hay Nhật-Nhật, hoặc thậm chí là gõ thẳng vào Google và xem xem những từ đó, cấu trúc đó được sử dụng trong thực tế như thế nào. Thêm vào đó, tôi cũng chỉ quan tâm xem từ và cấu trúc đó có nghĩa đại khái như thế nào, chứ không mấy quan tâm xem nó dịch ra tiếng Việt hay tiếng Anh như thế nào.

Tôi làm như vậy vì hai lý do. Thứ nhất, việc suy xét và tra cứu từng câu từng chữ nhỏ nhặt mỗi khi đọc cái gì đó sẽ khiến tôi phải thường xuyên rời khỏi mạch văn mình đang đọc, làm cho tôi mất hứng và thiếu tập trung. Xét cho cùng, tôi đọc trang web tiếng Nhật hay chơi trò chơi tiếng Nhật là để giải trí, để tìm kiếm những điều lý thú, chứ không phải để “học” tiếng Nhật. Thứ hai, tôi tin rằng một từ, một cấu trúc ngữ pháp trong tiếng Nhật, hay bất kỳ ngoại ngữ nào khác, thường đại diện cho một khái niệm, một hình ảnh, một cảm giác chung chung và mù mờ, và do đó không nên được hiểu bằng cách dịch sang tiếng Việt, mà nên được hiểu một cách đại khái, hiểu trong văn cảnh, và hiểu như nó vốn thế. Cách suy nghĩ này khiến cho tôi có thể hiểu và nhớ ý nghĩa bằng hình dung thay vì bằng từ tiếng Việt tương đương. Điều này đặc biệt hữu ích đối với những từ và cấu trúc có nghĩa rộng, có thể được sử dụng trong nhiều văn cảnh với nhiều nghĩa khác nhau.

Nếu phải dùng một câu để nhận xét về phương pháp học tiếng Nhật của tôi, thì đó sẽ là: trẻ em học tiếng mẹ đẻ thế nào thì tôi học tiếng Nhật như thế. Trẻ em học tiếng mẹ đẻ chủ yếu thông qua việc quan sát và bắt chước xung quanh trong một thời gian dài, từ khi sinh ra cho đến lúc lớn lên. Những kiến thức bài bản về tiếng mẹ đẻ học ở trường, nào là những chủ ngữ, vị ngữ, danh từ, tính từ,… đơn thuần chỉ đóng vai trò hệ thống hóa những hiểu biết sẵn có của trẻ em và đặt tên cho các khái niệm mà thôi. Tôi còn nhớ như in khi học những giờ từ ngữ ngữ pháp cấp 1, tôi đã luôn nghĩ trong đầu: học cái này để làm gì, cái này tôi biết hết rồi mà? Kể cả sau đó trong quá trình trưởng thành, hầu như toàn bộ kho từ vựng và kỹ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ mà chúng ta thu thập được vẫn là đến theo con đường tự nhiên từ thế giới xung quanh, từ sách báo, từ ti vi, từ những cuộc trò chuyện của người lớn, và gần đây là từ internet, chứ không phải từ việc “học”.

Cá nhân tôi nghĩ rằng hệ thống giáo dục chúng ta sử dụng rộng rãi ngày nay đã và đang tạo nên một sự hiểu nhầm tai hại: rằng “học” là phải đến lớp ngồi nghe giảng, rằng “học” là phải giải cái này, học thuộc cái kia, rằng “học” thường (và thậm chí phải) là một cái gì đó khó khăn và … khó chịu. Tôi không cho là như vậy. Tôi cho rằng việc học hoàn toàn có thể diễn ra một cách tự nhiên, không cần trường lớp, không cần và trong một số trường hợp không nên có giáo trình rõ ràng bó buộc, với phương pháp chủ yếu là việc tiếp xúc thường xuyên với các nguồn thông tin có liên quan, cùng với việc tìm hiểu, bắt chước và thử nghiệm dần dần. Tất cả những điều đó cần được diễn ra một cách tự nguyện, lâu dài và theo một nhịp độ của riêng người học. Điều này đặc biệt đúng đối với việc học tiếng Nhật nói riêng và ngoại ngữ nói chung, nhưng hoàn toàn cũng có thể áp dụng được đối với việc học bất cứ một thứ gì trong cuộc sống.

Ở đây tôi không có ý khẳng định rằng phương pháp học của tôi là “đúng” nhất hay “tốt” nhất, rằng tất cả mọi người đều nên và có thể làm theo được. Rất có thể tôi học được theo phương pháp như vậy đơn giản chỉ bởi nhờ vào năng khiếu bẩm sinh của bản thân. Thêm vào đó, tôi còn có may mắn là thường xuyên được gặp gỡ và giao tiếp với các thầy cô người bản xứ gần như hàng ngày trong những năm đầu tiên của việc học tiếng Nhật, một lợi thế rất lớn mà không phải ai cũng có thể có được. Tôi cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của trường lớp và giáo trình. Việc học có bài bản ở trường lớp đã giúp tôi tiết kiệm một lượng lớn thời gian trong khoảng một hai năm đầu cho việc xây dựng nên những hiểu biết căn bản về tiếng Nhật, đồng thời giúp tôi duy trì được việc học một cách lâu dài và đều đặn. Tuy nhiên tôi tin rằng chính phương pháp học một cách tự nhiên kể trên mới là nhân tố lớn giúp cho tôi đạt được trình độ tiếng Nhật như hiện nay.

Tất nhiên, mọi phương pháp học cần được đánh giá dựa trên từng hoàn cảnh cụ thể. Nếu mục đích học tiếng Nhật của bạn là để thi đỗ chứng chỉ cấp tốc hay đạt được thành tích đẹp trên bảng điểm, thì tôi không phủ nhận giá trị của các phương pháp học “truyền thống”. Tuy nhiên nếu bạn thực sự muốn sử dụng được tiếng Nhật, hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác, như một ngôn ngữ thứ hai bên cạnh tiếng mẹ đẻ, thì việc tìm cách nhúng mình vào môi trường thích hợp nếu có điều kiện, và để việc học diễn ra một cách tự nhiên, “vui vẻ” thông qua cảm nhận, bắt chước và thử nghiệm có lẽ sẽ đem lại kết quả tốt hơn.

Câu chuyện hệ chữ số

1. Câu chuyện hệ chữ số của tôi

Chúng ta hãy cùng trở về thời kỳ tiền sử, khi mà con người còn chưa phát minh ra các hệ chữ số. Tôi, trong vai một người tiền sử, ôm một đống trái cây về hang cất giữ. Đến khi bước ra khỏi hang, tôi tự hỏi: làm sao tôi có thể biết và nhớ được mình đang có bao nhiêu trái cây khi rời khỏi hang? Làm sao tôi có thể biết chắc được rằng đống trái cây tôi bỏ công kiếm về vẫn còn nguyên khi tôi quay trở lại, chứ không bị thằng hàng xóm thó mất vài ba quả?

Hiển nhiên do chữ số chưa được phát minh, nên tôi sẽ không có khái niệm gì về các con số “một”, “hai”, “ba”, và do đó không thể diễn đạt và nhớ được số lượng bằng con số. Nếu số lượng trái cây chỉ có vài ba quả, thì tôi có thể ghi nhớ lại hình ảnh của cả đống trái cây, và hình dung lại hình ảnh đó khi cần biết số lượng trái cây đang có. Phương pháp này có nhược điểm nhãn tiền là rất dễ quên và dễ nhầm lẫn. Tôi cũng có thể làm theo cách là kiếm một số viên sỏi nhỏ về hang, cứ nhặt một quả trái cây đặt sang một bên lại nhặt một viên sỏi cầm trên tay hoặc cho vào vật đựng để mang đi. Phương pháp này chính xác hơn rất nhiều so với phương pháp trước, và có thể nói là bước đi đầu tiên trong việc biến đổi số lượng trong hiện thực thành khái niệm trừu tượng.

he-co-so-1Hình 1

Vấn đề tiếp theo nảy sinh khi số lượng trái cây tăng lên hàng chục, khiến cho lượng sỏi phải sử dụng trở nên quá lớn. Việc vác theo một túi sỏi nặng trịch chỉ để nhớ số lượng trái cây trong hang là quá thiếu hiệu quả. Vốn đầu óc thông minh nên tôi bèn nghĩ ra một sáng kiến, là cứ nhặt một số lượng sỏi nhất định thì bỏ số sỏi đó đi và nhặt lấy một que củi nhỏ, như vậy tôi có thể giới hạn số lượng sỏi ở một mức độ vừa phải. Nhưng vấn đề là nhặt bao nhiêu viên sỏi cho một que củi? Tôi có thể lấy một số lượng nhỏ nào đó, ví dụ bốn năm viên sỏi, mà tôi có thể nhớ được bằng mắt, nhưng như vậy số lượng que củi sẽ tăng lên quá nhanh. Thay vào đó tôi cũng có thể lấy một số lượng đại khái như “một nắm sỏi”. Như vậy tôi đã tìm ra cách nhớ được một số lượng lớn thông qua việc dùng hai đồ vật đếm thay vì chỉ một. Đến khi muốn biết số lượng, tôi chỉ việc thay mỗi que củi bằng một nắm sỏi, rồi quy đổi mỗi viên sỏi thành một quả trái cây.

he-co-so-2Hình 2

Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng nếu cứ lấy đại khái “một nắm sỏi”, thì mỗi lần nhặt tôi lại ra một số lượng sỏi và que củi khác nhau. Nhìn vào hai bàn tay mình, tôi chợt nhận ra rằng, trừ thằng hàng xóm không may bị sói tạp mất một ngón, còn lại thì ai cũng đều có số lượng ngón tay như nhau và (hầu như) không đổi. Tôi có thể nắm hai bàn tay lại, và cứ mỗi một hòn sỏi được lấy ra thì tôi lại xòe một ngón tay ra, đến khi nào tất cả các ngón tay đều xòe thì tôi đã có lượng sỏi mình cần. Trừ khi tôi cũng bị sói tạp mất ngón tay, còn thì tôi có làm cách này bao nhiêu lần cũng sẽ ra kết quả như nhau. Đến đây, tôi đã có thể biết được, hay “đếm” được, một số lượng trái cây đủ chất đầy hang chỉ bằng các viên sỏi và que củi với số lượng mỗi loại bằng đúng số ngón tay trên hai tay. Hơn thế nữa, giờ tôi đã có thể chia sẻ cách đếm số trái cây này với mọi người xung quanh, vì ai cũng đều có hai tay, và đều có cùng số lượng ngón tay (trừ thằng hàng xóm).

he-co-so-3Hình 3

Một ngày nọ, khi đang nằm trong hang gặm hoa quả, tôi bỗng nảy ra một ý tưởng sáng lạn: thay vì phải cặm cụi đi nhặt củi và sỏi, tôi có thể vẽ hình từng viên sỏi và que củi lên vách hang. Như vậy tôi không cần phải dùng sỏi với củi thật để thể hiện số lượng nữa. Do trình độ nghệ thuật có hạn, nên tôi vẽ các que củi bằng cách kẻ các đoạn thẳng, và các viên sỏi bằng các dấu chấm lớn. Tôi không nghĩ là người La Mã cổ đại đã sống trong hang và đếm trái cây chỉ bằng que củi để phát minh ra chữ số của họ, nhưng tôi đã có được một cách “viết” số về nguyên tắc khá giống với hệ chữ số La Mã nổi tiếng vẫn còn được dùng đến ngày nay.

he-co-so-4Hình 4

Sau một thời gian kẻ và chấm chán chê, tôi thấy rằng nếu số lượng trái cây của tôi vượt quá khả năng thể hiện của sỏi và củi, thì tôi sẽ phải tăng số lượng sỏi cho mỗi que củi lên, hoặc tìm thêm một vật đếm thứ ba. Tôi có thể dùng thêm cả các ngón chân khi đếm sỏi, hay dùng thêm vỏ sò làm vật đếm, nhưng cả hai cách đó đều rồi sẽ đến giới hạn. Một tia sét lóe lên trong đầu: nếu như tôi đã mất công vẽ từng viên sỏi, rồi lại mất công xòe gập ngón tay theo từng viên sỏi, thì sao tôi lại không vẽ luôn cả hình dáng hai bàn tay tôi sau khi đếm xong lên thay cho các viên sỏi? Tôi cũng có thể làm tương tự với các que củi, và với các vỏ sỏ, và với bất cứ thứ gì vật đếm nào tiếp theo. Như vậy tôi sẽ không cần phải đi tìm thêm vật đếm khác nữa. Do lúc này tất cả các vật đếm của tôi đều được thay thế bằng hình bàn tay, nên để tránh nhầm lẫn, tôi vẽ bàn tay thể hiện số sỏi theo chiều dọc ở ngoài cùng bên phải, bàn tay thể hiện số củi theo chiều ngang về phía bên trái, rồi cứ thế viết dần về phía bên trái và đan xen chiều dọc ngang.

he-co-so-5Hình 5

Đến đây tôi đã tạo ra được một cách viết và ghi nhớ số lượng, hay còn gọi là một hệ chữ số, khá gọn gàng, hiệu quả và … đẹp một cách cá tính.

2. Hệ chữ số là gì

Một hệ chữ số đơn giản chỉ là một cách biểu hiện một tập các số nhất định bằng các ký hiệu nhất định theo một cách nhất định. Một hệ chữ số luôn được tạo nên từ hai yếu tố: các ký hiệu, và một quy tắc thống nhất về cách diễn giải và sử dụng các ký hiệu đó. Một ví dụ về ký hiệu là các que củi và hòn sỏi trong hình 2, hay hình vẽ bàn tay trong hình 5. Một ví dụ về quy tắc ký hiệu có thể thấy ở hình 2 và hình 3. Ở đây cần chú ý rằng các ký hiệu chỉ có ý nghĩa khi ta biết được quy tắc sử dụng các ký hiệu đó. Cùng một nhóm ký hiệu có thể thể hiện cho các số lượng khác nhau, khi sử dụng với các quy tắc khác nhau. Một hệ chữ số có giá trị sử dụng trong thực tế phải đảm bảo thể hiện được tất cả các số trong tập số cần thể hiện, và mỗi số chỉ có thể được thể hiện theo một hoặc đôi khi là một vài cách nhất định.

Các ký hiệu trong một số của một hệ chữ số thường không bình đẳng với nhau. Một hệ chữ số có thể có nhiều ký hiệu, và mỗi ký hiệu được gán một giá trị khác nhau. Một hệ chữ số như vậy được gọi là có tính ký hiệu. Trong ví dụ ở trên, hệ chữ số ở hình 4 là một hệ chữ số có tính ký hiệu, với hình que củi thể hiện giá trị 10 và hình viên sỏi thể hiện giá trị 1. Ngược lại, cùng một ký hiệu có thể có giá trị khác nhau tùy vào cách viết và vị trí tương đối của ký hiệu đó trong một nhóm ký hiệu. Một hệ chữ số như vậy được gọi là có tính vị trí. Trong ví dụ ở trên, hệ chữ số ở hình 5 là một hệ chữ số có tính vị trí, với các hình bàn tay càng về phía bên trái thì càng thể hiện giá trị lớn hơn.

Đối với một hệ chữ số chỉ có tính ký hiệu, có hai cách để thể hiện các giá trị nằm giữa hai ký hiệu. Cách thứ nhất là viết lặp đi lặp lại các ký hiệu nhỏ hơn cho đến khi đạt đến giá trị của ký hiệu lớn hơn, giống như tôi đã làm ở hình 4. Cách thứ hai là sử dụng kết hợp hai bộ ký hiệu: các ký hiệu đơn vị thể hiện một số giá trị liên tiếp nhau, và các ký hiệu bậc thể hiện các giá trị lớn nằm cách xa nhau. Trong các hệ chữ số sử dụng cách thứ hai, các ký hiệu đơn vị sẽ được gắn với một ký hiệu bậc để thể hiện số lần lặp lại của ký hiệu bậc đó thay cho việc viết nhiều lần. Dù cách thứ hai đã rút ngắn được số khi viết đi khá nhiều, nhưng một hệ chữ số ký hiệu vẫn sẽ phải có rất nhiều ký hiệu cho từng bậc giá trị, hoặc sẽ phải kết hợp các ký hiệu bậc lại với nhau để thể hiện các giá trị rất lớn. Một hệ chữ số sử dụng khá nhiều ký hiệu bậc là hệ chữ số viết bằng Hán tự thời cổ, với các ký hiệu cho từng bậc giá trị từ 10 cho đến 100.000.000.000.000!

he-co-so-9Hình 6

Một hệ chữ số có tính vị trí, do đó, có thể nói là một cách viết tắt của một hệ chữ số ký hiệu, trong đó các ký hiệu bậc không được viết ra mà được hiểu ngầm dựa trên vị trí tương đối và cách viết của từng ký hiệu đơn vị. Đối với hệ chữ số ký hiệu, khi số lượng ký hiệu bậc cần dùng để quy đổi ra ký hiệu bậc kế tiếp là bằng nhau cho tất cả các bậc, thì số lượng đó được gọi là cơ số của hệ chữ số. Đối với hệ chữ số vị trí, cơ số sẽ là số lượng ký hiệu đơn vị có thể dùng ở một vị trí cho đến khi cần chuyển sang vị trí tiếp theo, và thường sẽ bằng số lượng ký hiệu đơn vị (bao gồm cả số không).

3. Các hệ chữ số trên thế giới

Các hệ chữ số sơ đẳng nhất là các hệ chữ số không có tính ký hiệu lẫn tính vị trí. Tuy nghe qua thì chúng có vẻ thô thiển, nhưng các hệ chữ số này lại vẫn được con người sử dụng cho đến ngày nay. Đó chính là các hệ chữ số đếm vạch, tương tự như việc chỉ sử dụng sỏi để đếm trái cây như ở hình 1. Phổ biến nhất ở nhiều nước phương Tây là cách vạch một vạch dọc cho mỗi một đơn vị, và vạch một vạch ngang hoặc chéo đè qua 4 vạch dọc cạnh nhau để thể hiện số 5, rồi lại bắt đầu lại từ đầu ở bên cạnh. Ở các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp và Tây Ban Nha thì người ta lại vạch 4 vạch tạo thành hình vuông và một vạch chéo bên trong hình vuông. Các nước có sử dụng Hán tự lại có cách riêng là dùng 5 vạch tạo thành chữ “chính” (正). Các hệ chữ số đếm vạch có ưu điểm là không cần tính toán phức tạp và có thể viết tiếp số lớn hơn từ số nhỏ hơn, nên thường được dùng để học đếm hoặc ghi lại một số tăng dần.

he-co-so-6Hình 7 (nguồn: Wikipedia)

Một hệ chữ số ký hiệu khá nổi tiếng là hệ chữ số Ai Cập cổ đại. Các ký hiệu trong hệ chữ số Ai Cập cổ mang giá trị lần lượt từ 1 (vạch kẻ), 10 (móng ngựa?), 100 (cuộn dậy), 1.000 (hoa súng), 10.000 (ngón tay gập), 100.000 (con ếch hoặc nòng nọc) cho đến 1.000.000 (vị thần giơ tay). Số 100.000 được viết bằng hình một con ếch hoặc nòng nọc có lẽ là do số lượng nòng nọc rất lớn được sinh ra mỗi lần từ trứng ếch, còn vị thần giơ tay có lẽ là thể hiện một con số rất lớn khiến thần cũng phải kinh ngạc. Do chỉ mang tính ký hiệu chứ không mang tính vị trí, nên các ký hiệu trong một số của hệ chữ số Ai Cập trên lý thuyết có thể được viết theo bất kỳ một thứ tự nào. Tuy nhiên trong các di tích Ai Cập cổ, các ký hiệu này thường được viết thành hàng ngang từ phải sang trái, và khi có nhiều hàng thì theo chiều từ trên xuống dưới.

he-co-so-7 Hình 8 (nguồn: discoveringegypt.com)

Một đại diện khá thú vị cho hệ chữ số gần như chỉ mang tính vị trí là hệ chữ số bằng que đếm của Trung Quốc cổ đại. Hệ chữ số này chỉ bao gồm hai ký hiệu là một que đếm hoặc một đoạn thẳng tượng trưng cho que đếm, và một vòng tròn thể hiện cho số 0. Tất cả các số từ 1 đến 9 được thể hiện bằng cách xếp từ 1 đến 5 que đếm theo một quy tắc nhất định. Các que đếm ở hàng đơn vị được xếp theo chiều dọc, hàng chục được xếp theo chiều ngang, hàng trăm lại được xếp theo chiều dọc, và cứ thế đan xen nhau. Hàng nào không có que nào sẽ được để trống nếu dùng que đếm thực, và thay bằng một vòng tròn khi viết trên giấy.

he-co-so-8Hình 9 (nguồn: Google)

Hầu hết các hệ chữ số hiện đại đang được sử dụng đều có cả tính ký hiệu lẫn tính vị trí. Trong đó dễ thấy nhất là hệ chữ số Ả rập và các hệ chữ số tương tự, sử dụng 10 ký hiệu cho các số từ 0 đến 9 và sử dụng vị trí để thể hiện giá trị hàng chục, hàng trăm,… Hệ chữ số Ả rập trên thực tế được phát minh ra tại Ấn Độ cổ đại, lan truyền sang khu vực Ả rập rồi sau đó mới đến tay người phương Tây và từ đó phổ biến ra khắp thế giới. Bản thân người Ả rập lại gọi hệ chữ số này là “hệ chữ số Ấn Độ”. Hệ chữ số Ả rập có thể nói là một trong những phát minh vĩ đại của con người, giúp đẩy mạnh sự phát triển và lan truyền của khoa học kỹ thuật từ thời cổ đại cho đến ngày nay.

he-co-so-11Hình 10 (nguồn: Wikipedia)

Mặc dù số lượng ngón tay của con người khiến cơ số thập phân chiếm vị trí độc tôn trong hệ chữ số ở khắp nơi trên thế giới, nhưng đây đó vẫn có các hệ chữ số với cơ số khác 10. Trong đó thú vị nhất phải kể đến hệ chữ số cơ số 60 của người Sumer và Babylon cổ đại và hệ chữ số cơ số 20 của người Maya. Hai hệ chữ số này thực chất là sự kết hợp của hai cơ số con (60=6×10 và 20=5×4) được viết như một hệ chữ số ký hiệu bên trong hệ chữ số lớn hơn mang tính vị trí. Các chữ số của người Babylon có hình dạng như những chiếc đinh do được viết bằng cách ấn một vật nhọn (thường là đầu que bút sậy) lên một tấm đất sét còn ướt rồi nung cho cứng lại, còn các chữ số của người Maya có lẽ lại bắt nguồn từ các vật đếm phổ biến là viên sỏi, que củi và vỏ sò.

he-co-so-10Hình 11 (nguồn: Wikipedia)

Bên cạnh các hệ chữ số viết thể hiện số đơn thuần như trên, nếu để ý kỹ ta cũng có thể thấy sự xuất hiện của các hệ chữ số “ẩn”. Một trong số đó chính là cách chúng ta đọc và viết số bằng tiếng Việt: trong “một trăm hai mươi (mười) ba” thì “một”, “hai”, “ba” là ký hiệu đơn vị, còn “trăm” và “mười” là ký hiệu bậc. Một ví dụ khác là cách chúng ta viết thời gian theo hệ cơ số 60, nếu ta coi mỗi số trong khoảng từ 0 đến 59 là một hệ chữ số con với cơ số 10.

4. Kết

Bài viết này tôi lấy cảm hứng từ một cuốn sách toán học vui tôi đọc từ khi còn là học sinh cấp hai. Cuốn sách đó đã khiến cho tôi biết thêm rất nhiều câu chuyện và tri thức thú vị về toán, cũng như giúp tôi hiểu rõ hơn những khái niệm toán học khá khó hiểu đối với tôi lúc đó như các cơ số trong hệ chữ số. Cuốn sách đó khiến tôi bỗng thấy toán thú vị theo một cách khác với những gì đang học trên lớp, và tôi đã đọc đi đọc lại nó đến cả chục lần.

Một vấn đề tôi hay thấy ở chương trình học của Việt Nam là chúng ta đi quá nhanh và quá tắt vào thẳng các khái niệm vốn đã khiến nhân loại phải mất hàng nghìn năm để xây dựng nên. Điều này có thể giúp tiết kiệm thời gian giảng dạy, nhưng nó khiến cho học sinh không tạo được mối liên hệ giữa các khái niệm được học với thế giới xung quanh, hoặc có tạo thì theo một cách máy móc. Học sinh sẽ chỉ biết số 13 là số tiếp theo số 12, 13=10+3, chứ không hình dung được số 1 và số 3 chỉ là các ký hiệu, có thể mang ý nghĩa khác nhau tùy vào cơ số.

Qua những bài viết như thế này, tôi mong rằng có thể cung cấp một cách tiếp cận khác đối với các khái niệm khoa học vẫn được giảng dạy trong nhà trường. Hy vọng rằng chúng sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về những gì mình đã học, cũng như dễ dàng giải thích hơn cho con em/học sinh của mình về sau.