Cha mẹ và con cái và lợi ích và xung đột

Có lẽ phần đông các bạn trẻ thế hệ tôi đều đã từng ít nhất một lần được nghe câu “bố/mẹ/tao làm XYZ là muốn tốt cho con/mày chứ cho ai” hay đại khái như vậy từ miệng cha mẹ mình khi bị bắt ép làm một điều gì đó mà bản thân không thích. Và hẳn trong số các bậc cha mẹ trẻ ngày nay cũng không thiếu người đã từng hay vẫn đang có những suy nghĩ muốn con làm một điều gì đó mà bản thân cho là tốt cho con, trong khi chưa suy nghĩ thấu đáo đến mong muốn thực sự của đứa trẻ. Trong bài viết lần này tôi xin bàn về sự xung đột này giữa cha mẹ và con cái.

Trước hết chúng ta hãy nói về vấn đề thế nào là “cái tốt”, là “lợi ích”, là “vì hạnh phúc con cái”. Hẳn ít ai phản đối rằng “hạnh phúc” và rộng ra là “lợi ích” là một cảm nhận mang tính chủ quan, tức tùy thuộc vào giá trị quan của cá nhân người tiếp nhận. Mà đã như vậy, thì rõ ràng người có tư cách nhất, nếu không muốn nói là người duy nhất có đủ thẩm quyền, để mà quyết định xem một sự vật sự việc có đem lại “hạnh phúc” và “lợi ích” cho ai đó hay không, phải là chính người sẽ được/phải tiếp nhận cái “hạnh phúc” và “lợi ích” ấy, vì đó là người nắm rõ nhất tiêu chí để đưa ra đánh giá. Một sự đánh giá từ người khác, nếu không phải là niềm tin hay phỏng đoán, thì cũng chỉ là suy đoán chứ không phải là quyết định cuối cùng.

Do vậy, rõ ràng việc các bậc cha mẹ bắt ép con cái làm một điều gì đó mà chúng không muốn với lý do “vì lợi ích của con” là một điều hoàn toàn mâu thuẫn, vì lợi hay không phải do con quyết định, con đã cự tuyệt chứng tỏ mong muốn của bố mẹ không phải là “lợi ích” của con. Việc cha mẹ khăng khăng vin vào cái lý do “vì lợi ích của con”, do đó, không những là một điều vô lý đùng đùng, mà còn thể hiện một sự phủ nhận và thiếu tôn trọng đối với chủ thể đã đưa ra quyết định bác bỏ lý do ấy, mà ở đây là nhân cách tự thân của con.

Tất nhiên, “hạnh phúc” và “lợi ích” nên được đánh giá một cách toàn diện, công bằng và lâu dài. Và quả thực, có nhiều trường hợp con cái đưa ra những đánh giá mang tính hẹp hòi, thiên lệch hoặc ngắn hạn đối với những mong muốn hay yêu cầu của cha mẹ, và khi lớn lên sẽ thay đổi suy nghĩ mà cảm thấy biết ơn những gì cha mẹ đã làm. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không hề thay đổi được bản chất của sự việc là cha mẹ đã có hành động phủ nhận nhân cách của con, ít ra là tại thời điểm sự việc xảy ra và nhìn từ quan điểm của con cái.

Kết quả của điều đó là gì? Là về mặt lâu dài, cả con cái lẫn cha mẹ đều thiệt đơn thiệt kép. Việc nhân cách của con cái bị cha mẹ phủ nhận trước hết sẽ gây tổn thương tinh thần cho con, vì cha mẹ thường là những người con tin cậy và mong muốn được yêu thương và chấp nhận nhất. Quan trọng hơn, nó gây cản trở đến việc hình thành nhân cách tự thân của con. Đó là bởi vì việc phải làm một điều mà bản thân không muốn vì một lý do mà bản thân không phục, về bản chất chính là việc con người ta phải tự phủ nhận nhân cách của bản thân ở mức độ nào đó để sống theo một nhân cách giả tạo hòng xoa dịu sức ép kia. Nếu điều này diễn ra thường xuyên liên tục kéo dài, và nhân cách tự thân của con cái không đủ mạnh mẽ để chống cự, thì sẽ dẫn đến việc đứa trẻ lớn lên nhưng không có được một nhân cách thật cho riêng mình, mà chỉ sống theo những chuẩn mực và mong muốn của người khác.

Đứng từ phía cha mẹ, thì sự thể cũng không hề khá hơn. Có thể trong một chốc một lát những mong muốn và yêu cầu của cha mẹ sẽ được đáp ứng, nhưng việc bị buộc phải vứt bỏ mong muốn và suy nghĩ của bản thân để làm vui lòng cha mẹ về lâu dài sẽ dẫn đến sự xói mòn sự tin cậy mà con cái dành cho cha mẹ. Rõ ràng sẽ chẳng có ai muốn chia sẻ những suy nghĩ sâu xa chân thật xuất phát từ nhân cách thực của bản thân với những người đã từng và rất có thể sẽ lại chà đạp, phủ nhận, hay ít ra là không chào đón nhân cách ấy. Và khi đó, giữa cha mẹ và con cái sẽ xuất hiện một khoảng cách về niềm tin, một cái hố chia rẽ do các bậc cha mẹ tự đào lấy, để rồi lại đi băn khoăn là sao con không tâm sự với mình, và thậm chí là nghĩ đến chuyện đọc trộm nhật ký thư từ để “hiểu con hơn”. Đó là chưa kể, đối với những bậc cha mẹ muốn con mình trở thành một người độc lập và biết tự suy nghĩ, thì việc vô tình cản trở sự hình thành nhân cách tự thân của con, cản trở cái nền móng duy nhất cho sự “độc lập” và “biết nghĩ” kia, quả là một bi kịch.

Vậy phải chăng giải pháp ở đây là không bắt con làm bất cứ điều gì mà con không muốn? Đó chưa hẳn là giải pháp tốt nhất, và trong một số trường hợp cụ thể còn là giải pháp tồi. Trước hết, cha mẹ, với tư cách là người chịu trách nhiệm trước xã hội về tính mạng, sức khỏe và hành vi của con cái mình cho đến khi chúng trưởng thành, trong nhiều trường hợp có thể được xem là có lý do chính đáng để bắt buộc con cái làm theo ý mình bất kể mong muốn của con. Hơn nữa, việc luôn luôn ưu tiên mong muốn của con cái trong mọi trường hợp xung đột sẽ dẫn đến một mối quan hệ bất bình đẳng, thiếu sự tôn trọng từ phía con cái đối với cha mẹ như giữa những con người ngang hàng với nhau, và do vậy sẽ có thể tạo nên những nhận thức sai lầm trong con trẻ về quan hệ giữa người với người trong xã hội.

Thế thì xung đột này nên được giải quyết thế nào? Chúng ta hãy nhớ lại rằng vấn đề chính trong việc bắt ép con cái làm theo ý mình vì điều đó “tốt cho con” không nằm ở bản thân việc bắt ép, mà nằm ở lý do được đưa ra cho hành động đó. Chuyện chấp nhận nhượng bộ với người khác hay từ bỏ mong muốn vì những lý do hợp lý hay bất khả kháng là chuyện con người vẫn luôn sẵn sàng làm. Nhưng chính việc cha mẹ cho rằng một điều gì đó là “có lợi”, là “tốt”, là “vì hạnh phúc của con” và tìm cách áp đặt suy nghĩ đó bất chấp sự phản đối từ phía con cái mới là điều làm nên sự thiếu tôn trọng và phủ nhận nhân cách của con. Khi cha mẹ đem cái suy nghĩ ấy của mình làm lý do cho sự bắt ép, thì việc con cái chấp nhận nghe lời cha mẹ sẽ gián tiếp trở thành việc cúi đầu chấp nhận một lý lẽ mà bản thân đang bác bỏ và phản đối. Đó là một sự hạ nhục tinh thần lớn không kém gì, và đôi khi là còn hơn cả, bản thân việc bị bắt ép.

Vì vậy, cách xử lý đúng, theo tôi, là các bậc cha mẹ nên bỏ việc lấy lý do “vì lợi ích của con” làm lý lẽ biện minh cho những yêu cầu bắt buộc của bản thân đối với con, nhất là khi con đã không muốn làm theo. Vì như đã trình bày, đó là một việc làm có thể nói là mâu thuẫn về logic, và thể hiện sự thiếu tôn trọng nhân cách của con. Hơn thế nữa, nó còn thể hiện sự thiếu trung thực của các bậc cha mẹ. Ấy là bởi vì một khi các bậc cha mẹ đã không cho con quyền tự do lựa chọn, thì cũng đồng nghĩa với việc lý do thực sự đằng sau hành vi đó không còn là vì lợi ích của con nữa, mà là để nhằm phục vụ một lợi ích nào đó của chính cha mẹ. Lợi ích đó có thể là thỏa mãn mong muốn điều khiển con cái theo ý mình, hay để tránh sự mệt mỏi lo âu cho bản thân, hoặc để tránh bị người xung quanh gọi là vô trách nhiệm, mà cũng có thể đơn giản là để bảo vệ con cái khỏi nguy hiểm và rủi ro.

Việc đánh tráo lý do kể trên là một điều nguy hiểm, vì không những nó là một sự vô lý đối với con cái, mà còn là một sự lừa dối đối với bản thân. Khi các bậc cha mẹ tự huyễn hoặc rằng mình đang làm mọi thứ vì con, tức là vì một mục đích hết sức cao cả, không ai có thể bác bỏ được, kể cả những đứa trẻ, thì tức là họ đã tự cởi trói cho bản thân khỏi những giới hạn đạo đức và ứng xử thường có trong giao tiếp giữa người với người, để mà sẵn sàng “đi tới cùng” trên con đường “vì con”. Ngược lại, một khi cha mẹ nhận thức được rằng những việc mình nhất định muốn con phải làm đều là để phục vụ lợi ích của bản thân, thì đồng thời họ cũng sẽ tự ý thức đến cái giới hạn của lợi ích chính đáng hơn rất nhiều. Ấy là vì trong môi trường đạo đức xã hội ngày nay, không có mấy ai muốn và có thể tự công nhận rằng mình là một kẻ ích kỷ và vô lý cả.

Vậy nên, nếu như cha mẹ đã vì lợi ích của bản thân, thì hãy dũng cảm và hiên ngang chấp nhận sự thật đó, trước hết là trong tâm trí của mình, và thậm chí là nói thẳng ra với con trẻ. Những lý do “vì tốt cho con”, nếu có, hãy dùng làm lý lẽ để thuyết phục con nhượng bộ, chứ đừng lấy đó làm lý do cho hành vi bắt ép của mình khi biện minh với con. Trong trường hợp thuyết phục thất bại, tức là con không chấp nhận lý lẽ và cha mẹ dùng đến quyền lực nào đó để bắt ép, thì ít ra cha mẹ hãy công nhận phán quyết đã được đưa ra từ phía con, chứ đừng phủ nhận hay ngó lơ. Công nhận không có nghĩa là phải đồng ý, mà nó thể hiện sự tôn trọng đối với nhân cách của con như một con người hoàn toàn.

Dựa vào những lý lẽ trên, tôi xin đưa ra mấy lời khuyên cụ thể như sau đối với các bậc cha mẹ. Trước hết, khi nảy sinh một mong muốn nào đó đối với con cái, cha mẹ hãy thử suy nghĩ xem rằng nếu như con không chấp nhận mong muốn đó, thì mình có sẵn sàng để cho con có được tự do lựa chọn hay không. Nếu câu trả lời là có, thì hãy đưa mong muốn đó ra dưới dạng gợi ý hoặc đề đạt nguyện vọng thay vì yêu cầu hay ra lệnh, bởi một khi đã yêu cầu hay ra lệnh thì cái sĩ diện cá nhân của mỗi người sẽ khiến cho cha mẹ rất khó chấp nhận một sự bất tuân, mặc dù có thể chủ ý ban đầu không phải như vậy. Lưu ý rằng mọi sự bực tức, giận dỗi hay tâm trạng không tốt nào khi bị từ chối đều có thể được một đứa trẻ hiểu là một sự gây áp lực để bắt ép từ phía cha mẹ. Việc nhắc đi nhắc lại một nguyện vọng nào đó cũng là dấu hiệu của một mong muốn ích kỷ chứ không hoàn toàn vì lợi ích của con. Chúng ta có thể thấy rằng việc chấp nhận cho con có tự do lựa chọn đòi hỏi một sự chuẩn bị tinh thần nhất định.

Còn nếu như cha mẹ đã không thực sự có được sự sẵn sàng và thoái mái để con có được tự do lựa chọn, thì hãy vứt bỏ hết những lối tiếp cận giả tạo nghe như có vẻ mình đang cho con quyền từ chối, mà hãy nói thẳng với con rằng bố mẹ yêu cầu con làm việc XYZ vì lý do ABC, kèm theo là những đe dọa hoặc điều kiện trao đổi hoặc lý lẽ thuyết phục nếu cần. Khi con không đồng ý, hãy nói với con rằng bố mẹ biết con không thích XYZ, và bố mẹ hiểu rằng mình đang vi phạm đến quyền tự do của con, nhưng bố mẹ có những lý do của riêng mình để cương quyết yêu cầu con đáp ứng. Chú ý rằng dù lý do được đưa ra có là ích kỷ cá nhân, thì vẫn tốt hơn nhiều là không giải thích chút nào, bởi vì riêng việc phải làm một điều gì đó mà không rõ mục đích hay lý do cũng đã là một rào cản đối với việc chấp nhận yêu cầu từ cha mẹ.

Lưu ý rằng ở đây tôi không hề có ý nói việc cha mẹ bắt ép con cái làm theo ý mình là một điều gì đó xấu xa hay đáng lên án, vì phạm vi đang được nói đến là quá rộng lớn và đa dạng. Việc đánh giá đâu là “tốt”, đâu là “xấu” trong từng trường hợp cụ thể tôi xin nhường lại cho giá trị quan đạo đức của từng người. Ở đây tôi chỉ đưa ra cách tiếp cận ít gây tổn thương nhất trong trường hợp cha mẹ cảm thấy cần hay muốn áp đặt quyết định lên con cái. Nhưng chúng ta cũng có thể thấy rằng một khi đã gạt bỏ đi cái mác “vì con”, thì số lượng những mong muốn có đủ cơ sở để có thể được nói ra một cách thẳng thắn như trên mà không khiến cho chính cha mẹ cảm thấy mình ích kỷ và vô lý đã giảm đi khá nhiều.

Tôi cũng muốn lưu ý thêm rằng sức chịu đựng của con người là có hạn, và trẻ con cũng vậy. Mỗi một lần con trẻ cảm thấy bị bắt ép phải làm điều mình không muốn chỉ vì những lý do vô lý và ích kỷ của cha mẹ, là một lần sợi dây tình cảm giữa cha mẹ và con cái bị bào mòn đi. Mà sợi dây tình cảm ấy lại chính là thứ ràng buộc con người với nhau một cách bền chặt nhất. Nếu như cha mẹ thường xuyên và liên tục lạm dụng quyền lực của bản thân vào những vấn đề nhỏ nhặt không đáng, thì cũng đừng ngạc nhiên khi con cái kiên quyết chống đối mình trong những vấn đề hệ trọng sau này, hay tệ hơn là coi cha mẹ như những người dưng đứng ngoài cuộc đời của bản thân. Nói cách khác, cha mẹ nên biết cách sử dụng quyền lực của mình một cách “tiết kiệm”.

Tựu chung lại, một khi đã cùng chung sống dưới một mái nhà và có sự ràng buộc về nhiều mặt, thì giữa cha mẹ và con cái rất khó có thể tránh khỏi sự xung đột về lợi ích. Tuy nhiên, ngay cả khi các bậc cha mẹ vì lý do nào đó mà bắt ép con cái làm theo ý mình, thì vẫn có những cách tiếp cận giúp cho con trẻ cảm thấy nhân cách của bản thân được tôn trọng hết mức có thể. Qua bài viết này, tôi hy vọng rằng mình đã phần nào làm rõ được điều đó.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi là

Tôi tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa xã hội, hay ít ra là có tư tưởng thiên về chủ nghĩa xã hội. Lý do ban đầu tôi trở nên “màu đỏ” có lẽ là vì kết quả của sự “nhồi sọ”, “tẩy não” qua 12 năm học “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”. Nhưng đến thời điểm này, sau khi đã tiếp xúc với một số luồng suy nghĩ và thông tin khác nhau, tôi có thể khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi đã tự mình lựa chọn, nếu không phải là với tư cách một triết lý rõ ràng, thì ít ra cũng là với tư cách một niềm tin và mơ ước. Trong bài này tôi xin trình bày một số suy nghĩ lặt vặt của bản thân mới nảy ra trong thời gian gần đây. Bài viết chủ yếu nhằm mục đích viết suy nghĩ thành lời, chứ không phải nhằm tranh luận hay chứng minh điều gì cả.


1. Chủ nghĩa xã hội và thư viện

Vài tháng trước, trong một lần đi chơi với bạn bè, tôi có tình cờ bắt gặp một “thư viện cộng đồng” trong một khu mua sắm tại Nhật Bản. Đó là nơi những người dân trong vùng đã tự nguyện đem những cuốn sách của mình góp lại và tạo nên một phòng đọc sách tự do. Ở đó tất cả mọi người đều có thể đến để góp sách, đọc sách và mượn sách. Tôi cũng không để ý thấy có ai làm nhiệm vụ quản lý cả. Khi nghe thầy giáo người Nhật của tôi giới thiệu như vậy, tôi đã buột miệng nói rằng, “đây chính là chủ nghĩa xã hội”, và thầy tôi cũng tán thành mà nói rằng “đúng là nó rất có tính xã hội”. Nó cũng làm cho tôi nhớ đến phòng đọc mở do những đồng chí tôi quen thời sinh viên xây dựng và vận hành tại địa chỉ 39 Lý Thường Kiệt (Hà Nội), dành cho những người có hứng thú với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và chính trị nói chung.

Chuyển sang một câu chuyện khác, gần đây tôi cũng lại tình cờ xem một chương trình truyền hình trên VTV về một ngôi làng nào đó ở Việt Nam mà người dân và nhất là học sinh lập nên đội tự nguyện làm vệ sinh môi trường làng, với một lý do rất đơn giản: “làng chúng tôi thì chúng tôi quét”. Không ai trả công cho họ, và cũng không ai bắt ép hay quản lý họ cả. Nó cũng giống như nhóm tình nguyện viên thu nhặt rác quanh Hồ Gươm mà một thầy giáo người Nhật khác của tôi là thành viên thường xuyên. Họ làm việc đó đều đặn hàng tuần cho đến nay chắc ít nhất cũng đã 5 năm, thi thoảng còn rủ nhau cùng đi du lịch, và thành viên thì có từ trẻ con bé tí cho đến các cựu thanh niên xung phong đầu đã bạc tóc.

Trở lại đề tài chính, nếu nhìn theo tiêu chí “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, và giới hạn phạm vi chỉ trong lĩnh vực đọc sách ở câu chuyện đầu và vệ sinh môi trường ở câu chuyện sau, thì cả hai ví dụ đều có thể được xem là biểu hiện của chủ nghĩa xã hội. Trong ví dụ đầu, tất cả mọi người đều được tự do lựa chọn có góp sách hay không, góp bao nhiêu, góp sách gì (làm theo năng lực). Đồng thời tất cả mọi người đều có thể tự do đến đọc và mượn sách (hưởng theo nhu cầu). Trong ví dụ sau, ít ra ở trường hợp nhóm nhặt rác Hồ Gươm, mọi người cũng đều được tự do lựa chọn có tham gia không, tham gia đều đặn ở mức nào, và làm việc đến mức nào (làm theo năng lực). Trong khi đó, tất cả mọi người đều có thể được hưởng một môi trường sạch đẹp chung như nhau (hưởng theo nhu cầu).

Như vậy, khẩu hiệu quen thuộc của chủ nghĩa xã hội mà nhiều người chế giễu là phi hiện thực và “đã bị vứt vào sọt rác từ lâu”, trong thực tế ở một hình thức này hay hình thức khác, và ở một phạm vi hạn hẹp hơn, vẫn đang diễn ra hàng ngày. Tất nhiên, điều đó không minh chứng cho việc một cộng đồng xã hội chủ nghĩa lý tưởng như nhiều người vẫn nghĩ tới có thể được xây dựng thành công ở thời điểm hiện tại. Nhưng ít nhất nó cho thấy chủ nghĩa xã hội, ở một dạng nhất định nào đó, không phải là điều bất khả thi về nguyên lý. Vậy điều gì đã dẫn đến thành công của những mô hình “chủ nghĩa xã hội” như trên?

Lý do trước hết rõ ràng nằm ở mức độ quan trọng của thành quả làm ra. Dù cho thư viện cộng đồng có biến mất hay đường làng với Hồ Gươm có không được quét dọn, thì mọi người cũng sẽ chỉ thấy bất tiện hay khó chịu, chứ cuộc sống về cơ bản không bị ảnh hưởng lớn. Ngược lại, nếu nền kinh tế của một xã hội ngưng sản xuất hay sản xuất không đủ đáp ứng những nhu cầu ăn mặc ở cơ bản của các thành viên thì sẽ là cả một thảm họa cho toàn xã hội đó. Bởi vậy, nếu suy nghĩ một cách bình thường chúng ta sẽ thấy việc để cho mọi người trong xã hội tự do quyết định có lao động hay không và lao động bao nhiêu, trong khi vẫn được nhận lại theo nhu cầu là một điều nguy hiểm và khó có thể duy trì được lâu dài.

Lý do tiếp theo nằm ở giá trị lao động mà mỗi người cảm thấy mình đang bỏ ra. Những cuốn sách được góp vào thư viện cộng đồng kia hầu hết là sách cũ. Thêm vào đó giá trị của một cuốn sách nằm chủ yếu ở thông tin chứa trong nó, chứ không phải nằm ở bản thân việc sở hữu cuốn sách. Và do đó đối với những người góp sách, việc cho đi cuốn sách không phải là một tổn thất đáng kể. Đối với nhóm nhặt rác, tôi không dám nói rằng sức lao động họ bỏ ra là nhỏ bé, nhưng họ chỉ làm một tuần một lần, trong một khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ. Nếu đem điều đó so với lượng lao động mỗi người trong xã hội hiện nay phải bỏ ra để có cơm ăn áo mặc hàng ngày thì rõ ràng có một khoảng cách rất lớn. (Chú ý rằng “lượng lao động” ở đây mang tính tương đối: một nhà tỷ phú có thể dễ dàng bỏ ra hàng trăm triệu đồng để làm từ thiện, nhưng một người nông dân bình thường thì một vài triệu đã là to.)

Hai điều trên dẫn chúng ta đến một tiền đề đã được Karl Marx đưa ra làm điều kiện dẫn đến chủ nghĩa xã hội: ấy là khi lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ cao, lượng của cải sản xuất trên lượng lao động bỏ ra trở nên rất lớn, khiến cho con người có thể vô cùng dễ dàng đáp ứng được nhu cầu hàng ngày của bản thân, và lao động trở thành một nhu cầu chứ không phải một gánh nặng bắt buộc nữa. Tuy rằng tại hầu như tất cả các cộng đồng người hiện nay điều này vẫn chưa thể đạt được, nhưng nếu nhìn vào lịch sử, có thể thấy rằng năng suất lao động của con người nhìn chung là tăng liên tục và gần đây có xu hướng tăng nhanh hơn. Chúng ta ngày càng làm việc ít giờ hơn, trong khi đó lại hưởng một mặt bằng mức sống ngày càng cao hơn. Cá nhân tôi tin rằng việc đạt tới ngưỡng năng suất cần thiết cho việc hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội ở quy mô quốc gia là điều không sớm thì muộn.

Chúng ta đứng ở thời điểm hiện tại, trong môi trường hiện tại, quen với năng suất lao động hiện tại của con người, thì có thể thấy rằng việc “làm cho thằng khác ăn” là một cái gì đó rất ngớ ngẩn và phi lý. Nhưng chúng ta cũng đồng thời đang làm điều tương tự, tuy rằng ở một quy mô nhỏ hơn nhiều, thông qua các hoạt động từ thiện và tình nguyện. Nếu như tưởng tượng rằng trong tương lai, khi mỗi người chỉ cần bỏ ra một lượng lao động tương tự như một buổi đi thu gom rác mỗi tuần hiện nay là đã có thể tạo ra đủ của cải cho bản thân trong vòng một tháng, thì có lẽ chủ nghĩa xã hội sẽ mang màu sắc hiện thực hơn nhiều. Điều đó hoàn toàn có thể trở thành hiện thực nếu như xu hướng tự động hóa vẫn tiếp diễn như ngày nay.

2. Chủ nghĩa xã hội và ích kỷ

Hiện tại, có một lý do rất thường được đưa ra để phủ nhận tính thực tế của chủ nghĩa xã hội, ấy là “bản năng ích kỷ của con người” sẽ khiến cho mọi người lợi dụng khẩu hiệu kia, chỉ hưởng mà không làm, dẫn đến hệ thống sụp đổ. Tôi xin hỏi ngược lại, vậy tại sao tất cả mọi người trong xã hội hiện nay đều không cùng đồng loạt cướp bóc chém giết lẫn nhau? Tại sao con người chúng ta lại tạo nên xã hội, luật pháp, nhà nước? Tại sao lại vẫn có những thư viện cộng đồng mở và những nhóm tình nguyện viên như tôi và chúng ta đều đã thấy?

Bản thân tôi là người hoàn toàn ủng hộ việc theo đuổi lợi ích cá nhân, nếu không muốn nói là tôi nghĩ mỗi người nên đặt lợi ích bản thân lên hàng đầu. Nhưng có hai điểm những người đưa ra lý luận trên dường như chưa tính đến. Thứ nhất, lợi ích của con người mang tính chủ quan, và không phải bao giờ cũng là vật chất hay hữu hình. Thứ hai, nếu một người nhận ra rằng việc tự nguyện đóng góp theo lý tưởng của chủ nghĩa xã hội đem lại lợi ích lớn nhất cho mình, thì khi đó chủ nghĩa xã hội và sự ích kỷ của cá nhân không còn mâu thuẫn nữa.

Đối với điểm thứ nhất, ngay từ xa xưa giá trị mà lao động của con người đem lại đã không chỉ thuần túy ở của cải vật chất làm ra. Việc cảm thấy rằng mình đang làm một việc gì đó có ý nghĩa, rằng mình đang làm thay đổi được thế giới, rằng mình đang trưởng thành và phát triển trong tư cách một con người,… tự bản thân nó đã mang lại một lợi ích về mặt tinh thần, mà đối với nhiều người là rất quan trọng. Đó là chưa kể, con người là một sinh vật có tính xã hội, và do đó việc cảm thấy rằng mình đang được xã hội chấp nhận, rằng mình đang là một phần của một cái gì đó to lớn hơn, cũng là một nguồn động lực lớn không thể bỏ qua.

Đối với những người xây dựng thư viện và thu nhặt rác nói trên, chỉ cần nhu cầu sống cơ bản không bị ảnh hưởng, thì tự bản thân những việc họ làm đã đủ mang lại lợi ích mà không cần bất cứ sự đền bù nào khác. Lợi ích ấy cụ thể ấy là gì thì tùy thuộc vào giá trị quan của mỗi người. Vì vậy, có thể nói rằng những người làm từ thiện hay tình nguyện đều làm vậy đơn giản vì họ cảm thấy những việc ấy đem lại cho họ lợi ích lớn hơn công sức bỏ ra. Nói cách khác, họ đều “ích kỷ” cả. Tương tự như vậy, trong một xã hội tương lai, khi mà lượng của cải vật chất làm ra trở nên thừa thãi, thời gian lao động cần thiết trở nên ngắn ngủi, và việc hưởng thụ đơn thuần trở nên nhàm chán, thì nhu cầu của con người cũng sẽ chuyển dần từ lợi ích vật chất sang những lợi ích tinh thần khác mà lao động mang lại. Khi đó, chính sự “ích kỷ” sẽ thúc đẩy con người làm việc dù không được trả công, chỉ để đi tìm sự thỏa mãn trong lao động và sản phẩm mình làm ra.

Về điểm thứ hai, tất cả các xã hội loài người từ trước đến nay đều tồn tại và hoạt động dựa trên tiền đề là mỗi cá nhân sẽ cảm thấy việc sống trong xã hội và tuân thủ các nguyên tắc thành văn lẫn bất thành văn của xã hội đem lại lợi ích to lớn cho bản thân hơn việc sống đơn độc một mình hay có các hành vi vụ lợi phản xã hội như giết người, trộm cướp, lừa đảo,… Dù đôi khi những quy định và nguyên tắc của xã hội khiến chúng ta cảm thấy mất tự do, và vẫn có một tỷ lệ những cá nhân phản xã hội, nhưng nhìn chung tuyệt đại đa số con người vẫn muốn hy sinh một phần tự do cá nhân để duy trì một xã hội hợp tác và ổn định ở mức độ nhất định hơn là sống trong một sự hỗn loạn mạnh ai người nấy tự lo lấy thân.

Điều tương tự chắc chắn cũng sẽ diễn ra nếu như chủ nghĩa xã hội minh chứng được lợi ích to lớn mà nó đem lại đối với đại đa số các cá nhân trong xã hội so với những mô hình đang có. Lợi ích to lớn đó sẽ không đến từ lượng của cải vật chất được làm ra, mà chủ yếu đến từ lợi ích về mặt tinh thần, khi con người cảm thấy được kết nối với lao động, thấy được niềm vui trong lao động và sáng tạo, thay vì bị buộc phải lao động chỉ để sinh tồn. Khi đó, mọi người sẽ vì cái “ích kỷ” của bản thân mà cùng hợp tác để xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội như chúng ta đang bảo vệ xã hội hiện nay vậy.

3. Chủ nghĩa xã hội và tôi

Đến đây, tôi lại tự hỏi rằng “thế rốt cuộc chủ nghĩa xã hội nó là cái gì vậy?”. Nói một cách thẳng thắn, cá nhân tôi vẫn chưa có một mô hình kinh tế và xã hội cụ thể của chủ nghĩa xã hội. Những gì tôi đọc về chủ nghĩa xã hội và Karl Marx vẫn còn rất ít, phần lớn vì tôi không đọc nổi những triết lý quá trừu tượng và khó hiểu mà không phải do mình viết ra. Tôi cũng không quan tâm đến chuyện chủ nghĩa xã hội nó phải là như thế nào mới “đúng kiểu”, phải là như thế nào mới là “Mác Lê”. Đối với tôi, chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi hướng đến, tương tự như việc những người tu theo đạo Phật hướng tới một sự “giải thoát” mà bản thân họ cũng chẳng ai biết được cụ thể nó như thế nào cho đến khi họ đạt được. Những tư tưởng và lý thuyết về chủ nghĩa xã hội của những người đi trước, trong đó có Karl Marx, chỉ đóng vai trò là nguồn cảm hứng và nguồn ý tưởng tham khảo mà thôi.

Trong cái lý tưởng còn mù mờ mà tôi hướng đến ấy, có một số điểm mà tôi đã xác định khá rõ ràng. Chủ nghĩa xã hội trong tôi, trước hết, là một môi trường mà trong đó từng người lao động đều làm chủ, và cảm thấy được làm chủ, đối với lao động của bản thân. Điều đó rất có thể sẽ được thực hiện thông qua một mô hình hợp tác xã, trong đó sở hữu đối với mọi tư liệu sản xuất là sở hữu chung của mọi thành viên trong hợp tác xã, và các thành viên hợp tác với nhau dựa trên các mối quan hệ dân chủ, bình đẳng và tự nguyện. Điều này là hoàn toàn có thể thực hiện được ngay tại thời điểm hiện tại, với minh chứng là các hợp tác xã sản xuất, nhà ở và tiêu dùng đang phát triển và thành công trên thế giới, ở Việt Nam và nhất là ở cả những nước kinh tế phát triển cao như Mỹ hay Nhật Bản.

Bên cạnh việc làm chủ theo nghĩa đen đối với tư liệu sản xuất, còn là cảm giác được làm chủ về mặt tinh thần đối với lao động và sản phẩm của bản thân. Sự “làm chủ” ở đây còn có thể được hiểu là sự “có trách nhiệm”, cũng đồng nghĩa với một cảm giác “tự do”, hay còn có thể nói là “được là chính mình”. Người lao động thực sự cảm thấy mình đã tự do lựa chọn công việc mình đang làm, cảm thấy niềm vui và động lực tự nhiên xuất phát từ bản thân nội dung công việc, thay vì cảm thấy bị bắt buộc phải lao động để kiếm sống và tìm kiếm động lực từ lợi ích vật chất mà lao động mang lại. Chỉ khi đó thì con người mới thực sự dành mọi thứ mình có cho lao động, và tiềm năng lẫn sức sáng tạo của họ mới được sử dụng ở mức cao nhất.

Tất nhiên, điều này không phải là không thể đạt được ở mức độ nhất định trong một môi trường làm việc phi xã hội chủ nghĩa, và thực tế là ngay đến giới chủ tư bản ở các nước Âu Mỹ gần đây cũng phải công nhận và tìm cách khích lệ “tính làm chủ” (ownership) trong những người làm thuê cho mình. Nhưng thực tế là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dựa trên mối quan hệ chủ tư bản – người làm thuê, tự nó về nguyên lý đã không khuyến khích và nhiều khi là làm thôi chụt đi tinh thần làm chủ của những người lao động. Đơn giản vì vai trò của họ trong phần lớn trường hợp thường không có hoặc có rất ít yếu tố “làm chủ”, cả về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, ra quyết định sản xuất lẫn phân chia thành quả lao động.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi, thêm vào đó, còn là một môi trường mà từng người sẽ có được tự do, và thậm chí là nhận được sự hỗ trợ, để thử nghiệm và sáng tạo trong phạm vi vẫn đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng. Những thử nghiệm và sáng tạo ấy có thể liên quan trực tiếp đến công việc sản xuất của mình, mà cũng có thể hoàn toàn là mang tính cá nhân. Đó có thể đơn giản chỉ là thử sức trong một công việc mới, thử nghiệm một sản phẩm hay phương pháp mới, mà cũng có thể những thí nghiệm khoa học hay sáng tạo nghệ thuật,… Sự “tự do” tôi nói đến ở đây không chỉ là theo nghĩa không bị ai ngăn cấm, mà còn theo nghĩa là có được cơ hội và công cụ để thực hiện, thay vì để cho tiềm năng bị chôn vùi bởi sự thiếu thốn về vật chất hoặc thời gian.

Tuy nhiên trên hết, có lẽ cái tôi hướng đến nhất trong suy nghĩ của mình về chủ nghĩa xã hội, ấy là một môi trường mà trong đó con người được cảm thấy “hoàn toàn”, được “là chính mình” kể cả trong lao động sản xuất lẫn khi tái sản xuất sức lao động, mà có lẽ theo lời Karl Marx thì đó là sự “giải phóng lực lượng sản xuất”. Cá nhân tôi hiểu từ “giải phóng” đó theo một nghĩa trừu tượng và thuộc về mặt tinh thần nhiều hơn là về mặt vật chất thực tế. Tất cả những lý thuyết khác chỉ là con đường để dẫn đến sự “giải phóng” ấy. Và vì một lý do nào đó, tôi cảm thấy rằng những lý thuyết của Marx về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản dường như là con đường đúng đắn nhất. Tôi sẽ, hay ít ra là có mơ ước sẽ sử dụng những lý thuyết ấy, và cả những lý thuyết khác nếu cần, để tìm cách xây dựng nên một “chủ nghĩa xã hội” của riêng mình.

Cái tôi xây dựng nên ấy có được gọi là chủ nghĩa xã hội hay không, là điều tôi không quan tâm lắm.

Chủ quan và khách quan

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết chịu ảnh hưởng từ cuốn sách “Zen and The Art of Motorcycle Maintenance: An Inquiry into Values” của Robert M. Pirsig, “Philosophy of Science: A Very Short Introduction” của Samir Okasha, và “Beyond Good and Evil” của Friedrich Nietzsche.

1. Chủ quan và khách quan

“Chủ” (主) hay còn đọc là “chúa”, ngoài nghĩa thường thấy là làm chủ, đứng đầu, nắm quyền (lãnh chúa, địa chủ, chủ nhiệm), còn có thể được dùng để thể hiện hàm ý “tự mình” hay “bên trong” (chủ trương, chủ động). Ngược lại, “khách” (客) ngoài các nghĩa thông thường như người mua, người đến chơi nhà, người làm công việc gì đó (khách hàng, khách sạn, chính khách), cũng có thể được dùng với nghĩa rộng hơn chỉ những yếu tố “không phải tự mình” hay “bên ngoài” (đất khách, sân khách). Nói cách khác, “chủ” và “khách” có thể được dùng để nói về hai phía “trong” và “ngoài” của một ranh giới nào đó. Với “quan” (観) có nghĩa là nhìn (quan sát, thế giới quan), chúng ta có thể hiểu “chủ quan” là “góc nhìn từ bên trong”, và “khách quan” là “góc nhìn từ bên ngoài”, mà ở đây “nhìn” là một sự nhận thức, quan sát hoặc đánh giá, và “trong ngoài” là đối với ranh giữa thế giới ý thức con người (trong) và thế giới vật chất xung quanh (ngoài).

Tại sao lại cần phải phân biệt giữa “chủ quan” và “khách quan”? Đó là vì mọi sự nhận thức, quan sát hay đánh giá về mọi sự vật sự việc đều có tính tương đối, tức chỉ có ý nghĩa khi so sánh với một hệ quy chiếu nào đó làm tiêu chuẩn. Khi chúng ta “nhìn” một sự vật sự việc “từ bên trong”, thì bản thân chúng ta cũng là một phần của hệ quy chiếu. Hệ quy chiếu bản thân đó bao gồm rất nhiều yếu tố, và có thể được chia ra một số phân loại chính là giác quan, cảm xúc, tri thức, giá trị quan, suy nghĩ logic và suy nghĩ trực giác. Một người ăn một chiếc bánh ngọt sẽ chỉ thấy “ngọt” nếu như vị giác (giác quan) của người đó cảm nhận vị bánh là ngọt, và sẽ chỉ thấy cái bánh “ngon” nếu như vị ngọt đó phù hợp với khẩu vị (nhân cách) của bản thân. Hai con người khác nhau, với cơ thể, nhân cách và năng lực tư duy khác nhau, sẽ có thể có cách “nhìn” rất khác nhau về cùng một sự vật sự việc, hay rộng là cùng một thế giới xung quanh.

Từ đó, một người có thể đặt ra câu hỏi rằng cái chúng ta “nhìn” thấy có thực sự tồn tại hay không, và có tồn tại đúng như những gì chúng ta đang “nhìn” thấy hay không? Hay là phải chăng, khi đi qua màng lọc của hệ quy chiếu cá nhân của người quan sát, thì sự vật sự việc đã bị biến tướng đi, trở nên khác đi so với chính nó khi chưa được quan sát, giống như một người mù màu nhìn thế giới? Mặt khác, nếu như mỗi người quan sát thế giới lại cho ra những kết quả có thể khác nhau, tức là cho ra những “sự thật” có thể khác nhau, thì làm sao chúng ta có thể có được một tiêu chuẩn chung, một mặt bằng chung để giao tiếp với nhau? Câu trả lời hợp lý nhất, dĩ nhiên, là chúng ta cần tìm hiểu xem thế giới xung quanh chúng ta thực sự sẽ thế nào khi được quan sát không bằng “mắt người”, mà bằng một con mắt khác độc lập với tất cả mọi con người, một con mắt “khách quan”.

Và có lẽ từ những suy diễn đại loại như trên, mà ngày nay chúng ta có khái niệm “khách quan” được định nghĩa trong từ điển là 1. chỉ cái gì đó tồn tại ngoài ý thức con người, 2. chỉ thái độ nhận xét sự vật căn cứ vào sự thực bên ngoài (theo Wikitionary), hay 3. chỉ một tình trạng hay tính chất đúng đắn mà không cần tới hay không phụ thuộc vào những thiên kiến, diễn giải, cảm xúc hay tưởng tượng của chủ thể, tức là người quan sát và đánh giá (theo Wikipedia). Ngược lại, “chủ quan” được hiểu là ngược lại với “khách quan”, tức là chỉ tính chất phụ thuộc vào ý thức của con người, vào hệ quy chiếu của người quan sát và đánh giá. Hiểu theo một cách khác, một đánh giá hay lập luận mang tính “khách quan” sẽ phản ánh chính xác sự vật sự việc như nó vốn thế, và tuân theo các quy luật của thế giới tự nhiên chứ không phải của con người.

2. Tính khả dĩ của khách quan

Với định nghĩa như vậy, thì con người chúng ta liệu có thể đạt đến được một sự “khách quan” đúng nghĩa hay không? Câu trả lời ngắn gọn là “không thể và không bao giờ”. Như đã đề cập ở trên, để nhận thức được về thế giới xung quanh, con người buộc phải trải qua quá trình bắt đầu từ việc dùng giác quan hoặc cảm xúc để quan sát và tiếp nhận dữ liệu (hình ảnh, âm thanh, cảm giác,…), sau đó dùng tri thức hoặc nhân cách làm cơ sở tham chiếu, cùng với suy nghĩ logic hoặc trực giác làm công cụ, để xử lý dữ liệu thành thông tin (xác định sự vật sự việc và thuộc tính), và cuối cùng là có thể đi đến một kết luận nào đó (đánh giá hoặc quyết định). Quá trình đó gắn bó mật thiết và không thể tách rời khỏi hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát. Do vậy, một sự nhận thức hay đánh giá “khách quan” tuyệt đối, theo nghĩa hoàn toàn không phụ thuộc vào bất cứ một yếu tố con người nào, về căn bản là điều không thể đạt đến được, ít nhất là trong hoàn cảnh hiện tại.

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là hiện thực khách quan không hề tồn tại. Từ những trải nghiệm hàng ngày trong quá khứ và hiện tại, chúng ta dễ dàng có đủ căn cứ để tin tưởng vào sự tồn tại của một hiện thực khách quan chung cho toàn bộ nhân loại, tồn tại độc lập với ý thức của con người. Tuy nhiên, chúng ta không có cách nào quan sát và nhận thức được hiện thực ấy mà không phải đi qua “màng lọc” chủ quan ở một khâu nào đó. Mọi nhận thức và hiểu biết về sự tồn tại của một hiện thực khách quan, cũng như các nội dung và thuộc tính của nó, sẽ luôn hoặc là kết quả của niềm tin, hoặc là kết luận của một phép suy luận quy nạp, và do vậy không thể được đảm bảo là đúng đắn hoàn toàn. Mà kể cả nếu chúng ta có thể đưa ra được một phép suy luận diễn dịch để chứng minh cho tính khách quan của hiện thực đi nữa, thì chẳng phải bản thân suy luận diễn dịch cũng là một phần của ý thức con người, tức cũng là một yếu tố chủ quan hay sao?

Chúng ta hãy thử lấy một vài ví dụ thực tế khác. Nếu có ai đó nói rằng tháp Eiffel rất cao, thì tức là người đó đã dựa vào một tiêu chuẩn “cao” chủ quan. Một người khổng lồ cỡ đỉnh Himalaya sẽ không thấy vậy. Nếu người đó nói tháp Eiffel cao 324m, thì tức là người đó đã dựa vào một niềm tin chủ quan về độ chính xác của thông tin đến từ người khác. Nhỡ đâu thông tin mà người đó đọc được là sai thực tế thì sao? Còn nếu người đó tự mình đo đạc hay tính toán ra độ cao của tháp, thì tức là người đó đã dựa vào các yếu tố chủ quan là phương pháp đo đạc và những gì mình quan sát được bằng mắt. Nhỡ đâu phương pháp của người đó sai, hay người đó nhìn nhầm thì sao? Nhỡ đâu thế giới mà chúng ta đang nhìn thấy chỉ là một ảo giác khổng lồ, giống như thế giới được tạo ra bởi một chương trình máy tính giả lập như trong bộ phim Ma trận thì sao?

Lý luận tương tự cũng có thể được dùng để đặt nghi vấn đối với phần lớn tri thức khoa học của con người. Thực tế là các thành quả nghiên cứu khoa học đều là kết quả của suy luận quy nạp, cụ thể là dựa trên một số lượng hữu hạn các thí nghiệm thành công. Dù cho số lượng thí nghiệm có lên đến hàng nghìn hàng vạn đi nữa, thì điều đó vẫn không thay đổi được việc chúng ta không thể loại bỏ được hoàn toàn các khả năng trái ngược, và do đó không thể đi đến được một khẳng định chắc chắn 100% theo tiêu chuẩn của logic, chứ chưa nói đến theo quy luật khách quan của tự nhiên. Tất nhiên, trong thực tế chúng ta vẫn chấp nhận các kết quả khoa học, vì việc chứng minh chúng theo nghĩa nghiêm ngặt nhất của từ “chứng minh” là cực kỳ tốn kém và có lẽ là bất khả thi, vì các kết quả khoa học vẫn đang phục vụ tốt cho lợi ích của chúng ta, và vì chúng ta thấy các phương pháp khoa học là đủ tin tưởng. Nhưng chẳng phải bản thân sự chấp nhận đó cũng là chủ quan hay sao?

3. Khách quan một cách tương đối

Nếu như một sự “khách quan tuyệt đối” là không thể đạt đến được, vậy thì “khách quan” mà chúng ta vẫn thường nhắc đến trong cuộc sống hàng ngày là gì? Câu trả lời hiển nhiên là: đó là một sự “khách quan tương đối”. Tương đối với cái gì? Tương đối với những yếu tố chủ quan còn lại. Hay nói đúng hơn, sự khách quan mà chúng ta vẫn thường nói đến về bản chất vẫn chỉ là sự chủ quan, nhưng trong một hệ quy chiếu chủ quan nhất định nào đó thì nó có vẻ, và do đó có thể được đánh giá là khách quan. Như đã nói trong bài viết về tính tương đối, mọi đánh giá, suy luận, quyết định của con người đều dựa trên một số tiền đề nhất định nào đó. Các tiền đề này có thể được chia làm hai loại: 1. được diễn đạt rõ ràng, hoặc 2. được ẩn chứa ngầm. Một mệnh đề có thể trở nên khách quan một cách tương đối, nếu như toàn bộ các tiền đề của nó, dù có ý thức được hay không, đều đã được diễn đạt kèm theo một cách rõ ràng, hoặc được chấp nhận một cách mặc định trong hệ quy chiếu chủ quan dùng để đánh giá. Số lượng tiền đề ẩn được sử dụng nhưng không được mặc nhiên chấp nhận càng nhiều, thì tính khách quan của phát biểu được đánh giá càng thấp và ngược lại.

Các đánh giá, suy luận hay quyết định có tiền đề kèm theo thường có dạng P(hát biểu) = “nếu T(iền đề) thì K(ết luận)”, trong đó T là tiền đề của K. Khi được viết theo cách như trên, P mang ý nghĩa khẳng định “trong mọi trường hợp có thể có mà T đúng thì K cũng sẽ đúng”, tức là phạm vi khẳng định đã được thu hẹp đi so với việc khẳng định K đúng tuyệt đối. Khi đó, việc cá nhân người đánh giá có chấp nhận T hay không trên lý thuyết không ảnh hưởng tới giá trị chân lý của K bên trong P nữa, vì trong hệ quy chiếu giả định của P đặt ra thì T luôn luôn đúng. Người đánh giá có thể vừa chấp nhận rằng K đúng với điều kiện T, vừa không chấp nhận T đúng và gián tiếp qua đó không chấp nhận K đúng, mà không hề tự mâu thuẫn. Như vậy, có thể nói rằng khi được phát biểu dưới dạng P thì tính đúng đắn của K đã bớt đi được sự phụ thuộc vào kết quả đánh giá chủ quan của T, và do đó K đã trở nên khách quan hơn so với khi không có tiền đề phát biểu đi kèm.

Dĩ nhiên, không phải mọi tiền đề được diễn đạt đều có dạng “nếu thì”. Một ví dụ là các phát biểu dạng “tôi nghĩ”, “tôi thấy”, trong đó tiền đề được nói đến là toàn bộ hệ quy chiếu cá nhân của người phát biểu. Những phát biểu như vậy có thể được hiểu là “nếu như chúng ta chấp nhận những điều tôi nghĩ là đúng, thì …”, và do đó tương tự như trên, chúng mang tính khách quan hơn so với việc đơn thuần khẳng định kết luận cuối cùng. Một cách diễn đạt tiền đề khác thường thấy trong khoa học là việc nêu ra đầy đủ các phương pháp đã được sử dụng trong một nghiên cứu khoa học, cũng như những hạn chế về tính khách quan có thể có trong những phương pháp đó và ở chính những người làm nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là những kết luận của nghiên cứu khoa học đó chỉ được khẳng định là đúng với điều kiện các phương pháp đã sử dụng được chấp nhận và những hạn chế đã nêu ra được bỏ qua.

Bên cạnh những tiền đề được diễn đạt rõ, những tiền đề dạng ẩn cũng có thể tồn tại ở khắp mọi nơi và trong từng phát biểu. Ví dụ như trong hai đoạn văn trên thì logic được sử dụng là một tiền đề ẩn: một người có logic khác với tôi có thể sẽ không thấy kết luận “K trở nên khách quan hơn khi được phát biểu dưới dạng P” là khách quan. Trong thực tế, các tiền đề được diễn đạt rõ, nếu có, cũng chỉ là phần ngọn của tảng băng chìm. Các tiền đề ẩn mới là phần chính yếu làm nên nền tảng cho mọi đánh giá, suy luận và quyết định của con người, cả bằng lý trí lẫn trực giác. Một ví dụ kinh điển là tiền đề ẩn rằng những gì chúng ta đang cảm nhận thấy bằng các giác quan là thực sự thuộc về hiện thực khách quan. Một ví dụ khác là suy nghĩ rằng khi di chuyển để tiến về phía trước thì phải đạp về phía sau, một tiền đề mà chúng ta chỉ có thể ý thức được khi lần đầu tiên đi trượt patin hay đứng trên băng trơn.

Phần lớn các tiền đề được mặc định ngầm là những tư tưởng và niềm tin đã ăn sâu vào trong ý thức của chúng ta, thậm chí là ở mức độ tiềm thức, có nghĩa là bản thân chúng ta cũng không ý thức được mình đang sử dụng những tiền đề đó. Mà một khi đã không được ý thức, thì đối với chúng ta những tiền đề đó là không tồn tại. Do đó, những phát biểu dựa trên những tiền đề ấy trong mắt chúng ta sẽ dường như không phụ thuộc vào hệ quy chiếu chủ quan của bản thân, tức là trở nên “khách quan”. Số lượng những tiền đề ăn sâu như vậy ở một con người càng nhiều và mức độ ăn sâu càng cao thì phạm vi tư duy của người đó càng bị thu hẹp, tức là người đó càng khó nghĩ đến những khả năng và kết luận đi ngược lại những tiền đề mặc định của mình. Nhưng mặt khác, người đó lại rất có thể sẽ có sự tự tin mãnh liệt hơn vào những tư tưởng và niềm tin của bản thân, vì những điều đó không phải là thứ họ đã chủ động lựa chọn một cách có ý thức, mà là những điều “hiển nhiên” của một “hiện thực khách quan” trong mắt của riêng họ.

4. Để khách quan trong cuộc sống

Trước khi đi vào việc làm thế nào để trở nên khách quan hơn, chúng ta cần nghĩ về việc tại sao chúng ta lại nên/cần/phải khách quan hơn. Trước hết, một phát biểu khách quan sẽ dễ được chấp nhận hơn một phát biểu chủ quan, vì số lượng tiền đề ẩn mà người nghe buộc phải chấp nhận một cách có ý thức để có thể chấp nhận được phát biểu đó sẽ ít hơn. Do vậy, sự khách quan là một thành tố của năng lực thuyết phục, một năng lực quan trọng trong cuộc sống xã hội. Ngoài ra, cho dù rằng một sự khách quan tuyệt đối là điều không thể đạt đến được, nhưng việc luôn luôn hướng tới sự khách quan trong cuộc sống sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn tới việc tìm ra và tuân theo các quy luật khách quan của thế giới tự nhiên, từ đó có thể đem lại lợi ích cho bản thân chúng ta trong nhiều mặt, mà kho tàng tri thức khoa học ngày nay là một ví dụ.

Quay trở lại đầu đề, trong thực tế cuộc sống, khi một người cảm thấy lời một người khác nói là “khách quan”, thì rất có thể đơn giản là lời nói đó dựa trên những tiền đề ẩn mà cả hai người đều cùng mặc định chấp nhận. Hay nói cách khác, trong trường hợp đó người nghe có hệ quy chiếu cá nhân tương tự với người nói trong phạm vi vấn đề được nói đến. Nói rộng ra, trong một cộng đồng người nhất định, sự khách quan về bản chất là sự phục tùng theo hệ quy chiếu chủ quan chung của cộng đồng đó. Điều này có thể thấy ở bất cứ cộng đồng nào, nhưng có lẽ dễ thấy nhất là cộng đồng những người làm khoa học. Đa số các nhà khoa học hiện nay có những quy ước chung để đánh giá một phát biểu khoa học có phản ánh đúng hiện thực khách quan hay không, ví dụ như các bằng chứng có thể quan sát và kiểm chứng được bằng giác quan (empirical evidence). Ngược lại, khi chúng ta cảm thấy lời nói của ai đó là chủ quan, điều đó thường có nghĩa là chúng ta đã phát hiện ra một tiền đề ẩn nào đó của đối phương mà không được hệ quy chiếu cá nhân của chúng ta chấp nhận một cách mặc định, dù chúng ta có ý thức được điều đó hay không.

Như vậy, nếu như chúng ta muốn lời nói của bản thân trở nên khách quan hơn trong mắt người khác, chúng ta cần làm hai điều: 1. xác định phạm vi tương đồng của hệ quy chiếu chủ quan giữa chúng ta và người nghe, và 2. diễn đạt rõ ràng những tiền đề nằm ngoài phạm vi tương đồng nói trên. Nếu lấy ví dụ trong toán học, thì có thể ví tập tất cả các tiền đề chúng ta cần sử dụng cho một lời phát biểu là một số tự nhiên X, còn hệ quy chiếu cá nhân của người nghe là số tự nhiên Y. Khi đó bước 1 là việc tìm ra một ước số chung U giữa X và Y, còn bước 2 là nhân U với một số nguyên R để có được X, trong đó R đại diện cho tập con các tiền đề cần phải được diễn đạt rõ ràng trong số các tiền đề được sử dụng. Dĩ nhiên, U càng lớn thì R sẽ càng nhỏ, tương đương với việc số lượng tiền đề và lập luận kết nối mà chúng ta cần phải trình bày để đi đến kết luận cuối cùng mà vẫn giữ được tính khách quan trong mắt người nghe sẽ càng nhỏ.

Đến đây thì chúng ta có thể thấy được lý do chính của việc vì sao các kết luận được đưa ra bởi khoa học lại thường được xem là có tính khách quan cao. Đó là vì khoa học dựa trên một số lượng tương đối ít các tiền đề ẩn ở một mức độ tương đối thấp trong hệ quy chiếu cá nhân của con người. Con người có thể có những suy nghĩ bậc cao rất phong phú và khác biệt, nhưng tuyệt đại đa số đều sở hữu chung một số bản năng và tiềm thức giống nhau, có nguồn gốc từ việc cùng chung giống loài cũng như việc sinh sống trong cùng một môi trường. Cụ thể, đó là năng lực của các giác quan cũng như niềm tin vào sự chân thực của chúng, niềm tin vào một thế giới ổn định vận hành theo những quy luật bất biến, cũng như những khái niệm và cảm giác về số lượng, logic, nhân quả,… Chúng ta có thể tranh cãi về chuyện món ăn nào ngon hơn, nhưng sẽ không mấy người tranh cãi việc một thiết bị đo đạc hiển thị con số bao nhiêu, hay 1 cộng 1 có bằng 2 hay không. Điều này, cùng với các phương pháp khoa học được thiết lập và diễn đạt rõ ràng, đem lại tính khách quan cao cho khoa học trong mắt đại đa số người.

Tương tự như đối với khoa học, để có thể đi đến được một kết luận khách quan đối với người nghe, chúng ta cần hạn chế các tiền đề ẩn của bản thân ở một mức độ có thể đạt được sự mặc nhận lớn nhất. Chúng ta có thể sử dụng những hệ quy chiếu chủ quan như truyền thống, văn hóa, đạo đức. Nhưng một kết luận dựa trên những tiền đề mang tính phổ quát hơn và rõ ràng hơn của nhân loại ngày nay như quyền tự do cá nhân hay sự trao đổi công bằng thường sẽ được chấp nhận một cách dễ dàng và rộng rãi hơn. Lượng hóa sự đánh giá cũng là một phương pháp để đạt được sự khách quan: “ánh sáng có bước sóng trong khoảng 620–740mm” sẽ khách quan hơn “màu đỏ”, vì nó không còn phụ thuộc vào cảm giác chủ quan về màu sắc của người nói. Trong việc dạy con, một sự phân tích các hệ quả của từng sự lựa chọn sẽ có tính khách quan hơn, và do đó dễ được chấp nhận hơn, một sự cấm đoán hay bắt ép đơn thuần, vì nó không phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của cha mẹ về việc cái gì là điều con cái nên/cần/phải làm. Tất nhiên, việc giải thích càng rõ ràng càng tốt các tiền đề, cũng như sử dụng những suy luận có tính logic là điều không thể thiếu.

Một điều kiện tiên quyết để thực hiện được những điều nói trên là bản thân chúng ta cũng phải có khả năng nhận thức được những tiền đề ẩn chứa trong từng lời nói của bản thân, cũng như sự khác biệt trong hệ quy chiếu chủ quan giữa bản thân và những người xung quanh. Nếu không, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng tưởng rằng những gì mình nói là điều hiển nhiên và khách quan, trong khi nhìn từ những người xung quanh đó lại là những ý kiến mang nặng tính chủ quan, thiên kiến và hẹp hòi. Một sự vật sự việc chỉ có thể được nhận thức, nếu như tồn tại một sự vật sự việc khác biệt với nó để làm đối tượng so sánh. Do đó, để có thể nhận thức được chính mình, không có cách nào khác là chúng ta cần quan sát và tiếp xúc với nhiều hệ quy chiếu chủ quan khác biệt với bản thân. Điều này có thể được thực hiện bằng cách tự đặt bản thân trong vào môi trường mới lạ, với những con người mang văn hóa, truyền thống và phong tục khác biệt với chúng ta.

Nói theo một cách khác, nếu như chúng ta ở trong một môi trường mà tất cả mọi người xung quanh đều có chung những ý kiến, tiêu chuẩn, tư tưởng, thói quen giống nhau, thì những điều đó rất có thể sẽ trở thành những “sự thật khách quan” hiển nhiên mà chúng ta không có cách nào nhận thức được sự tồn tại của chúng. Và tất nhiên, chúng ta cũng sẽ không thể nhận ra được điều gì nếu như khi tiếp xúc với những hệ quy chiếu khác biệt, chúng ta lại mặc định coi chúng là “xấu xa”, “trái đạo đức/tự nhiên” và “cần phải loại bỏ” chỉ vì chúng khác biệt, thay vì nghĩ rằng chúng có thể là một sự thay thế tương đương cho những gì mà mình vẫn coi là điều hiển nhiên. Như vậy, sự đa dạng trong tư tưởng và văn hóa, cũng như việc chấp nhận tính đa dạng đó, bên cạnh việc là nguồn gốc cho sự sáng tạo, còn là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự khách quan của mỗi con người.


Khách quan là chỉ tính chất của một sự vật sự việc không phụ thuộc vào hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát và đánh giá. Tuy một sự khách quan tuyệt đối trong lời nói và tư tưởng là không thể đạt đến, nhưng một sự khách quan tương đối có thể đạt được nếu các tiền đề được sử dụng đều được mặc định chấp nhận hoặc được trình bày rõ ràng. Và tuy rằng nó giúp chúng ta nâng cao khả năng thuyết phục người khác và truy tìm chân lý, nhưng khách quan không phải một thứ tự thân nó “tốt đẹp” hay “tích cực”. Sự khách quan chỉ tốt đẹp trong chừng mực nó có ích cho chúng ta. Xét cho cùng, con người sống là vì mình, và để làm được điều đó thì tất cả mọi sự đánh giá, quyết định, hành động của chúng ta cuối cùng vẫn phải dựa trên hệ quy chiếu chủ quan của bản thân ở một mức độ nào đó. Việc nhận thức được và xây dựng nên một sự hiểu biết hoàn thiện và rõ ràng về hệ quy chiếu chủ quan của chính mình, hay cũng chính là nhân cách tự thân, để trong mỗi tình huống có thể đưa ra được những đánh giá và quyết định chủ quan có lợi cho bản thân dựa trên những thông tin “khách quan” là một điều rất quan trọng. Và điều đó cũng sẽ dẫn tới một sự khách quan hơn trong thế giới quan của mỗi người.

Bàn về “hạnh phúc”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A New Psychology of Personal Freedom” của William Glasser, “Utilitarianism” và “On Liberty” của John Stuart Mill.

Có lẽ trong thế gian này không có người nào là không mong muốn bản thân được hạnh phúc. Các tôn giáo lớn hầu hết đều dựa trên một lời hứa hẹn sẽ đem lại hạnh phúc vĩnh cửu, hay ít ra là dài lâu, cho những người nghe theo giáo lý của mình. Nhà nhà người người truyền cho nhau những bí quyết để có một cuộc sống hạnh phúc, một gia đình hạnh phúc. Một số quốc gia còn lấy chỉ số hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phát triển. Thế nhưng dường như đối với phần đông mọi người, hạnh phúc vẫn là một cái gì đó khá mơ hồ và huyền bí. Bài viết này là một nỗ lực cá nhân, dựa trên những ý tưởng của người đi trước, nhằm lý giải hạnh phúc theo một cách rõ ràng và dễ hiểu, để từ đó mỗi người có thể rút ra được những kết luận có cơ sở hơn trong việc tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình.


1. Hạnh phúc là gì

“Hạnh phúc” là một trạng thái tinh thần của con người khi các nhu cầu tinh thần được đáp ứng trên một mức độ nhất định nào đó. Các nhu cầu tinh thần này có thể được chia làm năm phân loại nhu cầu chính: 1. nhu cầu sinh tồn, 2. nhu cầu khám phá, 3. nhu cầu quyền lực, 4. nhu cầu yêu thương, và 5. nhu cầu tự do. Mức độ đáp ứng cần thiết cho mỗi nhu cầu để có thể đạt được và duy trì trạng thái “hạnh phúc”, cũng như những phương pháp cụ thể để có thể đáp ứng mỗi nhu cầu đó, là khác nhau đối với từng cá nhân. Những xu hướng này phần lớn đã được quyết định ngay từ khi sinh ra, tuy nhiên vẫn có thể chịu ảnh hưởng ít nhiều từ môi trường xung quanh trong suốt quá trình sống và trưởng thành của mỗi con người.

Hạnh phúc chính là mục đích sống cao nhất của con người. Đó là vì hạnh phúc chính là lợi ích tối cao, và cũng có thể nói là lợi ích thực chất duy nhất của tất cả mọi con người. Tất cả mọi lợi ích khác theo những cách hiểu thông thường đều có thể được diễn giải thành một phương tiện hay bước đệm để đạt đến cảm giác hạnh phúc, hoặc chính là một phần của hạnh phúc. Đó là bởi việc hưởng thụ tất cả mọi lợi ích đều phải diễn ra thông qua một sự cảm nhận chủ quan, tức là qua một “màng lọc” của tinh thần, để tạo nên một cảm giác tích cực khiến cho chúng ta mong muốn những lợi ích đó, và cảm giác đó chính là hạnh phúc. Tất cả các hành vi hay quyết định của con người, do đó, được đưa ra đều là vì chúng ta tin rằng chúng sẽ đem lại hạnh phúc cho bản thân, dù có thể đó chỉ là một thứ hạnh phúc được hứa hẹn trong tương lai, chứ không hề thấy được trước mắt.

Hạnh phúc là một trạng thái thuần túy thuộc về tinh thần, và các nhu cầu để đạt được hạnh phúc cũng hoàn toàn là các nhu cầu tinh thần. Điều đó có nghĩa là hạnh phúc mang tính chủ quan: một sự vật sự việc khách quan bản thân nó không tạo nên hạnh phúc, mà chỉ đem lại hạnh phúc khi chúng ta nhận thức được nó, và kết quả nhận thức đó phù hợp với các nhu cầu và tiêu chuẩn của riêng mỗi chúng ta về hạnh phúc. Do vậy, không hề tồn tại một tiêu chuẩn chung khách quan và cụ thể cho hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người, mà mỗi người cần phải tự tìm ra hạnh phúc của riêng mình.  Tập hợp những nhận thức và hiểu biết của một con người về những nhu cầu và phương pháp để đạt đến hạnh phúc cho bản thân là một bộ phận rất quan trọng của nhân cách mỗi cá nhân, và khi phát triển đến một mức độ nhất định, còn được gọi với một cái tên khác là “đạo đức” (tham khảo bài viết trước).

2. Năm nhu cầu tinh thần

a. Nhu cầu sinh tồn

Nhu cầu sinh tồn, hay còn có thể gọi là nhu cầu thể xác, bao hàm tất cả những nhu cầu sinh lý cơ bản thiết yếu như hít thở, ăn uống, ngủ nghỉ, bài tiết, toàn vẹn cơ thể,… cũng như các nhu cầu thể xác khác “xa xỉ” hơn như tiện nghi thoải mái, khoái cảm tình dục, hay thậm chí là khoái cảm do các loại chất kích thích mang lại,… và tất nhiên không thể không nói đến một nhu cầu rất quan trọng là cảm giác an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản. Những nhu cầu thuộc phân loại này tuy hết sức phong phú và đa dạng, và nhiều khi có vẻ rất khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung: nhằm đảm bảo cho sự tồn tại liên tục của thể xác con người ở một mức độ thỏa mãn nhất định. Do ít nhất ở thời điểm hiện tại, ý thức của con người luôn phải gắn liền với và được duy trì bằng thể xác, nên mọi sự đe dọa hay bất tiện đối với thể xác cũng sẽ có thể có tác động tiêu cực đến sự thỏa mãn của tinh thần, và do đó làm giảm hạnh phúc của cá nhân.

Tùy vào các nhu cầu cụ thể của thể xác, mà sự thiếu thốn của nhu cầu sinh tồn có thể được cảm nhận bằng nhiều cách khác nhau. Những nhu cầu sinh lý thiết yếu có thể dễ dàng được cảm nhận thông qua những tín hiệu rõ ràng trực tiếp từ cơ thể như cảm giác đói, khát, nóng, lạnh, đau đớn, mệt mỏi,… Những nhu cầu khác không nhất thiết phải có cho sự sống, nhưng có thể đem lại sự thõa mãn tinh thần, thì được thể hiện qua những cảm giác mơ hồ hơn như thèm muốn, bức bối, khó chịu,… Và nhu cầu an toàn thì tất nhiên đem lại cảm giác sợ hãi lo lắng nếu như không được đáp ứng. Chú ý rằng nhu cầu sinh tồn vẫn là nhu cầu tinh thần, dù nó có quan hệ mật thiết với thể xác con người. Một sự vật sự việc nhất định đem lại cảm giác hạnh phúc đến đâu, không những phụ thuộc vào các đặc điểm của cơ thể người đó, mà còn phụ thuộc vào việc nhân cách người đó đánh giá cao đến mức nào và có ham muốn đến đâu đối với nhu cầu cụ thể mà sự vật sự việc đó thỏa mãn.

Vai trò của nhu cầu sinh tồn là rất rõ ràng: nó là động lực để chúng ta duy trì sự sống của bản thân. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng tính mạng mình sẽ bị đe dọa nghiêm trọng thế nào nếu như tất cả các cảm giác như đói khát hay đau đớn đột ngột biến mất. Việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn cũng là một việc khá đơn giản, không phải theo nghĩa dễ dàng, mà theo nghĩa trong đại đa số trường hợp, chỉ bằng trực giác chúng ta cũng có thể biết khá rõ điều mình cần phải làm để đáp ứng những nhu cầu đang thiếu thốn: đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì ngủ, sợ hết tiền thì làm việc… Tuy nhiên, nhu cầu sinh tồn lại đòi hỏi một lượng tài nguyên không hề nhỏ để duy trì, cả về vật chất (tiền bạc, đồ ăn,…), tinh thần (hôm nay ăn gì?), lẫn thời gian (1/3 cuộc đời để ngủ). Điều này khiến cho hạnh phúc mang lại bởi việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn, tuy có vai trò nền tảng quan trọng đối với hạnh phúc của con người, nhưng không lâu bền mà lại tốn kém hơn nhiều so với những nhu cầu còn lại.

b. Nhu cầu khám phá

Nhu cầu khám phá là nhu cầu kích thích trí não bằng những trải nghiệm mới mẻ. Trí não ở đây bao gồm tất cả các giác quan, cảm xúc cũng suy nghĩ có ý thức của con người. Trải nghiệm mới mẻ có thể chỉ đơn giản là một giai điệu mới, một hình ảnh mới, một cảm giác mới, mà cũng có thể là một hiểu biết mới, một ý tưởng mới, một kỹ năng mới,… Nhu cầu khám phá chính là lý do khiến cho chúng ta muốn đi du lịch, muốn xem triển lãm nghệ thuật, muốn chơi trò chơi, muốn đọc sách, muốn xem tivi, và nói chung là tham gia vào các hoạt động giải trí. Nhu cầu khám phá cũng có thể được dùng để giải thích cảm giác buồn cười khi bắt gặp những tình huống hài hước: đó là vì sự hài hước thường đến từ những trải nghiệm vượt xa khỏi phạm vi những gì chúng ta coi là “bình thường”, hay nói cách khác, chúng ta thấy buồn cười khi tiếp xúc với những trải nghiệm “siêu mới mẻ”, tất nhiên là với điều kiện chúng ta cảm thấy những trải nghiệm đó là vô hại đối với bản thân.

Chú ý rằng sự “mới mẻ” ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, tức là mới mẻ trong một khung thời gian và khung ý thức nhất định. Một trải nghiệm mà một người đã từng trải qua trong quá khứ vẫn có thể đem lại một sự thỏa mãn nhu cầu khám phá nhất định, nếu như trải nghiệm đó là tương đối mới mẻ so với tập hợp những trải nghiệm của người ấy trong một khoảng thời gian gần đó. Ngược lại, một trải nghiệm dù là đầu tiên, nhưng nếu sau đó được lặp đi lặp lại liên tục trong một khoảng thời gian ngắn, thì ít nhất là trong khoảng thời gian đó, trải nghiệm ấy mất dần đi độ “mới”, và do đó cảm giác hạnh phúc nó tạo ra cũng sẽ phai nhạt dần. Đồng thời, cùng một trải nghiệm với các yếu tố giống hệt nhau, nhưng nếu được tiếp nhận với một cách nhìn khác, một tâm trạng khác, tức là với một ý thức bên trong khác, thì vẫn có thể tạo nên cảm giác mới mẻ, và do đó vẫn có thể được xem như một sự khám phá.

Khác với nhu cầu sinh tồn, việc đáp ứng nhu cầu khám phá không nhất thiết đòi hỏi sự tiêu tốn lớn về tài nguyên. Con người chúng ta, nhất là trẻ em, có thể tìm ra vô số cách để có những trải nghiệm mới mà không hề tốn kém: một cuốc đi dạo trên một con đường lạ, leo trèo lên cao để có một góc nhìn mới, tự nghĩ ra một điệu nhảy múa may quay cuồng, và chắc chắn phải kể đến hoạt động mà tôi ưa thích, đó là nằm một chỗ và tưởng tượng suy nghĩ về đủ thứ trên đời. Có thể nói rằng, đối với một người có khả năng quan sát và cảm nhận, và chịu quan sát và cảm nhận, thì thế giới bên ngoài lẫn bên trong chúng ta luôn tràn ngập những nguồn cảm hứng khám phá. Tất nhiên, mức độ thỏa mãn đem lại là khác nhau đối với từng trải nghiệm và đối với từng cá nhân cụ thể. Không phải ai cũng thấy bốn tiếng đồng hồ ngồi câu cá là thích thú, và không phải ai cũng thấy một chuyến leo núi mạo hiểm là hấp dẫn.

Bên cạnh việc thuần túy đem lại cảm giác hạnh phúc, nhu cầu khám phá còn đóng một vai trò rất quan trọng: đó là một trong những động lực chính của quá trình học hỏi của con người. Nếu xem việc học là việc tiếp nhận bất cứ một điều gì mới vào bên trong trí não của chúng ta, thì có thể nói rằng nhu cầu khám phá cũng chính là nhu cầu học hỏi. Mọi con người sinh ra đều sẵn có tính tò mò ham hiểu biết, chính là vì việc khám phá, hay học, tự nó đã mang lại sự vui vẻ thích thú. Và rất có thể nhu cầu khám phá đã được tạo nên bởi quá trình tiến hóa nhằm mục đích để cho con người có một động lực tự nhiên và thường xuyên cho việc học, một hoạt động rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Việc học chỉ trở nên khó chịu, khi tổn thương mà nó đem lại đối với những nhu cầu tinh thần khác vượt quá lợi ích đạt được. Do đó có thể nói rằng mọi phương pháp giáo dục, nếu khiến cho việc học không đem lại sự vui vẻ thích thú, thì đều là đi ngược lại quy luật của tự nhiên, và do đó sẽ không thể đạt được hiệu quả cao nhất.

c. Nhu cầu quyền lực

Nhu cầu quyền lực, hay còn có thể gọi là nhu cầu thành công, là nhu cầu thấy một điều gì đó diễn ra đúng theo như mình mong muốn. Chúng ta thường hiểu “quyền lực” là khả năng khiến cho người khác làm theo yêu cầu của bản thân. Tuy nhiên con người cũng có thể cảm thấy mình “quyền lực” khi chế ngự được thiên nhiên, khi đạt được thành công trong công việc, hay khi thấy bản thân đang trở nên đúng với hình mẫu mà mình mong muốn,… Một phần sự thích thú của con người đối với âm nhạc có thể được giải thích là vì khi nghe nhạc, trong vô thức chúng ta nhận thấy những âm thanh mình đang nghe có một quy luật nhất định, và chúng ta sử dụng quy luật đó để dự đoán sự lên xuống cũng như nhịp độ và thời điểm của các âm thanh tiếp theo. Khi bản nhạc diễn ra đúng theo sự dự đoán của chúng ta, thì chúng ta sẽ cảm thấy một sự khoan khoái vì thấy nó “hợp lý”. Ngược lại, một bản nhạc trúc trắc và loạn nhịp thường sẽ đem lại một cảm giác khó chịu cho người nghe.

Nhu cầu quyền lực rất có thể đã phái sinh một cách tự nhiên từ nhu cầu sinh tồn và tách ra thành một nhu cầu độc lập. Đó là vì so với thế giới xung quanh, con người quá nhỏ bé và yếu ớt. Chỉ một bầy thú dữ, một cơn dịch bệnh, hay một trận hạn hán cũng có thể quét sạch cả một cộng đồng người. Nỗi sợ hãi đến từ việc ý thức và cảm nhận một cách đầy đủ điều đó là quá lớn, và có thể khiến cho con người hoàn toàn tê liệt vì tuyệt vọng. Để có thể giữ được một cảm giác an toàn nhất định, con người cần cảm thấy, hay ít nhất tin rằng, mình có thể điều khiển được phần nào đó hiện thực xung quanh theo mong muốn của bản thân. Nhu cầu quyền lực, song song với nhu cầu khám phá và nhu cầu sinh tồn, có thể được coi là động lực chính cho toàn bộ công cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xây dựng nên văn minh của nhân loại.

Khi nhu cầu quyền lực không được đáp ứng, chúng ta thường sẽ sinh ra cảm xúc tức giận, thất vọng, bất lực hay căm ghét. Tuy nhiên cũng như các nhu cầu khác, việc nhu cầu quyền lực được đáp ứng hay không được đáp ứng, và ở mức độ nào, trong một trường hợp cụ thể là phụ thuộc vào nhân cách của từng cá nhân. Trong đó, một điểm đáng chú ý là tuy mọi sự trở ngại đối với cuộc sống con người đều đem lại sự bất hạnh ở mức độ nào đó, nhưng đại đa số mọi người sẽ thấy giận dữ hơn nhiều nếu như biết được, hay nghĩ rằng mình biết, đằng sau những trở ngại mình gặp phải có một ai đó đang cố tình “trêu ngươi”. Đó là vì khi ấy, sự trái ý không chỉ còn dừng ở bản thân trở ngại nữa, mà còn bao gồm cả việc hình ảnh về một bản thân “đáng được tôn trọng”, “đáng được ABCXYZ” đang bị phá vỡ. Có thể nói rằng chúng ta càng xây dựng nhân cách bản thân theo hướng mình “đáng được” cái này “đáng được” cái kia, thì chúng ta sẽ càng tự đẩy mình vào thế phải chịu bất hạnh.

Nhu cầu quyền lực là một nhu cầu khá oái oăm, vì việc đáp ứng nó không hề đơn giản như nhu cầu sinh tồn hay khám phá, và trong nhiều trường hợp, nỗ lực đáp ứng nhu cầu này lại chỉ dẫn đến kết quả ngược lại. Điều này xảy ra khi chúng ta lựa chọn việc nhắm tới những đối tượng nằm ngoài khả năng kiểm soát của bản thân để tìm cách điều khiển theo những cách thiếu hiệu quả, mà đối tượng vô vọng điển hình chính là những người xung quanh. Như tôi đã từng viết trong một bài viết trước, một trong những sai lầm lớn nhất của con người là nghĩ rằng mình có thể bắt được người khác làm theo ý muốn của bản thân. Mọi cố gắng điều khiển người khác mà không tính đến suy nghĩ và cảm xúc của đối tượng, đều sẽ có khả năng rất lớn gặp phải sự cự tuyệt và phản kháng, và do đó sẽ đem lại sự bất hạnh cho chủ thể của hành động. Việc xác định được thứ gì có thể điều khiển và điều khiển theo cách nào, bởi vậy, đóng vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu quyền lực.

d. Nhu cầu yêu thương

Nhu cầu yêu thương là nhu cầu cảm nhận và trân trọng giá trị tồn tại của một điều gì đó, đồng thời nhận lại sự đối xử tương tự từ xung quanh. Trong phần lớn trường hợp, đối tượng mà chúng ta yêu thương là những người thân thiết hoặc vật nuôi, vì những đối tượng này thường sẵn sàng đón nhận những cử chỉ bày tỏ sự yêu thương của chúng ta, cũng như đáp trả lại một cách tương xứng. Sự yêu thương cũng có thể được hướng tới những sự vật sự việc vô tri như cây cảnh, đồ vật, một khái niệm nào đó như dân tộc hay tổ quốc, hoặc thậm chí là tiền bạc,… Tuy vậy, nhu cầu yêu thương là một nhu cầu hai chiều: yêu thương và nhận về sự yêu thương. Vì vậy, sự yêu thương một phía sẽ khó có thể đem lại sự thỏa mãn đầy đủ nhất. Tất nhiên, cảm nhận về tình yêu thương là thuần túy chủ quan, và do đó chúng ta hoàn toàn có thể tự nghĩ rằng mình đang nhận được sự yêu thương từ bất cứ ai hay bất cứ điều gì, giống như chúng ta vẫn tự nghĩ rằng mình đang được vật nuôi yêu quý vậy.

Giá trị của một sự vật sự việc nằm ở mức độ khác biệt và độc nhất, tức là mức độ đặc biệt, của nó so với tập hợp các sự vật sự việc cùng phân loại trong mắt người quan sát. Sự yêu thương sẽ xuất hiện và trở nên mạnh mẽ khi chúng ta bắt đầu ý thức được sự đặc biệt đó. Sự đánh giá ở đây phụ thuộc vào hai yếu tố: chúng ta cảm nhận sự đặc biệt ở những điểm nào và đến mức nào, và chúng ta đặt đối tượng vào phân loại nào để so sánh. Điều này giải thích cho tình cảm yêu thương mạnh mẽ mà cha mẹ dành cho con cái: đối với nhiều người trong số họ, mỗi đứa con đều là một thực thể đặc biệt nhất trong số tất cả mọi thứ trên đời. Tương tự như vậy, những mối liên hệ, những kỷ niệm chung, những sự tương đồng giữa đối tượng với người quan sát có thể sẽ góp phần làm tăng sự đặc biệt tương đối của đối tượng trong mắt người quan sát, và do đó khiến cho tình cảm yêu thương dễ nảy sinh hơn. Khi chúng ta thực sự cảm nhận được rằng mọi sinh linh, mọi sự vật đều khác biệt, đều độc nhất, đều có giá trị to lớn, thì đó cũng là lúc chúng ta cảm nhận được tình yêu thường thấy ở các bậc thánh nhân: thuần khiết, bao la và bình đẳng đối với toàn bộ thế gian.

Nhu cầu yêu thương là một nhu cầu vừa phức tạp vừa đơn giản. Đơn giản vì một người hoàn toàn có thể tự thỏa mãn nhu cầu yêu thương của bản thân mà không cần tốn kém: chỉ cần quan sát hay thậm chí nghĩ đến một điều gì đáng yêu là người đó đã có thể thấy hạnh phúc. Đó là lý do vì sao các video chó mèo trên Youtube lại có sức hút lớn đến như vậy. Sự phức tạp của nhu cầu yêu thương đến từ việc chúng ta hay nhầm lẫn nó với nhu cầu quyền lực, tức là nhầm lẫn tình yêu với sự kiểm soát và điều khiển. Khi chúng ta yêu quý một người hay vật nào đó, chúng ta có xu hướng thể hiện tình cảm đó ra bằng hành động. Hành động đó của chúng ta có thể đem lại hạnh phúc cho đối phương bằng việc khiến họ cảm thấy được yêu thương, mà cũng có thể không, nhất là khi nó đem lại bất hạnh cho họ ở những mặt khác, và điều này phụ thuộc hoàn toàn vào cảm nhận chủ quan. Khi một cá nhân, chỉ vì cho rằng hành động của mình là thể hiện của tình yêu, mà nghĩ rằng đối phương nên/cần/phải chấp nhận nó, và thậm chí là phải thấy hạnh phúc, thì tức là người đó đơn giản chỉ đang muốn thỏa mãn nhu cầu quyền lực của bản thân mà thôi.

Chú ý rằng khái niệm yêu thương ở đây rất khác với khái niệm tình yêu nam nữ (hay nam-nam, nữ-nữ,…). Sự yêu thương bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với tình yêu lãng mạn, và nhu cầu đối với tình yêu lãng mạn cũng có thể được phân tích ra thành nhiều nhu cầu tinh thần khác, trong đó nhu cầu yêu thương chỉ là một thành phần. Nhu cầu yêu thương theo nghĩa rộng đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cho nhân loại có thể cùng chung sống trong những cộng đồng và xã hội, và cùng tồn tại với môi trường xung quanh một cách tương đối hòa bình. Nhu cầu yêu thương khiến cho chúng ta có thể thu được cảm giác hạnh phúc từ bản thân sự tồn tại của các sự vật sự việc khác, chứ không giới hạn ở việc chúng ta có thể sử dụng và tác động đến những sự vật sự việc đó như thế nào. Và do đó chúng ta có được sự thỏa mãn từ việc đơn thuần giữ một mối quan hệ bất can thiệp và mong muốn những điều tốt đẹp đối với thế giới xung quanh.

e. Nhu cầu tự do

Nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy mình là người nắm quyền ra các quyết định của bản thân. Nói cách khác, nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy được sống đúng với nhân cách tự thân của chính mình. Tuy đều mang yếu tố “theo ý mình”, nhưng nhu cầu tự do có sự khác biệt căn bản với nhu cầu quyền lực ở chỗ nhu cầu quyền lực đánh giá kết quả của một quyết định, còn nhu cầu tự do đánh giá nhân cách đứng sau quyết định đó. Điều này lý giải vì sao một số người thường không thích cảm giác bị người khác điều khiển, mặc dù có thể những quyết định và hành động của họ ở thời điểm được đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, và thậm chí là đem lại kết quả tích cực như ý muốn (vd. cảm giác bị dẫn dắt, được sắp xếp sẵn mọi thứ,…). Có thể nói rằng nhu cầu tự do là nhu cầu được thoát khỏi sự kiểm soát và điều khiển của thế giới xung quanh.

Nhu cầu tự do, một khi bị từ chối đáp ứng, nhất là khi điều đó diễn ra một cách thường xuyên, có thể gây hệ quả tiêu cực rất nặng nề và lâu dài đến sức khỏe tinh thần của cá nhân, mà khó có thể được bù đắp lại bởi sự thỏa mãn những nhu cầu khác. Đối với một con người đã ý thức được một nhu cầu tự do nhất định của bản thân, thì việc tự do đó bị phủ nhận tương đương với việc nhân cách, cũng tức là tư cách làm người, bị phủ nhận. Khi đó trong tâm trí cá nhân thường sẽ xuất hiện một cảm giác căm ghét tột độ đối với sự vật sự việc mà cá nhân đó cho là đang cản trở tự do của mình. Bên cạnh thiệt hại trực tiếp về mặt hạnh phúc, việc tự do bị tước đoạt cũng cản trở việc hình thành nhân cách tự thân, và qua đó cản trở sự phát triển năng lực tiềm ẩn của cá nhân, trong đó bị ảnh hưởng nặng nhất có lẽ là khả năng tự chủ và tính sáng tạo.

Cũng giống như nhu cầu yêu thương, việc thỏa mãn nhu cầu tự do, ít nhất trên lý thuyết, không hề tốn kém về vật chất hay thời gian: chúng ta chỉ việc xây dựng nhân cách của riêng mình, và nghe theo ý kiến của nhân cách đó trong mọi việc. Tuy nhiên, trên thực tế điều này đôi khi đòi hỏi một lượng tài nguyên tinh thần không hề nhỏ, và trong một số trường hợp là gây nguy hiểm đến tính mạng. Đó là vì nhu cầu tự do của người này thường xung đột với nhu cầu quyền lực, và đôi khi là cả sinh tồn, của người khác trong cùng một cộng đồng, cũng như gặp phải sự cản trở từ các quy luật của tự nhiên. Tài nguyên tinh thần mà một cá nhân cần phải sử dụng đến để vượt qua những cản trở đó, để chịu đựng thiệt hại đối với những nhu cầu khác trong khi thỏa mãn nhu cầu tự do của bản thân, chính là ý chí tự do. Đồng thời, việc cân bằng giữa tự do của cá nhân và lợi ích của phần còn lại của cộng đồng cũng là một điểm rất quan trọng trong việc vận hành cộng đồng đó.

Vai trò của nhu cầu tự do khá rõ ràng: nó tạo ra động lực để mỗi cá nhân con người mong muốn bảo vệ và phát triển nhân cách riêng của mình, thông qua đó giữ cho xã hội loài người có một sự đa dạng cao về tư tưởng và hành động. Những tư tưởng và kinh nghiệm được tạo ra từ sự đa dạng đó, sau khi trải qua sự thử thách và chọn lọc khi va chạm với các tư tưởng và kinh nghiệm khác, tạo nên toàn bộ hệ thống tri thức và lý luận của con người ngày nay. Có thể nói rằng nhu cầu tự do gián tiếp đảm bảo nguồn nguyên liệu thô cho quá trình tiến hóa của văn minh nhân loại. Bởi vậy, việc tôn trọng quyền tự do tư tưởng và hành động của cá nhân, tất nhiên trong giới hạn đảm bảo ở mức nhất định quyền lợi của các cá nhân khác trong xã hội, là một nguyên tắc không chỉ phù hợp với lợi ích của từng cá nhân, mà còn là phù hợp với lợi ích tổng thể của xã hội loài người, và do đó là một việc làm hợp đạo đức.

3. Đi tìm hạnh phúc

Năm nhu cầu tinh thần nói đến ở trên đơn giản chỉ là một cách phân loại, một cách nhìn đối với tập hợp toàn bộ các nhu cầu hạnh phúc của con người vốn rất phức tạp và đa dạng. Năm nhu cầu này có thể không bao quát và lý giải được tất cả mọi nhu cầu hay cảm xúc của con người, nhưng chúng có thể cho chúng ta một cơ sở lý luận để qua đó có thể suy nghĩ một cách có hệ thống hơn về hạnh phúc và cách để đạt tới hạnh phúc. Trong thực tế, một hành vi của con người có thể có tác động rất phức tạp lên hạnh phúc của bản thân, liên quan đến nhiều nhu cầu tinh thần khác nhau: tình yêu đôi lứa có thể đáp ứng cùng lúc nhu cầu thể xác (XXX), nhu cầu yêu thương (yêu…), nhu cầu khám phá (trải nghiệm yêu), và nhu cầu quyền lực (khiến đối phương hạnh phúc). Nỗ lực thỏa mãn một nhu cầu nhất định (ép buộc con cái theo ý mình) cũng có thể gây tổn thương lớn hơn đến một nhu cầu khác (ngăn cản sự yêu thương và nhận về yêu thương).

Hành trình tìm kiếm hạnh phúc của con người, do đó, cũng chính là hành trình đi tìm ra những con đường có thể đáp ứng nhu cầu hạnh phúc của riêng mình một cách hiệu quả nhất và bền vững nhất, và còn được chúng ta gọi với một cái tên khác là sự trưởng thành. Hành trình đó đòi hỏi chúng ta không chỉ nhận thức và tác động lên thế giới xung quanh, mà quan trọng hơn là nhận thức được và kiểm soát được ở mức độ nhất định đối với nội tâm của chính mình. Đó là vì tất cả các nhu cầu hạnh phúc đều là nhu cầu tinh thần, và phụ thuộc vào ít nhất một hay một số yếu tố tinh thần nhất định: nhu cầu quyền lực phụ thuộc vào việc chúng ta nghĩ mình “đáng được” cái gì, nhu cầu yêu thương phụ thuộc vào việc chúng ta quan sát thế giới kỹ đến đâu và ở phạm vi nào, nhu cầu tự do phụ thuộc vào việc chúng ta có nhân cách tự thân để mà theo không,… Từ cách nhìn như vậy, thì có thể nói rằng hạnh phúc thực sự luôn tồn tại sẵn ở trong tâm trí của chúng ta.

Một điểm đáng chú ý nữa là các nhu cầu tinh thần cũng có “thứ bậc” nhất định, và có thể khác nhau đối với từng người. Tuy nhiên trong đa số trường hợp thứ bậc này gần giống với thứ tự được giới thiệu ở đây: sinh tồn < khám phá < quyền lực < yêu thương < tự do. Những nhu cầu ở thứ bậc càng cao thì một khi đã được ý thức, sẽ càng khó có thể từ bỏ hoàn toàn để thỏa mãn các nhu cầu thấp hơn. Một người khi đã biết rằng mình có thể tác động đến thế giới xung quanh để uốn nắn theo ý mình, sẽ khó có thể từ bỏ hoàn toàn điều đó để chỉ dừng lại ở việc khám phá những điều mới mẻ. Tương tự, một khi đã biết đến cảm giác yêu thương và tự do, con người sẽ rất khó đồng ý xóa bỏ hoàn toàn những cảm xúc ấy để đổi lại sự đáp ứng dù là cao nhất đối với tất cả những nhu cầu còn lại.

Và dù cho không có một nhu cầu hay một phương pháp nhất định nào tự nó là “cao cả” hay “thấp kém” một cách tuyệt đối, thì khi đứng trên quan điểm lợi ích cá nhân, việc tập trung vào những nhu cầu ít tốn kém hơn và những phương pháp để đạt đến hạnh phúc lớn lao hơn và có tính bền vững hơn, có thể được xem là chiến lược sáng suốt hơn về lâu dài. Cụ thể, chúng ta nên tránh việc để cho hạnh phúc của mình phụ thuộc vào sự thỏa mãn những nhu cầu tốn kém trong việc duy trì (hưởng thụ vật chất, chất kích thích,…), tránh việc sử dụng những phương pháp đáp ứng nhu cầu có khả năng phản tác dụng cao (điều khiển người khác, hy sinh tự do,…), và hướng đến việc tìm kiếm và gia tăng hạnh phúc ở bên trong tâm trí (yêu nhiều ghét ít, hạ thấp kỳ vọng, tu dưỡng bản thân,…). Tất nhiên, như đã nói mỗi người có một khuynh hướng riêng trong vấn đề hạnh phúc, và không có công thức nào để đạt tới hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người cả.

Nếu chúng ta suy nghĩ một cách sâu xa và triệt để về cách để bản thân có được hạnh phúc, thì rất có thể những kết luận mà chúng ta đạt được nghe sẽ có vẻ giống những lời dạy bảo của các tôn giáo hay đạo đức truyền thống. Đó vốn chính là nguồn gốc của đạo đức ở mức độ cá nhân lẫn xã hội: những chiến lược, những nguyên tắc, những lời khuyên có thể đem lại hạnh phúc bền vững, hoặc ngăn ngừa sự bất hạnh, cho mỗi cá nhân con người, được hình thành thông qua trực giác bản năng hoặc kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân và các thế hệ đi trước – một cuốn “cẩm nang hạnh phúc”. Đạo đức là một thứ vốn có ích và mang lại tự do cho cá nhân nếu nó được dùng đúng phạm vi và công dụng. Chỉ khi đạo đức bị khoác lên mình tấm áo quyền lực và chân lý, bị lợi dụng để điều khiển người khác, khi “nên” bị biến thành “phải”, thì đạo đức mới trở thành một đề tài gây ra tranh cãi và bất hạnh.


Như vậy, cảm giác hạnh phúc là một cảm giác nảy sinh từ sự thỏa mãn của một hay một số nhu cầu trong số rất nhiều các nhu cầu tinh thần đa dạng của con người. Các nhu cầu đó có thể được phân chia làm năm phân loại chính: sinh tồn, khám phá, quyền lực, yêu thương, và tự do. Mỗi phân loại nhu cầu có cơ chế thỏa mãn khác nhau, cũng như vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại nói chung và mỗi cá nhân nói riêng. Mỗi con người cũng sẽ có những khuynh hướng nhất định đặc trưng cho cá nhân đó, đòi hỏi nhu cầu này nhiều hơn, nhu cầu kia ít hơn. Mỗi quyết định và hành động của con người đều nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất các nhu cầu tinh thần của bản thân, trong giới hạn hiểu biết và năng lực tại thời điểm đó. Việc hiểu rõ về các nhu cầu của bản thân, và tìm ra những cách đáp ứng chúng sao cho mang lại hiệu quả tổng thể cao nhất và ít tốn kém nhất, là con đường duy nhất để đạt đến được hạnh phúc ổn định, bền vững và lâu dài.

Bàn về “nhân cách”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trong những đánh giá về một con người, đôi khi chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của từ “nhân cách”. Chúng ta hay nói rằng nhân cách một con người là “lớn lao”, “cao cả”, “vĩ đại”, hay ngược lại là “thấp kém”, “nhỏ bé”, “xấu xa”. Chúng ta có thể cảm nhận lờ mờ được rằng dường như “nhân cách” là một thứ gì đó đại diện cho giá trị của một con người ở một khía cạnh nào đó. Vậy thực sự thì nhân cách là gì? Và nếu nhân cách là một thứ được dùng để đánh giá giá trị của chúng ta, thì chúng ta có thể làm gì để nâng cao giá trị đó? Bài viết dưới đây sẽ tập trung vào việc làm rõ khái niệm “nhân cách”, đồng thời nêu ra một số suy nghĩ mà cá nhân tôi cho rằng mọi người chúng ta nên có đối với khái niệm này.


1. Nhân cách là gì?

Nhân cách là tập hợp những nhận thức, hiểu biết, nguyên tắc, niềm tin của một con người về chính bản thân mình, và còn có thể được gọi là “tư cách làm người” hay “tính người” của người đó. Nhân cách là thứ trả lời cho những câu hỏi như “tôi là ai”, “tôi đến từ đâu”, “tôi là người thế nào”, “tôi mong muốn cái gì”, “tôi coi trọng cái gì”, “tôi tin vào cái gì”,… Tùy vào mức độ phát triển mà nội dung của nhân cách có thể rất phong phú:từ việc ý thức được mình là một “con người”, hay ít nhất là một “thực thể” tách biệt khỏi thế giới xung quanh, cho đến hiểu biết về những nhu cầu, sở thích, ham muốn, tính cách của bản thân, và cuối cùng là những nội dung trừu tượng như niềm tin, triết lý, đạo đức,… Ví dụ về từng khía cạnh riêng lẻ của nhân cách có thể là “tôi là người Việt Nam”, “tôi thích đồ ngọt”, “tôi rất giỏi ngoại ngữ”, “tôi muốn làm nghề dạy học”, “tôi coi trọng tự do tư tưởng”, “tôi tin rằng lợi ích cá nhân nên được đặt lên trên hết”,…

Nhân cách là nguồn gốc và căn cứ sâu xa nhất của tất cả những đánh giá và quyết định có ý thức của con người. Tất cả mọi đánh giá và quyết định có ý thức của chúng ta đều có thể được truy gốc về một hay nhiều mặt của nhân cách mỗi cá nhân. Những tiêu chuẩn và tiền đề “khách quan” mà người ta thường nói tới như đạo đức, truyền thống, tín ngưỡng, pháp luật, hay cả khoa học cũng đều chỉ là một trong những yếu tố được sử dụng trong quá trình đưa ra đánh giá hay quyết định. Trong quá trình đó, nhân cách mới là thứ có tiếng nói quyết định. Trong tâm trí của chúng ta, Trái Đất hình tròn không phải vì khoa học bảo thế, mà vì chúng ta lựa chọn việc tin vào điều đó, hoặc tin vào khoa học. Chúng ta không giết người không phải vì pháp luật cấm đoán, mà vì chúng ta không muốn phạm pháp, hoặc không muốn trở thành kẻ thù của xã hội. Một khi nhân cách đã đưa ra quyết định trái ngược thì bao nhiêu đạo đức khoa học hay pháp luật quy tắc cũng đều là đồ bỏ.

Cần chú ý rằng nhân cách khác với tính cách. Tính cách là một phần của nhân cách và bao gồm các khuynh hướng của cảm xúc, thái độ và hành động được thể hiện ra ngoài như xuề xòa, vui vẻ, hài hước, nóng nảy, khiêm tốn,… Trong cùng một con người có thể có rất nhiều tính cách đa dạng, đôi khi là trái ngược, cùng tồn tại. Việc tính cách nào được thể hiện ra bên ngoài sẽ tùy thuộc vào hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể. Một người có thể nhũn nhặn với cấp trên nhưng lại nóng nảy với cấp dưới, nhút nhát ở chỗ đông người nhưng sôi nổi khi bàn luận riêng. Những biểu hiện bên ngoài đó tuy có thể rất khác nhau nhưng đều xuất phát từ một nhân cách trung tâm ở bên trong, và sự khác biệt nảy sinh tùy vào hoàn cảnh là điều hoàn toàn bình thường và hợp lý. Có thể nói rằng, tính cách là những vai diễn, người đời là khán giả, và người diễn viên đằng sau những vai diễn đó, người quyết định sẽ đóng vai nào trong hoàn cảnh nào, chính là nhân cách.

Nhân cách cũng khác với tri thức hay hiểu biết thông thường. “Trái Đất (có thể) hình tròn” hay “Trái Đất (có thể) hình đĩa” đơn thuần chỉ là những giả thuyết hay ý tưởng, tương đương với một mệnh đề logic chưa được chứng minh, và bản thân chúng không mang thông tin gì cả. Khi chúng ta gắn cho những giả thuyết đó một giá trị chân lý đúng/sai dựa trên một số tiền đề nhất định thì chúng ta có thông tin, hay còn gọi là tri thức, tương đương với một khẳng định logic. Và cuối cùng, nhân cách của một người sẽ là thứ quyết định việc người đó tin hay không tin, tin ở mức độ nào, với điều kiện gì, gắn những giá trị và ý nghĩa gì, và sử dụng như thế nào đối với một thông tin hay tri thức nhất định. Nói cách khác, nhân cách là quan tòa tối cao, là bộ lọc cuối cùng đối với mọi tri thức mà chúng ta tiếp nhận, đồng thời cũng là một trong những mắt xích kết nối tri thức với những suy nghĩ, hành động và quyết định cụ thể của chúng ta.

2. Nhân cách tự thân và tiêm nhiễm

Đối với một con người sống trong một xã hội, nhân cách có thể được chia làm hai bộ phận: nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm. Nhân cách tự thân là nhân cách được hình thành một cách tự nhiên và tự do, không có sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài. Trái lại, nhân cách tiêm nhiễm là nhân cách có nguồn gốc từ bên ngoài, hoặc phải phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. Có thể nói rằng, nhân cách tự thân thể hiện cho con người thực của chúng ta, còn nhân cách tiêm nhiễm thường thể hiện cho một hình ảnh về chúng ta trong mắt người khác, hoặc hình ảnh một người khác bên trong chúng ta. Do đến từ bên ngoài hoặc phụ thuộc vào bên ngoài, nên nhân cách tiêm nhiễm thường mang lại cảm giác “xa xôi”, “bất biến”, “hiển nhiên”, “không thể chống lại”. Trong khi đó, nhân cách tự thân là thứ chúng ta cảm thấy hoàn toàn có thể và có quyền thêm bớt hay thay đổi theo ý muốn, tuy rằng có thay đổi và thay đổi được hay không lại là chuyện khác.

Nhân cách tiêm nhiễm thường thấy nhất là những chuẩn mực văn hóa và đạo đức của xã hội mà chúng ta đang sống. Chẳng hạn, trong xã hội Việt Nam từ trước đến nay người phụ nữ thường được (bị) giáo dục từ bé rằng cần phải hiền thục đảm đang, gánh vác việc nhà, hy sinh vì gia đình,… Rất nhiều người trong số đó khi lớn lên coi điều này là một chân lý hiển nhiên, hoặc ít nhất cảm thấy một áp lực vô hình hướng bản thân tới hình ảnh lý tưởng ấy. Một ví dụ khác thường thấy là những sự định hướng và kỳ vọng mang tính áp đặt của cha mẹ đối với con cái trong các vấn đề sự nghiệp, tình cảm, gia đình,… Ngược lại, nhân cách tự thân là những sở thích và mơ ước cá nhân, là những triết lý chúng ta tự khám phá ra, là những nguyên tắc cốt lõi không thể khoan nhượng, là sự tự hào đối với những thành tựu của bản thân,… Nhân cách tự thân là tất cả những điều gì khiến cho chúng ta cảm thấy mình đang được là chính mình.

Khái niệm nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm hoàn toàn chỉ mang tính tương đối và tượng trưng chứ không hề có một định nghĩa hay ranh giới chính xác. Và do đó một người đứng bên ngoài quan sát khó có thể kết luận rõ ràng rằng một hành vi hay một suy nghĩ nào đó của một cá nhân là biểu hiện của nhân cách tự thân hay nhân cách tiêm nhiễm. Điều đó phải do tự bản thân cá nhân đó quyết định lấy. Trong thực tế, một người hoàn toàn có thể đinh ninh rằng một điều gì đó là một phần nhân cách thực của bản thân, cho đến khi nhận ra rằng đó chỉ là một thứ bị tiêm nhiễm vào từ bên ngoài một cách vô thức. Nói cách khác, cùng một suy nghĩ, cùng một hành động, cùng một quyết định có thể là xuất phát từ nhân cách tự thân hoặc từ nhân cách tiêm nhiễm, tùy vào nội tâm của cá nhân chủ thể.

3. Sự xâm nhập nhân cách

Sự xâm nhập của nhân cách tiêm nhiễm có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau. Ban đầu, một người có thể bị buộc phải chấp nhận sống bằng một nhân cách nào đó do sự đe dọa về thể xác, lợi ích hoặc áp lực tinh thần. Khi đó, nhân cách tiêm nhiễm sẽ chỉ nắm được quyền điều khiển nếu sự đe dọa hay áp lực được duy trì. Ở mức độ này, có thể nói rằng nhân cách đến từ bên ngoài kia chưa hề được chấp nhận làm một phần nhân cách bên trong của cá nhân, mà chỉ được tuân thủ một cách máy móc. Khi đó nhân cách tự thân thường sẽ thể hiện sự kháng cự thông qua một cảm giác bị ép buộc, dẫn tới sự giận dữ, và có thể là sự chống đối công khai. Tất nhiên sự chống đối sẽ khó xảy ra nếu như nhân cách tự thân quá yếu ớt hay áp lực bên ngoài quá lớn. Bước đầu tiên của quá trình tiêm nhiễm này có thể dễ dàng thấy được khi trẻ em bị cha mẹ uốn nắn dạy dỗ một cách cưỡng ép, hay khi một thành viên xã hội bị kiểm soát và điều khiển bởi vũ lực của tầng lớp thống trị.

Khi nhân cách tiêm nhiễm đã xâm nhập sâu hơn, nó sẽ bám rễ bên trong tâm trí của cá nhân. Lúc này cá nhân đã chấp nhận, hay đúng hơn là bỏ cuộc, ở mức độ nào đó đối với sự xâm lấn từ bên ngoài. Nhân cách tiêm nhiễm sẽ có thể tự xuất hiện và giành quyền kiểm soát nội tâm mỗi khi cá nhân có suy nghĩ gì đó trái ngược với nó, mà không cần đến sự đe dọa hay áp lực có thực từ bên ngoài. Cá nhân bắt đầu mất dần ý thức về nguồn gốc ngoại lai của nhân cách tiêm nhiễm và chấp nhận nó như một phần khó có thể tách rời của nhân cách bản thân, dù muốn dù không. Sự khuất phục trước uy quyền, ví dụ như uy quyền của cha mẹ hay thần quyền, là một ví dụ điển hình của nhân cách tiêm nhiễm ở mức độ này. Có rất nhiều người dù đã có gia đình riêng và hoàn toàn tự lập về tài chính, nhưng vẫn không thể chống lại được lời cha mẹ, và sự khuất phục của hàng bao thế hệ người Châu Âu trước quyền uy của Giáo hội La Mã là một sự thật lịch sử khó ai có thể phủ nhận.

Nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể xâm nhập vào nội tâm một con người theo những con đường “ôn hòa” hơn. Một người có thể tự mình tạo nên nhân cách tiêm nhiễm bằng việc du nhập các tư tưởng bên ngoài một cách vô tội vạ mà không có sự chọn lọc kiểm tra bằng suy nghĩ của bản thân. Những hạn chế về môi trường, thông tin, hay đơn giản là sự may rủi cũng có thể khiến cho cá nhân tự mình chấp nhận một cách vô thức rằng một niềm tin hay cách suy nghĩ nào đó là điều hiển nhiên không thể thay đổi, chỉ bởi vì cá nhân không có cơ hội được tiếp xúc với những lựa chọn khác. Khi đó, những niềm tin hay cách suy nghĩ ấy có thể trở thành một phần vĩnh viễn của nhân cách nếu như bản thân cá nhân ngừng việc suy nghĩ, đặt câu hỏi, và tìm kiếm những khả năng mới. Chẳng hạn, một người sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ thường xuyên sử dụng vũ lực và áp đặt suy nghĩ lên con cái, rất có thể sẽ tin rằng đó là cách duy nhất để dạy dỗ những đứa con của chính mình, mặc dù có thể điều đó mâu thuẫn với tình yêu người đó dành cho con.

Sự xâm lấn và mở rộng của nhân cách tiêm nhiễm thường đi cùng với sự thu hẹp và phai nhạt của nhân cách tự thân. Cũng giống như kỹ năng hay tri thức, nhân cách chỉ có thể được duy trì và phát triển nếu như thường xuyên được sử dụng và bồi bổ. Việc thường xuyên sử dụng nhân cách tự thân sẽ giúp cho cá nhân dần hiểu rõ được bản thân, biết cách tin tưởng và sử dụng sở thích, tính cách và trực giác của bản thân, đồng thời chỉnh sửa, mở rộng nhân cách bản thân cho phù hợp với nhu cầu thực tế lẫn thiên hướng có sẵn. Ngược lại, nếu bị đè nén và phủ nhận, nhất là từ khi còn nhỏ, thì nhân cách tự thân sẽ không có cơ hội phát triển và do đó sẽ rất hoang sơ, rời rạc vô tổ chức, và quan trọng nhất là không được tin tưởng. Biểu hiện rõ ràng nhất của điều này là việc không biết mình thích gì, muốn gì, không có khả năng hay không dám tự suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm, mà luôn tìm kiếm sự chỉ dẫn từ một quyền lực nào đó như cha mẹ, giáo viên, cấp trên, thần quyền,… Đối với một người mà nhân cách tự thân đã bị xóa bỏ hoàn toàn, thì có lẽ đến cả việc tự chọn vị kem mình thích cũng là điều khó khăn.

Tất nhiên, không phải mọi tư tưởng có nguồn gốc ngoại lai đều trở thành nhân cách tiêm nhiễm. Khi tiếp xúc với một tư tưởng từ bên ngoài mà cá nhân cảm thấy hợp lý, tức là cảm thấy phù hợp với nhân cách tự thân của cá nhân tại thời điểm đó, cá nhân có thể ngay lập tức kết nối tư tưởng mới ấy vào thành một phần của nhân cách tự thân. Hay nói đúng hơn, khi đó đã diễn ra một quá trình sáng tạo: cá nhân lấy những tư tưởng nguyên liệu từ bên ngoài và sáng tạo lại thành một mảnh ghép mới của mô hình thế giới thu nhỏ bên trong trí não (tham khảo bài viết trước). Điều này cũng tương tự với việc các thầy cô giáo hay yêu cầu học sinh “biến kiến thức thành của mình” vậy. Điểm khác biệt của quá trình này so với sự du nhập vô tội vạ là do tư tưởng mới đã được diễn giải, kết nối và kiểm chứng bằng thế giới quan của chính mình, nên cá nhân có thể, và trong đa số trường hợp sẽ bảo vệ tư tưởng đó chỉ bằng năng lực và nhân cách tự thân (vd. “tôi thích nghĩ thế”), thay vì cảm thấy phải dựa dẫm vào những nguồn quyền lực và lý luận ở bên ngoài như “khoa học”, “thời trang”, “thuần phong mỹ tục”, “truyền thống đạo đức”, hay “cha mẹ bảo thế”.

4. Vai trò của nhân cách tự thân

Ở đây tôi không muốn nói rằng nhân cách tự thân là “tốt” và nhân cách tiêm nhiễm là “xấu”. Tuy nhiên, nhân cách tự thân có vai trò quan trọng đối với hạnh phúc của mỗi chúng ta, và việc để cho nhân cách tiêm nhiễm xâm lấn và chèn ép nhân cách tự thân có thể đem lại nhiều hậu quả không được mong muốn. Trước hết, vì “tôi hạnh phúc khi nào” cũng là một nội dung quan trọng của nhân cách, mà chỉ có nhân cách tự thân mới phản ánh đúng những quy luật cảm xúc tự nhiên của chính chúng ta, nên chỉ có nhân cách tự thân mới có thể chỉ ra cho chúng ta con đường để đi tới hạnh phúc thực sự và lâu bền cho bản thân. Mọi định nghĩa hạnh phúc mà nhân cách tiêm nhiễm mang lại, nếu không phải là sai lệch hoàn toàn, thì cùng lắm cũng chỉ có thể đem lại sự thỏa mãn một phần nào đó một số nhu cầu tâm lý nhất thời mà thôi.

Một điểm dễ thấy ở những người có nhân cách tự thân yếu ớt là họ thường sẽ ít cảm thấy có trách nhiệm với bản thân và thế giới xung quanh. Đó là vì trách nhiệm và tự do là hai mặt của cùng một đồng tiền. Nhân cách tiêm nhiễm thường là thứ chúng ta cảm thấy không có quyền hay không thể tự do lựa chọn. Mà đã không được tự do lựa chọn, thì chúng ta sẽ không thấy lựa chọn đó là “của mình”, hay nói cách khác chúng ta không cảm thấy có trách nhiệm với nó. Ngược lại, nhân cách tự thân là thứ chúng ta đã tự lựa chọn một cách có ý thức và có thể tự do thay đổi theo ý muốn. Chính điều này làm nên cảm giác trách nhiệm đối với lựa chọn của bản thân. Cảm giác trách nhiệm này là một yếu tố có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành công cũng như cảm giác thỏa mãn mang lại bởi các hoạt động của chúng ta trong thực tế cuộc sống.

Chú ý rằng, nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể tạo ra ở cá nhân một thứ có biểu hiện bề ngoài gần giống như tinh thần trách nhiệm, đó là sự sợ hãi. Điều này có thể thấy ở một số ví dụ như một đứa trẻ tỏ ra chăm chỉ học hành khi bị cha mẹ áp đặt định hướng vào một ngành nghề nào đó. Bên ngoài, đứa trẻ đó dường như đang thể hiện trách nhiệm đối với cuộc đời của chính mình, hoặc là đối với sự kỳ vọng của cha mẹ. Nhưng rất có thể bên trong nội tâm đứa trẻ đó, động lực thôi thúc hành vi học hành lại là nỗi sợ hãi đánh mất sự chấp nhận và tình cảm từ phía cha mẹ. Tương tự như vậy, một người phụ nữ cố gắng giữ vững hình ảnh hiền thục đảm đang rất có thể đơn giản là vì sợ hãi sự đánh giá từ xung quanh, chứ không phải vì một cảm giác trách nhiệm đối với vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội của bản thân.

Sự sợ hãi và cảm giác trách nhiệm có hai sự khác biệt chính. Thứ nhất, sự sợ hãi dẫn đến sự bị động, trong khi trách nhiệm tạo nên sự chủ động: một người có thể cố gắng đáp ứng tốt nhất mọi công việc được giao vì sợ hãi, nhưng chỉ có trách nhiệm thực sự mới khiến người đó tự mình suy nghĩ sáng tạo tìm cách cải thiện chất lượng công việc dù không được yêu cầu. Thứ hai, sự sợ hãi là động lực bên ngoài, trong khi trách nhiệm là động lực bên trong: khi tất cả các yếu tố bên ngoài gây nên sự sợ hãi đều biến mất, thì động lực còn sót lại chính là trách nhiệm thực sự. Chính vì sự khác biệt về bản chất này của động lực sản sinh bởi nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm, nên trong đại đa số trường hợp một người sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ không thể phát huy hết được năng lực tiềm tàng của bản thân, nhất là năng lực sáng tạo và tự chủ, so với khi người đó được sống bằng nhân cách thực của chính mình.

Một hệ quả tiêu cực khác của việc nhân cách tự thân yếu ớt là một cá nhân sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ để cho nội tâm của mình phụ thuộc nhiều vào tác động từ bên ngoài. Nói một cách đơn giản là người đó dễ mất phương hướng và bị dắt mũi bởi thế giới xung quanh. Một số ví dụ đơn giản cho điều này là việc chạy theo các xu hướng thời trang, tin theo tất cả các thông tin có gắn mác “khoa học”, hay dễ bị dụ dỗ bởi những lời đường mật kiểu “bán hàng đa cấp”. Trong các ví dụ này, một bộ phận nào đó của nhân cách cá nhân (vd. “thế nào là đẹp”, “thế nào là đáng tin”, “thế nào là thành công”) đã được tiêm nhiễm vào từ bên ngoài hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố bên ngoài về mặt nội dung, chứ không được dựa trên những suy nghĩ của bản thân, và do đó nằm ngoài tầm kiểm soát của cá nhân. Điều này dẫn tới việc suy nghĩ của cá nhân dễ bị thao túng, hay nhẹ hơn là dễ biến động hoặc hoang mang khi môi trường xung quanh liên tục cung cấp các thông tin thiếu thống nhất hay thậm chí trái ngược nhau.

Một ví dụ khác của điều được nói đến ở trên là việc danh tính (identity) của cá nhân, một bộ phận rất quan trọng của nhân cách, được gắn chặt hay thậm chí là định nghĩa hoàn toàn bởi những cái mác bên ngoài như tên tuổi, xuất thân, bằng cấp, tài sản, quốc tịch, dân tộc, hay thậm chí là tình trạng hôn nhân. Đối với những cá nhân đó, những cái mác này làm nên con người họ, chứ không đơn thuần chỉ là một số thuộc tính họ ngẫu nhiên mang theo mình nữa. Đối với họ, việc đánh mất một cái mác tương đương với việc đánh mất một phần sự tồn tại của bản thân, và việc một cái mác gặp phải sự chỉ trích hay bôi nhọ tương đương một đòn đánh trực diện vào nhân cách của chính họ. Điều này có nghĩa là nhân cách của họ rất dễ bị tổn thương, và nếu nhân cách đó không còn gì khác ngoài những cái mác, thì đó là một nhân cách nghèo nàn và thiếu thực chất. Một nhân cách như vậy sẽ không phải là một lá chắn tốt giúp giữ vững sự ổn định tinh thần của một con người.

Điều này mang lại nhiều bất lợi cho cá nhân, bởi tất cả những yếu tố bên ngoài, kể cả những thứ tưởng chừng như trường tồn như quốc gia hay dân tộc, đều có thể biến mất hay bị quên lãng bất cứ lúc nào. Nhân cách, ý chí và năng lực tự thân mới là những thứ thực sự chắc chắn sẽ đi theo một con người suốt từ khi sinh ra cho đến (gần) khi chết đi, đồng thời tạo nên ở con người đó sức hấp dẫn và lôi cuốn bền bỉ đối với những người xung quanh. Bất lợi này càng rõ ràng hơn khi cá nhân phải sinh sống và làm việc tại một môi trường hoàn toàn mới lạ như ở nước ngoài, nơi mà những cái mác vốn có bỗng dưng hoàn toàn mất giá trị. Có thể nói rằng một trong những phép thử cho nhân cách một con người là xem xem sau một thời gian ở một môi trường mới, có được bao nhiêu người xung quanh nhìn người đó như một con người hoàn toàn, hay hầu hết vẫn nhận diện người đó bằng những cái mác như “thằng Việt Nam”.

Cuối cùng, một nhân cách tự thân dù cho có yếu ớt và bị chèn ép đến đâu, cũng rất khó có thể biến mất hoàn toàn, mà chỉ có thể bị chôn vùi xuống đáy tâm hồn và bị quên lãng đi mà thôi. Khi nhân cách tiêm nhiễm khiến cho cá nhân có những suy nghĩ hay hành động trái ngược với một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân đã bị vùi lấp, nhân cách đó sẽ trỗi dậy và tạo nên một sự xung đột tâm lý trong nội tâm cá nhân, dù có thể là yếu đuối. Điều này có thể được cảm nhận qua một cảm giác lấn cấn, do dự, “có cái gì đó sai”, hay đơn giản chỉ là một sự khó chịu không rõ nguyên nhân. Những xung đột tâm lý này, nếu không được lý giải rõ ràng và giải quyết tận gốc, thì qua thời gian có thể sẽ tích tụ và lớn dần lên, tạo nên sự mâu thuẫn nội tâm ngày càng gay gắt, và cuối cùng có thể dẫn đến những triệu chứng của các loại bệnh tâm thần.

5. Xây dựng nhân cách của chính mình

Chính vì nhân cách tự thân có vai trò quan trọng như vậy, nên mỗi người chúng ta đều nên để ý xây dựng nên cho mình một nhân cách độc lập và vững vàng theo mong muốn của bản thân. Nhiều người cho rằng tính cách hay nhân cách là do môi trường tạo nên. Khẳng định đó có thể phần nào phản ánh đúng hiện thực, nhưng nó gián tiếp phủ nhận vai trò của ý chí tự do của mỗi cá nhân, cũng tức là thể hiện sự lảng tránh trách nhiệm đối với nhân cách và qua đó là vận mệnh của chính mình. Vậy, chúng ta có thể làm gì để phát triển nhân cách của bản thân?

a. Phát triển

Trước hết, nếu một người không hề ý thức được gì về một thứ nào đó, thì cũng có nghĩa là thứ đó không hề tồn tại đối với người ấy, và một thứ không tồn tại thì không có cách nào phát triển được. Do vậy, điều đầu tiên chúng ta nên làm là tự quan sát và ý thức được sự tồn tại của nhân cách tự thân. Điều này không nhất thiết phải là cái gì to tát, mà có thể đơn giản bắt đầu từ việc để ý xem mình thích ăn món gì, thích nghe nhạc gì, thích mặc đồ gì,… Mở rộng ra, chúng ta có thể dành thời gian để quan sát và suy nghĩ về tính cách, năng lực, đạo đức của bản thân: mình đối xử với xung quanh thế nào, mình thích làm và làm tốt việc gì, mình cảm thấy tức giận vì điều gì,… Một phần rất lớn nhân cách của chúng ta vốn đã tồn tại sẵn ở bên trong nội tâm mỗi người, vấn đề chỉ là chúng ta có ý thức được sự tồn tại của chúng, và diễn đạt những nội dung đó ra thành hình ảnh hay ngôn từ được hay không mà thôi.

Song song với việc tự quan sát chính bản thân, chúng ta cũng nên thường xuyên tìm kiếm và tiếp xúc với những ý tưởng, suy nghĩ, quan điểm mới mẻ để có thêm nguyên liệu cho quá trình xây dựng nhân cách, thông qua những phương tiện như sách vở, báo chí, internet, nói chuyện, hay đơn giản là quan sát từ xung quanh,… Ý tưởng hay suy nghĩ mới không nhất thiết phải là từ những sách vở chuyên ngành nhất định, mà có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, thậm chí ở cả những nơi tưởng chừng như chẳng hề liên quan. Chú ý rằng quá trình thu thập thông tin này cần gắn liền với sự chọn lọc, lý giải và kiểm chứng bằng nhân cách tự thân, chứ không nên là sự tiếp thu vô điều kiện. Có thể nói rằng, đây là quá trình tìm kiếm những công cụ mới để mô tả một cách ngày càng rõ ràng và chính xác hơn về nhân cách tự thân đã có sẵn, đồng thời mở rộng hoặc cải biến nhân cách đó mà vẫn giữ được tính thống nhất và hợp lý của nó, chứ không đơn thuần là sự chắp vá một cách tùy tiện.

Một trong những phương pháp tốt nhất để quan sát và xây dựng nhân cách tự thân là tự đặt mình vào trong một môi trường sống mới, mà ví dụ điển hình là một cuộc sống ở một vùng đất mới, trong một cộng đồng mới. Chúng ta chỉ có thể nhận ra sự tồn tại của một thứ gì đó khi có một thứ khác biệt đứng bên cạnh để so sánh. Cũng giống như việc con người không thể nhận ra sự tồn tại của không khí nếu như không có chân không, chúng ta không thể nhận ra một thói quen hay một khuôn mẫu tư tưởng của chính mình nếu như tất cả mọi người xung quanh đều có chung thói quen hay khuôn mẫu đó. Một môi trường hoàn toàn mới sẽ buộc chúng ta phải tiếp xúc với rất nhiều tư tưởng và suy nghĩ xa lạ từ xung quanh, dù muốn dù không, và qua đó có cơ hội nhận thức được rõ ràng hơn về nhân cách của chính mình, cũng như chọn lọc tiếp thu được những điều mới mà có thể trước đây chúng ta chưa bao giờ có cơ hội tiếp xúc.

b. Bảo vệ & sử dụng

Để cho nhân cách tự thân có thể trở nên vững vàng hơn, chúng ta cũng cần để ý bảo vệ và tin tưởng sử dụng nó vào thực tế. Điều này tưởng chừng như đơn giản nhưng có thể lại rất khó khăn. Nếu như nhân cách tự thân của chúng ta đã bị đè nén quá lâu, chúng ta có thể sẽ không có lòng tin vào nhân cách của chính mình, mà sẽ lựa chọn việc sống theo những chuẩn mực, thói quen hay lòng tin của những người xung quanh, vì những điều đó dù gì cũng (có lẽ) ít nhiều đã được kiểm chứng bằng thực tế, và nhất là vì kể cả khi thất bại chúng ta cũng không cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thất bại ấy. Cứ như thế, chúng ta càng thiếu tin tưởng và không sử dụng nhân cách tự thân, thì nhân cách tự thân của chúng ta càng không được phát triển, bị quên lãng đi, và do đó càng trở nên thiếu tin cậy hơn. Vòng xoáy tiêu cực này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là chúng ta phó mặc hoàn toàn việc suy nghĩ, đánh giá và quyết định của bản thân cho thế giới bên ngoài.

Điều đầu tiên chúng ta có thể làm được để phá vỡ vòng xoáy đó là thường xuyên khẳng định sự tồn tại và thể hiện những nội dung của nhân cách tự thân một cách rõ ràng bằng ngôn từ, hành động, hay ít nhất là suy nghĩ. Kể cả khi hoàn cảnh khiến cho chúng ta đưa ra những quyết định hay hành động trái ngược với mong muốn, chúng ta cũng nên lắng nghe tiếng nói của nhân cách tự thân, tôn trọng ý kiến đó, và nhận trách nhiệm hoàn toàn với từng quyết định hay hành động cuối cùng của mình. Điều đó đơn giản có nghĩa là: tôi biết thực sự mình thích gì và muốn gì, nhưng trong trường hợp này tôi tự lựa chọn việc làm trái với những điều đó bởi những lý do mà tôi tự chấp nhận. Có thể sẽ có người cho rằng đây là một suy nghĩ kiểu AQ chủ nghĩa, nhưng cách suy nghĩ này sẽ giúp cho nhân cách tự thân được duy trì và trở nên mạnh mẽ hơn trong mọi hoàn cảnh kể cả là khắc nghiệt và tù túng.

Mở rộng ra, trong mọi trường hợp chúng ta đều nên hướng tới việc lấy nhân cách tự thân làm chuẩn mực để đánh giá và đưa ra quyết định cho bản thân, kể cả khi điều đó có thể khiến cho một số lợi ích vật chất hay trước mắt khác bị ảnh hưởng ở một mức độ nhất định. Việc cân bằng giữa sự tôn nghiêm của nhân cách tự thân với các lợi ích vật chất và tinh thần khác như thế nào là việc mỗi người nên tự suy nghĩ và quyết định lấy, vì đó cũng là một phần của nhân cách tự thân. Tuy nhiên, một khi chúng ta cảm thấy một giá trị cốt lõi nền tảng của nhân cách tự thân bị đe dọa, nhất là khi đó là một nguyên tắc đạo đức tối cao của bản thân, thì rất có thể đó là lúc chúng ta cần phải đứng lên khẳng định và bảo vệ nhân cách của chính mình bằng mọi giá, vì sự phản bội nghiêm trọng một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân là một quyết định mà trong đa số trường hợp sẽ khiến chúng ta day dứt và hối hận cho đến mãi về sau.

c. Chú ý

Trong quá trình xây dựng nhân cách tự thân, có hai điểm mà chúng ta cần phải chú ý. Thứ nhất, đó là mọi nội dung của nhân cách tự thân đều cần phải có tính chân thực, tức là xuất phát từ những cảm xúc và suy nghĩ thực sự tự nhiên và tự do của bản thân. Nói cách khác, chúng ta nên trung thực với chính mình. Chúng ta không nên xây dựng nhân cách chỉ để hòa đồng, để khác người, hay vì bất cứ mục đích nào khác. Sự độc đáo khác biệt, hay bất cứ lợi ích gì khác nếu có, chỉ nên là hệ quả phụ của việc khám phá và xây dựng nhân cách mà thôi. Vị kem mà bạn thích có thể đơn giản là “vị gì cũng được”, miễn là bạn thực sự nghĩ như vậy, chứ không nên là “khoai môn cam chanh thêm sầu riêng” chỉ vì mọi người xung quanh đều thích vanila. Việc xây dựng nhân cách với một mục đích khác ngoài mục đích hoàn thiện nhân cách bản thân cũng chính là một biểu hiện của nhân cách tiêm nhiễm, vì khi đó nhân cách tự thân đã không còn là chuẩn mực đánh giá cao nhất nữa.

Thứ hai, chúng ta nên thận trọng đối với từng lời nói, hành động và quyết định của bản thân. Con người nhìn chung đánh giá cao và đòi hỏi ở nhau một sự thống nhất ở một mức độ nhất định trong lời nói và hành động. Và do đó trong mỗi cá nhân đều có một nhu cầu, hay đúng hơn là sự thôi thúc, phải đưa ra những hành vi thống nhất ở mức nào đó với những gì mình đã nói hay làm trong quá khứ. Nói theo một cách khác, từng lời nói, từng hành động, từng suy nghĩ của chúng ta đều có tác dụng định hướng nhân cách của chúng ta theo một cách nhất định, dù có thể đó không phải điều chúng ta mong muốn. Một khi chúng ta đã thể hiện một nhân cách nhất định trong một môi trường bên ngoài nào đó, thì áp lực từ môi trường ấy, dù là có thực hay tưởng tượng, sẽ luôn tìm cách trói buộc chúng ta vào nhân cách đó. Nếu như nhân cách được thể hiện không đúng với nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta đã tự tạo ra và khóa mình vào một nhân cách giả tạo, cho đến khi nào chúng ta có thể trốn thoát khỏi môi trường ban đầu, hoặc có đủ sự dũng cảm để trút bỏ nhân cách ấy.

Chúng ta hãy lấy một ví dụ đơn giản về một người giáo viên trước mặt học sinh luôn tỏ vẻ, hay thậm chí tin tưởng, rằng mình biết nhiều hơn học sinh, đúng hơn học sinh, và đáng được học sinh tôn trọng. Khi đó, áp lực từ xung quanh, mà trong trường hợp này chúng ta thường gọi là sự sĩ diện, sẽ khiến cho người giáo viên đó không thể chấp nhận được rằng mình có thể biết ít hơn học sinh, không đúng bằng học sinh, hay không được học sinh tôn trọng, kể cả khi đó là sự thật. Sự mâu thuẫn giữa hình ảnh về bản thân trong tâm trí với bản thân của hiện thực sẽ tạo nên sự xung đột trong nội tâm người giáo viên, khiến người đó cảm thấy mất khả năng kiểm soát đối với cuộc sống, và chỉ có thể được giải quyết khi người đó chịu từ bỏ nhân cách giả tạo của mình. Chính vì lẽ đó, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta nên chủ động trung thực với chính mình: nếu bạn ích kỷ, hãy nói rằng mình ích kỷ, nếu bạn ganh tị, hãy nói rằng mình ganh tị, nếu bạn kém cỏi, hãy nói rằng mình kém cỏi,… Điều này sẽ giúp cho tâm lý của chúng ta được thoải mái hơn rất nhiều.


Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhân cách là một khái niệm có vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tinh thần của mỗi con người. Có thể nói rằng, nhân cách là sự tổng hợp tất cả “tính người” của một cá nhân, là phần “người” trong “con người”. Nhân cách tự thân, song hành cùng với ý chí tự do, là điều làm nên sự khác biệt giữa một con người với một cỗ máy hay một con vật. Tuy nhiên, nếu như không được để ý phát hiện, xây dựng, bảo vệ và sử dụng thì nhân cách tự thân của chúng ta có thể sẽ trở nên yếu ớt, lép vế trước sự xâm lấn của nhân cách tiêm nhiễm. Nếu như chúng ta để cho nhân cách tiêm nhiễm lấn át hoàn toàn nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta tự đánh mất bản sắc con người cùng với những suy nghĩ và cảm xúc chân thực của bản thân, và quan trọng hơn cả là đánh mất tự do tư tưởng của chính mình.

Cá nhân và tập thể

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

1. Cá nhân và tập thể

“Cá” (個) chỉ sự đơn lẻ, riêng lẻ (cá tính, cá biệt). “Nhân” (人) chỉ con người. “Cá nhân” là một con người riêng lẻ thể hiện bằng một ý chí và nhân cách riêng biệt, thống nhất và độc lập ở mức độ nhất định với xung quanh. Một đứa trẻ mới hình thành trong bụng mẹ tuy về mặt sinh học hoặc đạo đức có thể được coi là một con người, nhưng chưa phải là một “cá nhân” vì chưa thể hiện được ý chí và nhân cách của riêng mình. Ngược lại, đối với một người thần kinh phân liệt đa nhân cách thì có thể nói rằng trong một cơ thể người đó tồn tại nhiều “cá nhân” khác nhau.

“Tập” (集) chỉ sự tụ họp lại, gom góp lại (tập hợp, tuyển tập). “Thể” (体) chỉ cơ thể, thân mình (thể dục, bản thể). “Tập thể” (người) là một nhóm người có một sự liên kết nào đó với nhau, tập hợp lại làm nên một “cơ thể” có sự kết nối ở một mức độ nhất định. Ví dụ về “tập thể” là xã hội, quốc gia, dân tộc, làng xã, doanh nghiệp, gia đình… Ở đây tôi chỉ xét khía cạnh con người mà bỏ qua khía cạnh đất đai, tài sản,… của các khái niệm này.

Cá nhân là đơn vị xây nên và là nền tảng cốt lõi của tập thể. Trên lý thuyết một cá nhân có thể không tham gia vào bất cứ tập thể nào, nhưng không có tập thể nào tồn tại mà không cần đến cá nhân. Nhìn theo một cách nào đó, tập thể chỉ là một cái mác dùng để gọi tên, phân loại hay nhận dạng các cá nhân. Trong thực tế, có thể nói rằng tập thể không hề tồn tại với tư cách một thực thể hay một ý chí riêng biệt và thống nhất hoàn toàn như cá nhân.

“Ý chí tập thể”, nếu có tồn tại một thứ như vậy, thực chất chỉ là kết quả còn lại của sự tranh đấu, điều khiển, thỏa hiệp và đồng thuận tạm thời giữa các ý chí cá nhân trong tập thể. Sự thống nhất một cách hoàn toàn ý chí của tất cả các cá nhân trong tập thể thành một ý chí duy nhất là việc rất hiếm và chỉ có thể đạt được ở một thời điểm và một khía cạnh hạn hẹp nào đó. Giả sử bằng một cách nào đó sự thống nhất ấy được kéo dài và mở rộng ra mọi mặt, thì lập tức có thể nói rằng ý chí cá nhân đã biến mất, và “cá nhân” mất ý nghĩa tồn tại. Tương tự như vậy, “lợi ích tập thể” cũng đơn giản chỉ là tổng thể các lợi ích riêng lẻ của tất cả, hay ít nhất là đa số, các cá nhân trong tập thể.

2. Sự tham gia của cá nhân vào tập thể

Vậy tại sao cá nhân lại tụ tập lại để làm nên tập thể mới, hoặc tham gia vào một tập thể có sẵn? Nhiều lý do có thể được đưa ra để giải thích cho điều đó. Thứ nhất, việc hợp tác và góp chung công sức và tài nguyên với các cá nhân khác thay vì hoạt động đơn lẻ thường sẽ đem lại hiệu quả lớn hơn trong việc đạt tới các mục đích của từng cá nhân, trong đó có sinh tồn. Điều này có thể thấy khi con người phải đối mặt với những thử thách vượt quá khả năng của từng cá nhân riêng lẻ như săn bắt các loài thú to lớn và nguy hiểm.

Thứ hai, sự chênh lệch quyền lực giữa con người và thiên nhiên xung quanh là quá lớn, do đó nếu như cá nhân ý thức được một cách toàn bộ sự nhỏ bé của bản thân trước thiên nhiên và những rủi ro mà thiên nhiên lẫn những cá nhân khác có thể mang lại, thì sẽ có thể dẫn đến một cảm giác tuyệt vọng và sợ hãi tột độ. Việc cảm thấy thuộc về và được bảo vệ bởi một cái gì đó lớn hơn thay vì phải tự chịu trách nhiệm toàn bộ đối với bản thân đem lại cho tâm lý cá nhân một cảm giác yên tâm và nhẹ nhõm phần nào.

Thứ ba, việc giao tiếp với những cá nhân khác trong tập thể giúp thỏa mãn nhu cầu kết nối và yêu thương của mỗi cá nhân. Việc nhu cầu này là nguyên nhân khiến con người sống thành bầy đàn, hay chính vì sống thành bầy đàn quá lâu mà ở con người xuất hiện nhu cầu này là việc khó khẳng định được, nhưng sự tồn tại của nhu cầu giao tiếp với các cá nhân khác là điều mọi người đều có thể cảm nhận thấy.

Những lý do nói trên có thể đem lại hiểu lầm rằng việc tham gia vào tập thể chỉ là một lựa chọn có lợi hơn trong nhiều lựa chọn cùng có thể đảm bảo sự sinh tồn của cá nhân. Trên thực tế, tự cổ chí kim tuyệt đại đa số các cá nhân con người ngay từ khi chào đời đều buộc phải tham gia vào các tập thể nếu muốn bảo toàn sinh mạng của bản thân. Con người trong một thời gian tương đối dài sau khi sinh ra không thể tự mình sinh tồn mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của đồng loại xung quanh. Do vậy ngay khi sinh ra cá nhân không có lựa chọn nào khác là tham gia vào một gia đình hoặc một bộ tộc nào đó. Nói đúng hơn, ở thời điểm đó cá nhân còn chưa ý thức được bản thân với tư cách là một cá nhân, nên không phải là cá nhân không có sự lựa chọn, mà là cá nhân còn chưa tồn tại rõ ràng và do đó không hề và không thể lựa chọn.

Nhưng kể cả khi cá nhân đã trưởng thành và ý thức đầy đủ về nhân cách bản thân mình, tách biệt khỏi tự nhiên và các cá nhân xung quanh, thì việc lựa chọn không tham gia vào các tập thể cũng không hề dễ dàng hơn chút nào. Trước đây, khi những đường biên giới còn chưa rạch ròi, khả năng áp đặt quyền lực của các tập thể còn hạn chế, và vẫn còn nhiều mảnh đất vô chủ có thể nuôi sống con người, thì một cá nhân có thể đặt bản thân ra khỏi tất cả mọi tập thể và sống đơn lẻ một mình nếu đủ khả năng. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay bề mặt Trái Đất hầu như đã không còn vùng đất màu mỡ nào không bị tuyên bố chủ quyền bởi một hay thậm chí một vài quốc gia hay xã hội khác nhau, với các lực lượng hành pháp chuyên nghiệp và tầm bao phủ rộng lớn. Cá nhân dù muốn tách mình ra khỏi các tập thể này, cũng vẫn sẽ phải chịu rủi ro bị áp đặt các luật lệ bằng nhiều biện pháp, trong đó có bạo lực, từ phía các tập thể mà mình không hề mong muốn tham gia.

Đối với một số phân loại tập thể nhất định, việc thay đổi tập thể mà cá nhân muốn tham gia cũng gặp rất nhiều khó khăn. Ở thời điểm hiện tại luật pháp của hầu hết tất cả các quốc gia đều không công nhận việc thay đổi gia đình đối với trẻ vị thành niên, trừ một số trường hợp đặc biệt như nhận cô nhi làm con nuôi. Thậm chí ở một số nước, trẻ em tìm cách thoát khỏi gia đình hiện tại có thể bị cưỡng chế đưa về gia đình hoặc tệ hơn là các cơ sở công cộng, chứ không được phép lựa chọn một gia đình mới. Ngoài ra, việc thay đổi cộng đồng sinh sống trong cùng một quốc gia có thể là tương đối dễ dàng, nhưng việc di cư và trở thành công dân một quốc gia khác thì thường đòi hỏi một lượng tài nguyên rất lớn cả về năng lực, tài chính và thời gian, kèm theo đó là các rủi ro và khả năng bị tập thể mới từ chối không cho gia nhập. Như vậy, bên cạnh những tập thể mà cá nhân có thể lựa chọn tham gia, không tham gia hay rút khỏi một cách tương đối tự do, cũng có một số tập thể mà việc từ chối tham gia hay tìm cách thoát khỏi có thể dẫn đến việc tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc quyền lợi của cá nhân bị đe dọa nghiêm trọng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong đó hai ví dụ cụ thể là gia đình và quốc gia.

3. Quyền lực kiểm soát tập thể

Như đã nói ở trên, trong thực tế không có cái gọi là “ý chí tập thể” tồn tại một cách liên tục và thống nhất ở mức độ như ý chí cá nhân. Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy các tập thể đưa ra các quyết định và hành động nhân danh tất cả các cá nhân trong tập thể đó. Vậy ý chí đưa ra những quyết định đó dựa vào cơ sở nào để có thể ra quyết định thay cho cả tập thể, hay đúng hơn là áp đặt quyết định của mình lên cả tập thể? Quan sát từ tất cả các tập thể từ trước tới nay, thì xét đến cùng yếu tố tiến gần nhất tới việc đảm bảo cho khả năng đó là bạo lực, hay đúng hơn, là sự hủy diệt. Điều này có thể dễ dàng thấy được trong những tập thể vốn chấp nhận yếu tố bạo lực như quân đội, tội phạm có tổ chức, hay các thể chế nhà nước thời cổ. Các lãnh chúa Châu Âu Trung Cổ thống trị người dân trong lãnh địa của mình bằng đội ngũ binh lính và kỵ sĩ chuyên nghiệp, và nhà vua thực chất cũng chỉ là một lãnh chúa sở hữu vũ lực mạnh hơn tất cả các lãnh chúa khác mà thôi.

Ngay cả những tập thể hoạt động trên nguyên tắc “dân chủ”, tức bỏ phiếu lấy ý kiến số đông, trên thực tế cũng dựa vào bạo lực. Bạo lực trong trường hợp này ẩn mình trong sức mạnh áp đảo của số đông so với số ít hay với từng cá nhân, và trong thực tế sẽ được thực thi một cách gián tiếp thông qua một lực lượng mang danh nghĩa đại diện cho cả tập thể. Điều này đặc biệt đúng khi quyền lợi của số đông không cho phép số ít được rời khỏi tập thể. Một cá nhân có thể thấy sự áp đặt ý chí bằng bạo lực tiềm ẩn này hoàn toàn “hợp lý”, hay thậm chí là “công bằng”, nếu như cá nhân đó ngẫu nhiên thuộc về số đông, được hưởng lợi hay ít ra là không bị ảnh hưởng từ việc áp đặt ý chí lên số ít hay cá nhân khác. Ngược lại, cũng cá nhân đó sẽ nhanh chóng thấy sự áp đặt là “bất công”, “trái đạo đức” nếu như bản thân nằm trong số các nạn nhân, nhất là khi sự áp đặt ấy đe dọa một giá trị cốt lõi nào đó của nhân cách cá nhân.

Rất may rằng ngày nay trong đa số trường hợp, đối với những tập thể mà việc tham gia mang tính tự nguyện như các doanh nghiệp hay đoàn thể, cá nhân hoàn toàn có thể tự mình rút ra khỏi tập thể mà không gặp phải sự đe dọa nghiêm trọng tới sinh mạng, sức khỏe hay tài sản ngoài những quyền lợi có được từ chính việc tham gia tập thể đó. Khi đó tập thể cũng không thể áp đặt ý chí của mình lên cá nhân nếu như không muốn gặp phải sự can thiệp từ phía một tập thể lớn hơn và quyền lực hơn là xã hội mà đại diện là nhà nước. Thế nhưng đối với những tập thể mà việc tham gia không mang tính tự nguyện và cá nhân rất khó có thể thoát khỏi như gia đình hay chính các xã hội thì sự việc sẽ thế nào? Hẳn không khó để tìm ra câu trả lời khi đứng trước hiện thực là cách các bậc cha mẹ bắt buộc con cái phải nghe lời, và cách mà các nhà nước hiện nay sử dụng các lực lượng vũ trang và bảo vệ pháp luật.

Mở rộng ra, có thể nói rằng ít nhất ở thời điểm hiện tại, trong mọi trường hợp phương pháp duy nhất có thể gần như đảm bảo chắc chắn cho một cá nhân có thể áp đặt ý chí của mình lên một cá nhân khác là sự hủy diệt, mà đại diện điển hình là bạo lực giữa người với người. Sự hủy diệt chỉ thất bại trong trường hợp nó hủy diệt chính sinh mạng của đối tượng trước khi kịp đạt đến mục đích. Có thể trong tương lai khoa học sẽ phát minh ra một phương pháp nào đó để điều khiển suy nghĩ của con người mà không cần đến bạo lực. Tuy nhiên đó vẫn sẽ là sự hủy diệt, chỉ khác ở chỗ nạn nhân của sự hủy diệt sẽ là nhân cách tự do của cá nhân mà thôi.

4. Cơ chế hoạt động cho tập thể

Hiển nhiên, nói như vậy không có nghĩa là tất cả các tập thể trong xã hội loài người hiện tại đều được điều hành bằng bạo lực. Trên thực tế có thể có rất nhiều cơ chế hoạt động khác có thể được sử dụng cho một tập thể. Quyền lực kiểm soát tập thể có thể không đến từ bạo lực mà từ các quyền lực mềm khác, hoặc từ sự giao phó của tất cả các cá nhân trong tập thể dựa trên một cơ chế nhất định. Một tập thể cũng có thể hoàn toàn không có các cá nhân nắm quyền điều hành một cách lâu dài, mà từng quyết định chung của tập thể được đưa ra bởi sự thương thảo, thỏa hiệp và đồng thuận của tất cả các cá nhân cho từng trường hợp cụ thể. Các cá nhân trong một tập thể cũng có thể đơn thuần chỉ thương lượng trực tiếp ở mức độ cá nhân với nhau, và tập thể chỉ được duy trì bởi một số nguyên tắc chung tối thiểu đã được tất cả các cá nhân cùng chấp nhận. Việc cơ chế nào có thể sử dụng được phụ thuộc vào số lượng và trình độ phát triển của các cá nhân trong tập thể đó.

Bạo lực có thể là con đường dễ dàng nhất để kiểm soát một tập thể, nhưng cũng thường là con đường kém hiệu quả nhất về mặt lâu dài. Một tập thể các cá nhân mà sự kiểm soát được duy trì và bảo vệ bằng bạo lực hoặc sự đe dọa bạo lực, hay các đe dọa về lợi ích khác sẽ không thể có được hiệu quả hoạt động bằng một tập thể trong đó mọi cá nhân đều được tôn trọng đúng mức, và sự khác biệt được giải quyết qua tranh luận, thương lượng, thỏa hiệp và đồng thuận dựa trên một số nền tảng cơ bản chung mà tất cả mọi cá nhân trong tập thể có thể cùng chấp nhận. Lý do đơn giản là vì đối với một cá nhân, việc ý chí tự do và nhân cách tự thân của bản thân bị phủ nhận, nếu như không đủ tạo nên sự phản kháng công khai, thì cũng sẽ làm mất đi phần lớn cảm giác trách nhiệm của cá nhân đối với vai trò của mình trong tập thể. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến sự giảm sút năng suất, chất lượng và tính sáng tạo trong bất cứ hoạt động nào mà cá nhân đó phụ trách.

Một cơ chế tiến bộ hơn và được sử dụng phổ biến ngày nay là lấy ý kiến số đông. Các cá nhân trong tập thể có thể vẫn sẽ không đồng thuận về các vấn đề cụ thể, nhưng điều mà tất cả các cá nhân cùng đồng thuận ở đây là một nguyên tắc ra quyết định chung. Cho đến chừng nào tất cả các cá nhân còn cùng đồng ý về điều này, thì ít nhất trên lý thuyết có thể nói rằng các quyết định chung của tập thể đều đạt được sự đồng thuận gián tiếp từ phía các cá nhân. Tuy nhiên, việc duy trì sự đồng thuận hoàn toàn và thực chất của tất cả các cá nhân trong tập thể về một nguyên tắc ra quyết định chỉ có thể đạt được nếu như cá nhân cảm thấy việc tham gia vào tập thể là tự nguyện và việc rút lui khỏi tập thể là tự do. Điều này có thể là đúng đối với các doanh nghiệp hay đoàn thể dân sự bình thường, nhưng trên thực tế là việc không thể đối với hầu hết tất cả công dân các quốc gia trên thế giới ngày nay, dù cho việc đó có là “công bằng” hay không. Và do đó, thực chất các nhà nước “dân chủ” ngày nay vẫn hoạt động dựa trên nền tảng bạo lực, dù sự lạm dụng bạo lực đã được kiểm soát ở một mức độ nhất định.

Cũng phải nói thêm rằng, một tập thể trong đó ý kiến cũng như tự do của mọi cá nhân đều được tôn trọng ở mức độ cao không hề là bất khả thi. Trên thế giới đã xuất hiện những mô hình doanh nghiệp do người lao động tự quản mà không cần đến bộ máy quản lý và lãnh đạo chuyên trách. Ở đó, các cá nhân tự thỏa thuận về trách nhiệm công việc với nhau, và quyền lực, hay nói đúng hơn là sức ảnh hưởng, của những cá nhân có vai trò lãnh đạo đều dựa trên sự tin tưởng tự nguyện của các cá nhân khác trong tập thể (tham khảo Holacracy). Trong lĩnh vực giáo dục, các mô hình trường học trong đó sự tự chủ của từng cá nhân học sinh được tôn trọng triệt để, nơi mà học sinh, giáo viên lẫn nhân viên nghiệp vụ đều bình đẳng về mặt quyền lực cũng đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới (tham khảo Sudbury school).

Những mô hình này cho đến nay tuy chưa được phổ biến rộng rãi, nhưng đã đạt được thành công ở mức nhất định, chứng minh được tính khả thi và cho thấy tiềm năng trở thành tiêu chuẩn cho các tập thể trong tương lai. Mức độ phát triển cả về năng lực lẫn nhân cách của các cá nhân trong tập thể càng cao, thì mức độ tự do và lỏng lẻo có thể đạt được mà vẫn giữ sự kết nối trong tập thể càng cao. Đó là vì hai lý do : 1. càng phát triển cao thì cá nhân càng ý thức được giá trị của tự do tư tưởng và sự tôn trọng nhân cách cá nhân đối với bản thân cũng như đối với các cá nhân khác, và 2. càng phát triển cao thì các cá nhân trong tập thể càng có thể dễ dàng tìm ra được các phương pháp giải quyết mâu thuẫn quyền lợi có hiệu quả mà không cần dùng đến bạo lực hay sự áp đặt ý chí.

Việc xóa bỏ hoàn toàn mâu thuẫn quyền lợi, ít nhất ở thời điểm hiện tại, là điều không thể, vì “quyền lợi” là một khái niệm tương đối: “quyền lợi” của người này có thể là “sự áp đặt” đối với người kia. Do đó, một tập thể lý tưởng mà trong đó tự do, nhân cách và quyền lợi của mọi cá nhân đều được tôn trọng một cách tuyệt đối có thể là không bao giờ đạt tới được, nhưng đó là cái đích mà chúng ta nên nhắm tới, tương tự như việc khoa học nhắm tới chân lý khách quan tuyệt đối của vũ trụ vậy.

5. Kết luận

Tất cả những điều lảm nhảm tôi viết ra ở trên đây không phải là những phát hiện mới mẻ hay có giá trị gì, mà đơn giản chúng chỉ là nền tảng lý luận cho một số quan điểm của riêng tôi như sau:

  • Tập thể đơn giản chỉ là một nhóm các cá nhân, trong đó mỗi cá nhân có ý chí và lợi ích của riêng mình. Do đó việc cho rằng tập thể “thiêng liêng” hơn cá nhân, ý chí của tập thể “đứng trên” ý chí cá nhân, lợi ích của tập thể “phải được ưu tiên” hơn lợi ích cá nhân là điều vô nghĩa và vô căn cứ về mặt đạo đức. Mọi cá nhân nên và cần tôn trọng bản thân trước tiên, sống bằng ý chí của chính mình, và lấy việc phục vụ lợi ích của bản thân làm đầu. “Lợi ích tập thể” chỉ nên được xét đến khi nó gián tiếp phục vụ lợi ích của cá nhân, và điều đó cũng phải do mỗi cá nhân tự đánh giá.
  • Nếu như một cá nhân không được tự do lựa chọn việc tham gia hay rút khỏi tập thể, thì cá nhân đó cũng không có nghĩa vụ về mặt đạo đức phải tuân theo những quyết định và luật lệ của tập thể. Do đó, trẻ em không có nghĩa vụ đạo đức phải tuân thủ lời nói của cha mẹ, và người dân không có nghĩa vụ đạo đức phải tuân thủ luật pháp của quốc gia mình sinh sống, trừ khi người đó đã lựa chọn di cư tới quốc gia ấy trước.
  • Khi chúng ta thuộc về số ít, hãy nhớ rằng số đông cũng chỉ là tập hợp những kẻ chạy theo lợi ích của bản thân, chứ không hề sở hữu đạo đức hay trí tuệ ghê gớm nào. Khi chúng ta thuộc về số đông, hãy nhớ rằng số ít rất có thể đang cảm thấy bị chúng ta chèn ép, mà không có con đường nào để thoát ra được.
  • Vì cá nhân là nền tảng cốt lõi làm nên tập thể, nên cách thực chất và lâu bền nhất để xây dựng nên một tập thể tốt hơn là nuôi dưỡng nên những cá nhân tốt hơn. Mặt bằng phát triển chung của các cá nhân trong tập thể sẽ quyết định bản chất cơ chế hoạt động trong thực tế của tập thể, bất chấp cơ chế đó có được đặt tên như thế nào. Ở đây, mức độ “tốt” của tập thể được đánh giá bằng mức độ áp đặt trong việc điều hành tập thể, và mức độ “tốt” của cá nhân được đánh giá bằng mức độ áp đặt trong cách cá nhân đó đối xử với xung quanh và với bản thân.

Bàn về trẻ em

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “The Psychology of Freedom” của Peter R. Breggin.

1. Trẻ em nợ cha mẹ những gì?

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Bài ca dao này nếu tôi nhớ không nhầm thì mọi trẻ em Việt Nam đều được dạy ngay từ bậc tiểu học. Diễn giải ra một cách đơn giản, nó nói rằng công ơn của cha mẹ đối với con cái rất to lớn nên con cái có nghĩa vụ đạo đức phải chăm sóc và thờ phụng cha mẹ. Để tiết kiệm thời gian, tôi xin nói toạc luôn: tôi không nghĩ như vậy. Cụ thể, tôi không nghĩ rằng con cái phải mang một nghĩa vụ đạo đức đối với cha mẹ chỉ vì lý do cha mẹ đã sinh ra và nuôi nấng con cái đến khi trưởng thành. Bạn có quyền im lặng đọc tiếp, hoặc đóng trang này bất cứ khi nào. Tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ thiệt hại tinh thần nào phát sinh do việc đọc tiếp những dòng dưới đây.

Hãy thử tưởng tượng, bạn đang ngon giấc ngủ thì bỗng dưng bị một nhóm người ngoài hành tinh lôi tuột đến một thế giới hoàn toàn xa lạ. Bạn tỉnh dậy và thấy mình bị nhốt trong một cái lồng bằng xương thịt, vây quanh bởi những con người cao to gấp mấy lần bạn. Họ cho bạn ăn uống, chăm sóc các nhu cầu của bạn, dạy bạn những kỹ năng và hiểu biết của thế giới họ, nhưng đồng thời họ cũng sai khiến bạn, cấm đoán bạn, thậm chí sử dụng bạo lực với bạn. Nhưng bạn chấp nhận vì lờ mờ hiểu rằng bạn sẽ khó có thể sinh tồn được ở thế giới mới nếu như không có họ. Sau một thời gian, họ bảo với bạn rằng họ có công mang bạn đến thế giới này, giữ cho bạn sống đến ngày nay, và do đó bạn có nghĩa vụ phải nghe lời, kính trọng và phụng dưỡng họ suốt đời. Bạn sẽ cảm thấy thế nào?

Ví dụ so sánh mà tôi đưa ra có phần cực đoan và thiếu chuẩn xác, nhưng điều tôi muốn nói lên ở đây rất đơn giản: trẻ em không có quyền được lựa chọn việc sinh ra hay không, ở đâu, và bởi ai. Vì sao trẻ em lại được sinh ra? Phải chăng một ngày nào đó những đứa trẻ hiện lên trong giấc mơ của cha mẹ chúng và cầu xin được sinh ra trên đời? Phải chăng đứa trẻ tương lai sẽ được hỏi ý kiến trước xem có muốn được sinh ra hay không? Hay phải chăng, tất cả trẻ em đều bị cưỡng ép sinh ra từ những mong muốn đơn phương của người lớn? Ngày xưa, đa số trẻ em được sinh ra là để dùng làm lao động miễn phí trong gia đình. Ngày nay, phần đông trẻ em, nhất là ở các vùng đô thị, được sinh ra là để phục vụ nhu cầu tình cảm và quyền lực của cha mẹ các em. Về mặt đạo đức, chúng ta không có bất cứ nghĩa vụ gì đối với một quyết định mà chúng ta hoàn toàn không có tiếng nói. Và do đó, trẻ em không có nghĩa vụ phải mang ơn cha mẹ chúng chỉ vì đã được sinh ra trên đời.

Vậy còn công lao nuôi nấng chăm sóc thì sao? Quan điểm của tôi là đó là nghĩa vụ đạo đức mà cha mẹ phải thực hiện, là trách nhiệm tối thiểu đối với quyết định sinh ra con cái. Nếu như bạn không có đủ thu nhập để trả tiền xăng xe bảo dưỡng thì đừng mua ô tô. Tương tự nếu như bạn không sẵn sàng dành ra lượng tài sản vật chất và năng lượng tinh thần cần thiết để nuôi nấng con cái cho đến khi chúng có thể tự lập, thì đừng có sinh con. Chúng ta hẳn đều đồng ý rằng việc sinh con ra rồi không nuôi nấng tử tế là một việc làm vô trách nhiệm. Nhưng nếu như việc nuôi con đã là nghĩa vụ chúng ta tự tạo ra cho mình, thì cớ gì chúng ta lại còn muốn bắt trẻ em phải chịu ơn khi chúng ta thực hiện nghĩa vụ đạo đức đó? Nuôi con là một quyết định có trách nhiệm hay là một sự ban ơn? Đó là chưa kể, ai dám chắc rằng cái mà chúng ta tự cho là công ơn đó có thực sự được đánh giá cao trong mắt con cái hay không?

Trước khi mọi người nhao nhao lên đấu tố tôi là kẻ vô đạo đức, vô nhân tính, vô ơn bạc nghĩa nọ kia, tôi xin giải thích thêm thế này. Thứ nhất, bài viết này tôi dành chủ yếu cho các bậc cha mẹ trẻ hay cha mẹ tương lai, để mong rằng các bạn cư xử với con cái mình một cách nhân văn và rộng lượng hơn cái cách mà chúng ta vẫn đối xử với trẻ em từ trước đến nay. Tôi không viết bài này để xúi bẩy “giai cấp trẻ em toàn thế giới đoàn kết lại” nhằm chống đối cha mẹ. Trên thực tế, một đứa trẻ dù có suy nghĩ được những điều như trên và dám nói được ra, thì cũng nhẹ là bị trách móc hay chiến tranh lạnh, nặng thì có thể bị chửi mắng hay đánh đập. Do vậy nhìn từ phía những đứa trẻ còn phụ thuộc cha mẹ, việc “thờ mẹ kính cha” thường là một lựa chọn khôn ngoan hơn, đơn giản vì nó phục vụ tốt hơn cho lợi ích lâu dài của các em.

Thứ hai, quan trọng hơn, con cái không có nghĩa vụ đạo đức đối với cha mẹ không có nghĩa là con cái sẽ không tự mình nhận trách nhiệm kính trọng và phụng dưỡng cha mẹ. Dù muốn dù không, đối với đại đa số chúng ta cha mẹ vẫn là những người gần gũi nhất và có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với bản thân. Mười mấy năm chung sống, chăm sóc, khuyên bảo và yêu thương là quá đủ để tạo nên một mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ ràng buộc con cái với cha mẹ. Con cái vẫn có thể, và tôi tin là phần đông vẫn sẽ tự lựa chọn việc “làm tròn chữ hiếu” ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, việc “có hiếu” hay không, và bằng cách nào, là hoàn toàn do những đứa con tự mình cảm nhận và quyết định, chứ không phải do sự tẩy não và áp lực từ bên ngoài. Còn nếu như sau cả chục năm mà chúng ta vẫn không thể tạo nên được một sợi dây tình cảm đủ bền chặt, thì có lẽ trước hết chúng ta nên tự nhìn lại xem mình đã xứng đáng với sự kính trọng và phụng dưỡng của con cái hay chưa.

2. Quyền làm người của trẻ em

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Hẳn người Việt Nam ai cũng biết câu nói trên nằm trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng trích dẫn. Và có lẽ khi đọc những dòng đó, ai cũng cảm thấy nó thật đúng đắn, thật chân lý, ai phản đối thì thật là kẻ vô đạo đức lắm lắm. Đúng thế, tất cả mọi người đều bình đẳng, chỉ trừ một vài ngoại lệ là bọn nô lệ, bọn da đen và bọn đàn bà. Đó là thực trạng của xã hội Mỹ sau khi giành được độc lập từ nước Anh. Đến nay, sự ngược đãi và bất công mà những giai cấp người này phải chịu phần lớn đã được công nhận và loại bỏ dần. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn bỏ sót một “ngoại lệ” khác nữa, đó là bọn trẻ con. Theo tôi, trẻ em có lẽ là giai cấp bị ngược đãi trầm trọng nhất trong xã hội loài người tự cổ chí kim. Lý do rất đơn giản: trong mỗi giai cấp bị ngược đãi hầu như bao giờ cũng có một bộ phận là trẻ em, và trẻ em thường phải chịu sự ngược đãi lớn hơn vì không có sức phản kháng.

Vậy cụ thể trong xã hội hiện nay trẻ em đang phải chịu sự ngược đãi như thế nào? Ngược đãi không nhất thiết phải là xâm phạm đến thể xác. Trẻ em ngày nay vẫn hàng ngày bị ngược đãi về tinh thần bằng việc bị tước đoạt tự do tư tưởng, bị cưỡng ép làm những việc mình không muốn, bị bôi nhọ và hạ thấp nhân phẩm,… Có bao nhiêu đứa trẻ đang hàng ngày bị người lớn áp đặt đủ thứ luật lệ tùy thích với danh nghĩa “đạo đức”, “truyền thống”, “gia phong” và “giáo dục”? Có bao nhiêu đứa trẻ bị bắt đến trường, bị bắt ngồi yên một chỗ, bị bắt học những thứ vô nghĩa, bị bắt làm những thứ vô nghĩa, dù cho các em không muốn? Có bao nhiêu đứa trẻ bị nói thẳng vào mặt là “ngu”, là “dốt”, là “hư đốn”, là “mất dạy” chỉ vì các em làm trái ý người lớn? Trong thực tế, cho đến tận ngày nay chỉ cần không đi quá đà thì mọi cha mẹ đều có thể dùng bạo lực thể chất và tinh thần để “dạy bảo” con cái mà không lo bị gắn mác “ngược đãi”.

Tại sao chúng ta có thể vừa rao giảng những điều đạo đức tốt đẹp, đồng thời lại vừa ngược đãi trẻ em? Sự mâu thuẫn đó có thể được lý giải tương tự như đối với những người nô lệ ngày trước : đó là trong đại đa số trường hợp, trẻ em không được coi là “người”, mà là một cái gì đó “dưới người” một chút. Điều đó được thể hiện qua sự phân biệt đối xử rõ ràng giữa trẻ em và người lớn: Chúng ta dễ dàng chấp nhận việc cha mẹ đánh đòn hoặc mắng mỏ con cái hơn nhiều so với việc người chồng đánh đập hay lăng mạ người vợ. Chúng ta có thể lên án một doanh nghiệp có hành vi bạo lực với người lao động, nhưng lại có thể ủng hộ hay thông cảm với việc giáo viên phạt đòn học sinh. Chúng ta chẳng ai rỗi hơi bắt một người lớn phải học nọ học kia, nhưng sẵn sàng cưỡng ép trẻ em phải đến trường để học thứ chúng ta muốn. Người lớn có thể đòi hỏi tự do và quyền lợi cho bản thân, trong khi nhiều đứa trẻ đến cả việc đáp ứng nhu cầu ăn/ngủ/mặc cũng không được theo ý mình.

Tại sao trẻ em lại không được coi “là người”? Đơn giản đó là vì các em khác chúng ta: các em yếu ớt hơn, kém hiểu biết hơn chúng ta. Và có lẽ đó cũng là lý do duy nhất cho việc chúng ta ngược đãi trẻ em: vì chúng ta có thể. Trẻ em là một trong số rất ít giai cấp người gần như hoàn toàn không có khả năng tự bảo vệ mình cả về mặt thể xác lẫn tinh thần. Các em bị vây quanh bởi những con người cao to hơn các em, khỏe mạnh hơn các em. Cuộc sống của các em phụ thuộc vào họ. Bản năng khiến các em khao khát sự yêu thương và công nhận từ họ. Và chúng ta lợi dụng điều đó. Chúng ta đánh đập, chửi mắng, cưỡng ép trẻ em vì biết rằng các em không thể, và không dám phản ứng lại, cả vì sợ hãi, cả vì bất lực, và cả vì để bảo vệ chính sự sống của mình. Chúng ta chỉ ngừng ngược đãi trẻ em khi các em trở nên khỏe mạnh hơn chúng ta, độc lập khỏi chúng ta cả về tài chính và tinh thần. Tức là chúng ta chỉ dừng lại khi chúng ta biết rằng các em không còn sợ chúng ta nữa, và ngược lại chúng ta biết sợ sự phản kháng từ phía các em.

Đó có phải là một cách suy nghĩ có đạo đức hay không? Chúng ta nên nhớ rằng, trẻ em không lựa chọn việc sinh ra trong một cơ thể và tâm hồn non nớt yếu đuối, mà là chúng ta tạo ra trẻ em như vậy. Tại sao một người bị thần kinh ngớ ngẩn thì nhận được sự cảm thương của xã hội, còn sự yếu ớt của trẻ em thì lại trở thành cái cớ để khinh thị và ngược đãi? Nếu nói rằng trẻ em không làm ra của cải và phải phụ thuộc vào xung quanh, vậy thì một người tàn tật không thể lao động có xứng được coi là con người hay không? Có thể là do tôi lười suy nghĩ hay có sẵn thiên kiến, nhưng cá nhân tôi không thể tìm ra được một lý do đạo đức nào cho việc xếp trẻ em đứng dưới người lớn trong tư cách một con người. Mọi trẻ em đều là con người, với đầy đủ quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Và chúng ta có nghĩa vụ đạo đức phải đối xử tương xứng với các em, ít ra là chừng nào chính chúng ta còn đòi hỏi cũng những quyền lợi đó cho bản thân mình.

3. Chưa biết suy nghĩ, thế thì sao?

Ở đây tôi muốn đào sâu hơn vào một trong những lý do phổ biến nhất mà người lớn, đặc biệt là các bậc cha mẹ, thường đưa ra để phớt lờ và coi thường ý kiến của trẻ em, và nhiều khi là áp đặt ý kiến của mình. Đó là vì trẻ em “chưa biết nghĩ”, “chưa đủ chín chắn” hay thậm chí là “vô tư”. Khoan nói đến chuyện trẻ em có thực sự “vô tư”, “thiếu suy nghĩ” hay không, tôi chỉ muốn hỏi một câu muôn thuở: thế thì sao? Tại sao việc trẻ em chưa đủ khả năng suy nghĩ lại trở thành lý do để tước đi quyền tự do suy nghĩ và định đoạt của các em?

Nếu chúng ta cho rằng làm như thế là vì lợi ích của trẻ em, thì điều đó cũng tương tự với việc đánh gãy chân ai đó để người đó không bước nổi ra khỏi nhà và như vậy sẽ được an toàn. Quyền tự do suy nghĩ và tự định đoạt đối với bản thân là một trong những quyền lợi cơ bản và tối thượng của mọi con người, không cứ gì là trẻ em. Hành vi tước đoạt quyền tự do tư tưởng tương đương với việc hủy hoại nhân cách và chà đạp lên quyền làm người của đối phương. Việc cảm thấy bị tước đoạt tự do có tác động tiêu cực nặng nề, trực tiếp và lâu dài về mặt tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em. Nếu một người tự cho rằng mình không cho trẻ em quyền tự định đoạt là vì lợi ích của các em, thì tôi nghĩ rằng hoặc người đó có cái nhìn lệch lạc về con người, hoặc đơn giản người đó thực chất chỉ muốn phục vụ lợi ích của bản thân mà thôi.

Nếu chúng ta cho rằng phải đợi đến khi trẻ em “biết suy nghĩ chín chắn” rồi mới nên để các em được tự mình suy nghĩ, thì chúng ta cũng nên yêu cầu tất cả mọi người phải biết nấu cỗ Tết rồi mới được vào bếp, biết may áo dài rồi mới được đụng đến kim chỉ, và biết đua xe mô tô rồi mới được tập xe đạp. Trẻ em không phải cứ đến tuổi là đùng một cái biết suy nghĩ “như người lớn”. Như mọi kỹ năng khác, việc cân nhắc, ra quyết định, và chịu trách nhiệm về quyết định của bản thân là một năng lực cần phải được xây đắp bằng kinh nghiệm thực tiễn. Trẻ em cần được để cho tự do suy nghĩ và định đoạt những vấn đề của bản thân, và vấp ngã nếu sai lầm, vì đó là cách duy nhất để xây dựng nên bản lĩnh sống của các em. Việc “bảo vệ” trẻ em bằng cách ngăn cản các em tự định đoạt những vấn đề của bản thân là một vòng xoáy tiêu cực: chúng ta càng ngăn cản các em tự quyết, các em càng thiếu kinh nghiệm và năng lực tự quyết, và chúng ta không thể bảo vệ các em cả đời được.

Và cuối cùng, tôi tin rằng không có một đứa trẻ nào thực sự “vô tư” cả. Đó chỉ là sự đánh giá một chiều từ tiêu chuẩn và góc nhìn của người lớn. Từ khi mới sinh ra cho đến khi trưởng thành, mọi đứa trẻ đều sống như một người lớn, tức là có những giây phút bông đùa vô tư lự, và có những giây phút hoàn toàn nghiêm túc. Một đứa trẻ bắt chước những động tác siêu nhân một cách vụng về không phải là đang đùa giỡn, mà thực sự tin rằng mình đang làm giống hệt trên phim, rằng trông mình đang rất “oách”. Một đứa trẻ nói rằng sau này muốn trở thành bác sĩ hay bộ đội không phải là đang mơ mộng ngây thơ, mà đó là một mong muốn có suy nghĩ, dù là có thể đơn giản so với người lớn. Những đứa trẻ đó khi lớn lên có thể sẽ thay đổi suy nghĩ, và có thể sẽ cảm thấy xấu hổ hay hối hận về những việc mình đã nói hay làm, nhưng đó là chuyện của tương lai xa xôi sau này. Tại thởi điểm quyết định, rất có thể các em hoàn toàn nghiêm túc, và điều đó nên được tôn trọng.

4. Đối xử với trẻ em thế nào?

Vậy, người lớn chúng ta nên đối xử với trẻ em như thế nào? Câu trả lời rất đơn giản: như đối với bất cứ con người nào khác, không hơn, không kém. Điều đó có nghĩa là về nguyên tắc chúng ta không được quyền ngăn cản trẻ em hưởng thụ những quyền lợi mà mọi người khác được hưởng, cũng như không nên che chở trẻ em khỏi những trách nhiệm mà mọi người khác phải gánh vác. Đứng trên phương diện cá nhân, về cơ bản điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải tôn trọng nhân phẩm và quyền tự quyết của trẻ em trong mọi hoàn cảnh, và để cho trẻ em chịu trách nhiệm nhiều hơn về cuộc sống của bản thân, từ những việc nhỏ nhặt như ăn/mặc/ngủ, cho đến việc học tập, lao động, và nhất là khắc phục những sai lầm của bản thân.

Có thể sẽ có người lo lắng rằng tôn trọng tự do của trẻ em là nuông chiều thái quá. Tôi không nghĩ là như vậy. Tôn trọng tự do của trẻ em không có nghĩa là chúng ta phải làm theo mọi điều trẻ em muốn. Chúng ta cũng là con người và có quyền tự do của chúng ta, và do đó chúng ta có quyền không làm những gì mình không muốn, miễn là điều đó không đi ngược lại với nghĩa vụ đạo đức của bản thân. Đối với các bậc cha mẹ, nghĩa vụ đạo đức đó là việc đảm bảo những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu để đứa con có thể sống và trưởng thành một cách khỏe mạnh. Những nhu cầu tối thiểu đó bao gồm một chỗ ở, các nhu yếu phẩm, sự bảo vệ trước đe dọa bên ngoài, và một tình yêu thường xuyên và vô điều kiện. Chúng ta không cần phải mua cho trẻ em những thiết bị hay đồ chơi đắt tiền nếu không muốn. Nhưng ngược lại chúng ta cũng không có quyền ngăn cấm trẻ em tự mình có được những thứ đó chỉ vì chúng ta không muốn cho các em sở hữu chúng.

Vậy khi nào thì người lớn “được quyền” có hành vi cưỡng chế đối với trẻ em? Cá nhân tôi cho rằng một hành vi như vậy chỉ được chấp nhận trong trường hợp an toàn tính mạng và sức khỏe của đứa trẻ hoặc của một ai đó khác đang bị đe dọa một cách trực tiếp và rõ ràng, ví dụ như khi đứa trẻ đùa nghịch với điện hay dao kéo. Điều đó có nghĩa là việc một đứa trẻ không chịu ăn hết khẩu phần hay thậm chí là nhịn đói một vài bữa không phải là lý do chính đáng để chúng ta bắt ép đứa trẻ đó phải ăn dù nó không muốn. Thêm vào đó, kể cả khi chúng ta có lý do chính đáng để cưỡng chế trẻ em, chúng ta cũng nên ý thức được rằng đó là một hành vi tuy cần phải làm, nhưng vẫn là vi phạm đến nhân phẩm và tự do của các em, và do đó nên được thực hiện với một sự giải thích rõ ràng và thái độ cảm thông. Tất cả những điều này cũng là cách mà chúng ta nên ứng xử với bất kỳ con người nào khác, chứ không phải là một sự đối xử đặc biệt dành cho trẻ em.


Nếu như có ai cảm thấy những điều tôi viết ra ở đây tước đi quá nhiều, nếu không phải là toàn bộ, quyền lực của cha mẹ với con cái, thì tôi xin nhắc lại một lần nữa: trẻ em không có bất kỳ một nghĩa vụ đạo đức nào đối với bất kỳ ai chỉ vì mình đã được sinh ra trên đời, và do đó ít nhất là trên phương diện đạo đức, cha mẹ hay xã hội đều không hề có một quyền lực nào đối với trẻ em cả. Nói rộng ra, không ai có nghĩa vụ đạo đức phải tuân thủ theo bất kỳ một sự áp đặt nào từ bên ngoài, trừ khi là do sự lựa chọn tự do của chính người đó, bất kể sự áp đặt đó có là “truyền thống”, “thuần phong mỹ tục”, hay thậm chí là cả pháp luật. Tất nhiên điều đó cũng có nghĩa là các bạn hoàn toàn có quyền phớt lờ những điều tôi viết và đối xử với con cái theo cách mà các bạn muốn. Vì xét cho cùng, tôi chẳng thể chịu trách nhiệm thay cho các bạn về cuộc sống của các con bạn sau này được.

Khi chúng ta xung đột

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A new psychology of freedom” của William Glasser và “Getting to Yes: Negotiating an agreement without giving in” của Roger Fisher, William Ury.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên phải đối mặt với đủ mọi loại xung đột từ lớn cho đến nhỏ với những người từ thân thiết, quen biết, cho đến hoàn toàn lạ mặt. Việc có xử lý được những xung đột này một cách suôn sẻ hay không ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc cá nhân của chúng ta. Có thể nói, kỹ năng xử lý xung đột là một kỹ năng thiết yếu của mỗi cá nhân sống trong xã hội con người. Dưới đây tôi muốn chia sẻ một số suy nghĩ của bản thân về vấn đề này.


1. Xung đột ở khắp mọi nơi

Xung đột xảy ra giữa hai hoặc nhiều bên khi niềm tin hoặc hành vi của một bên không được chấp nhận hoặc gặp phải sự chống đối bởi một hoặc nhiều bên còn lại (chôm chỉa từ Wikipedia). Xung đột có thể có nguyên nhân từ sự trùng lặp phạm vi của lợi ích, hoặc từ sự xung khắc về tư tưởng. Xung đột có thể có yếu tố bạo lực, mà cũng có thể là phi bạo lực thông qua các phương tiện xã hội thông thường. Xung đột có thể xảy ra trên phạm vi thế giới, quốc gia , cộng đồng, giữa cá nhân với nhau, hay thậm chí là bên trong nội tâm mỗi cá nhân. Xung đột là một hiện tượng rất thường thấy trong xã hội con người. Chưa nói đến những xung đột hiển hiện như xung đột sắc tộc hay xung đột quốc gia, xung đột hiện hữu ngay xung quanh chúng ta: không được trộm cướp → cứ trộm cướp → xung đột, không được ăn thịt chó → cứ thích ăn thịt chó → xung đột, mẹ muốn con ăn cơm → con không muốn ăn cơm → xung đột,… Có thể nói rằng ở đâu có con người chung sống ở đó sẽ có xung đột.

Một đặc điểm nhận dạng dễ thấy của xung đột là khi một bên A muốn một bên B làm điều gì đó mà bên B không muốn làm. Khi đó, bên A đứng trước ba lựa chọn: 1. sử dụng các biện pháp cưỡng ép để khiến cho đối phương làm theo ý mình bất kể đối phương có đồng ý hay không, 2. sử dụng các biện pháp ôn hòa để cùng đi đến một kết quả mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được, và 3. từ bỏ mong muốn của bản thân. Nhìn vào thực trạng của xã hội con người ngày nay, chúng ta hẳn không khó nhận ra lựa chọn nào đang được sử dụng nhiều nhất. Là một loài động vật mang tính xã hội cao, hạnh phúc và thịnh vượng của mỗi cá thể con người phụ thuộc rất nhiều vào những người xung quanh. Do vậy, việc một người mong muốn, yêu cầu và đi đến là bắt buộc người xung quanh hành động và suy nghĩ theo ý muốn của bản thân là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, lựa chọn đó có thực sự phục vụ tốt nhất cho lợi ích lâu dài và sâu xa của mỗi chúng ta hay không?

2. Quyền lực đến từ đâu

Tạm gác lại vấn đề xung đột, chúng ta hãy thử suy nghĩ về khái niệm “quyền lực”. Theo quan niệm của tôi, quyền lực của một con người là khả năng khiến cho người khác làm theo ý muốn của mình, bất kể là bằng phương pháp nào. Nhà nước khiến người dân làm theo ý mình bằng hệ thống pháp luật, tuyên truyền và giáo dục, đó là quyền lực. Kẻ cướp khiến nạn nhân làm theo ý mình bằng đe dọa vũ lực, đó là quyền lực. Người thông thái khiến người khác làm theo ý mình bằng lý lẽ và nhân cách, đó là quyền lực. Trẻ con khiến người lớn làm theo ý mình bằng sự đáng yêu, đó là quyền lực. Người có địa vị chính trị, kinh tế hoặc xã hội cao hơn thường có nhiều quyền lực hơn, nhưng người ở địa vị thấp hơn vẫn có thể có quyền lực của riêng mình. Giữa hai bên, việc mỗi bên đều có quyền lực nhất định đối với bên còn lại là việc bình thường và rất dễ gặp.

Nhiều người thường nghĩ rằng quyền lực của một người nằm ở bản thân người đó hoặc ở vị trí của người đó trong xã hội, trong hệ thống,… Nếu quả thực là như vậy, thì vì sao cùng một hệ thống pháp luật có người phạm tội có người không? Vì sao có lúc cha mẹ nói thì con nghe mà có lúc thì không? Đó là vì quyền lực của một người không do người đó kiểm soát, mà nằm ở những người xung quanh. Chúng ta không thể điều khiển người khác làm theo ý mình. Chúng ta chỉ có thể đưa ra yêu cầu và thúc đẩy người khác lựa chọn làm theo ý mình mà thôi. Chỉ cần đối phương lựa chọn không làm theo ý chúng ta nữa, thì quyền lực của chúng ta cũng biến mất, bất kể chúng ta có vũ lực, địa vị, lý lẽ, nhân cách hay quan hệ như thế nào. Điều này có thể thấy rõ nhất trong các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như khi con cái chống đối cha mẹ.

3. Cái giá của chiến thắng

Trở lại vấn đề chính, trong một xung đột thường ai cũng muốn giành lấy phần thắng tuyệt đối về mình. Nhưng một chiến thắng tuyệt đối không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích lớn nhất cho kẻ thắng cuộc, và thậm chí còn có thể ẩn chứa nhiều thiệt hại vô hình và rủi ro về sau. Trừ khi một bên tiêu diệt hoàn toàn bên còn lại, một chiến thắng càng triệt để và áp đảo càng có khả năng để lại thương tích sâu sắc cho người thua cuộc, từ đó dẫn đến sự thù hằn cũng như phản kháng ngấm ngầm kéo dài sau khi xung đột đã đi qua. Đó là chưa kể việc mất mát những lợi ích tiềm năng đáng lẽ có thể đạt được nếu như cả hai bên có thể cùng bàn bạc để đi đến thỏa hiệp và hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp cả hai bên bị lôi cuốn theo xung đột mà không ý thức được bản thân mình thực sự muốn đạt được điều gì. Do đó nhiều khi chiến thắng chỉ là một thứ trống rỗng và không giải quyết được những nhu cầu sâu xa của kẻ thắng cuộc.

Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về xung đột giữa xã hội với một người phạm tội. Từ những gì tôi quan sát được, đa số mọi người có cùng một phản ứng trước một tội phạm đã bị bắt: phạt nặng vào, bỏ tù nó đi, 3 năm ít quá 10 năm luôn cho bõ,… Tôi không phủ nhận giá trị của luật pháp và hình phạt, cái tôi muốn nói đến là thái độ muốn dồn kẻ thua cuộc vào đường cùng của nhiều người trong xã hội. Chúng ta nên nhớ rằng một người có đi tù thì vẫn là một thành viên xã hội, và sẽ đến lúc họ trở lại cộng đồng. Khi đó, chúng ta muốn nhận lại một con người có mong muốn hoàn lương và tái hòa nhập xã hội, hay là một con người mang trong lòng sự hận thù đối với cái xã hội đã dẫm đạp mình xuống đáy sâu? Một hệ thống công lý sử dụng các hình phạt nặng nề, hoạt động dựa trên sự sợ hãi với mục đích trả thù và răn đe có thể sẽ khiến ít người phạm tội hơn, nhưng chắc chắn sẽ tạo nên nhiều kẻ phạm tội nguy hiểm và bất trị hơn, một khi quyền lực đến từ sự sợ hãi đã mất đi tác dụng.

Đó là chưa kể, trong thời đại ngày nay đại đa số những xung đột mà chúng ta gặp phải hàng ngày thường là với những người có mối quan hệ tương đối gần gũi với chúng ta: vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè, học sinh,… Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ thực sự có quyền và có khả năng điều khiển hoàn toàn hành động và suy nghĩ của duy nhất một người, đó là chính bản thân mình. Khi một người có quan hệ gần gũi với chúng ta chấp nhận đầu hàng để kết thúc xung đột, điều đó không có nghĩa là chúng ta đã điều khiển được họ, mà là họ đã lựa chọn việc hy sinh tự do của bản thân để gìn giữ mối quan hệ giữa hai người. Nói cách khác, chúng ta đã đem mối quan hệ giữa hai người ra làm con tin để chiến thắng. Điều trái khoáy là càng những người gần gũi với chúng ta, chúng ta càng có xu hướng cho rằng họ là vật sở hữu của bản thân và do đó chúng ta có quyền sử dụng mối quan hệ giữa chúng ta với họ để điều khiển họ làm theo ý mình. Điều này có thể thấy rõ nhất ở mối quan hệ giữa bố mẹ với con cái và vợ chồng với nhau.

Nhưng một chiến thắng trong những xung đột như vậy có thể đem lại những hậu quả gì? Sự tự chủ trong suy nghĩ là nền tảng then chốt làm nên nhân cách con người. Việc bị cướp mất quyền tự chủ thông qua việc bị bắt làm một điều mình không muốn là một đòn đánh rất nặng vào tâm lý của nạn nhân, nặng hơn rất nhiều những gì người ngoài có thể thấy được. Để giảm thiểu thiệt hại tinh thần, người đó có thể phản ứng bằng cách 1. tự triệt tiêu đi quyền tự chủ và tự do của bản thân, phản ứng thường thấy ở những người yếu thế như trẻ nhỏ, hoặc 2. tìm cách giảm bớt quyền lực của mối quan hệ đang bị lợi dụng trong thế giới nội tâm của mình. Điều đó có nghĩa là, mỗi khi chúng ta bắt ép một người làm một điều họ thực sự không muốn, thì tức là chúng ta đang bào mòn nhân cách của họ, hoặc bào mòn mối quan hệ giữa họ với chúng ta, hoặc là cả hai.

Một người, một khi đã tự mình từ bỏ tự do tư tưởng, sẽ chôn sâu nhân cách thực xuống đáy tâm hồn và sống bằng một nhân cách giả tạo như một con rối, để tránh cho bản thân phải nhận thêm thương tổn từ trách nhiệm với hành động và suy nghĩ của chính mình. Một nhân cách giả tạo sẽ không bao giờ có thể phát huy hết được những năng lực và sự sáng tạo tiềm tàng của mỗi con người. Một người sống bằng nhân cách giả tạo sẽ khó có thể tìm thấy được hạnh phúc và sự thỏa mãn thực sự với cuộc sống, và sẽ không cảm thấy có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình, chừng nào người đó còn chưa được sống đúng với nhân cách thực của bản thân, chưa được “trở lại làm người”. Nhìn theo một cách nào đó, khi chúng ta bắt con cái làm gì đó và chúng chống đối lại, thì chúng ta nên vui mừng, vì điều đó nghĩa là chúng vẫn còn giữ được nhân cách của riêng mình, vẫn còn muốn đấu tranh để bảo vệ quyền tự chủ, và vẫn đang sống như một con người đúng nghĩa.

Nếu như người thua cuộc trong xung đột quyết định không từ bỏ quyền tự chủ của bản thân, thì họ thường sẽ tìm cách đẩy dần kẻ thắng cuộc ra khỏi thế giới nội tâm nhằm hạn chế quyền lực về mặt tinh thần của người đó đối với mình. Đó là lý do vì sao đối với nhiều người, chúng ta càng tìm cách cưỡng ép và điều khiển họ thì họ lại dường như càng rời xa khỏi tầm kiểm soát của chúng ta. Chúng ta có thể vẫn giữ được quyền lực đối với họ bằng vũ lực hay lợi ích vật chất, nhưng thứ quyền lực quan trọng nhất, thứ quyền lực mà đối phương tự nguyện giao cho chúng ta – quyền lực đến từ tình cảm con người, thì sẽ nhanh chóng biến mất. Chuyện những người con tốt nghiệp xong đem bằng về ném trả cha mẹ, hay đơn giản hơn là những đứa trẻ “bất trị” mà chúng ta hay gọi là “nhờn”, là minh chứng rõ ràng cho sự sụp đổ của quyền lực cha mẹ khi thiếu đi sợi dây gắn kết về mặt tình cảm.

4. Con đường trung đạo

Đến đây có lẽ sẽ có người muốn hỏi tôi rằng: Thế anh có phương pháp nào hay hơn không? Tôi sẽ trả lời lại rằng: Cái bạn thực sự muốn biết là gì vậy? Có phải bạn muốn biết một phương pháp để chiến thắng trong mọi xung đột, để bắt tất cả các đối thủ phải khuất phục, mà không cần phải chịu một hệ quả tiêu cực nào từ chiến thắng đó? Nếu là như vậy thì e rằng tôi không thể giúp gì được cho bạn, và tôi tin là sẽ chẳng có ai làm được điều đó. Nhưng nếu bạn thực lòng muốn giải quyết các xung đột một cách ôn hòa sao cho có thể đem lại hạnh phúc và những gì tốt đẹp nhất cho bản thân và cả những người bạn yêu quý, thì tôi nghĩ là những điều dưới đây có thể sẽ có ích.

Đầu tiên, khi xảy ra xung đột, trước khi tung ra những đòn tấn công cả bằng vật chất và tâm lý, chúng ta nên dành thời gian để suy nghĩ kỹ xem thực sự bản thân chúng ta đang muốn cái gì. Phần đông mọi người khi đưa ra một yêu sách không nghĩ xem thực sự tại sao mình lại muốn điều đó. Một yêu sách thường chỉ là một phương tiện để thỏa mãn một mong muốn sâu xa nào đó. Chúng ta cảm nhận thấy một vấn đề, và trong vô thức nghĩ ra một cách mà chúng ta cho là có thể giải quyết vấn đề đó, đưa nó thành yêu sách, và rồi quên bẵng đi luôn vấn đề gốc là gì mà chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương thực hiện yêu sách cụ thể ấy. Kết quả là nhiều khi bắt được đối phương thực hiện yêu sách xong, chúng ta mới nhận ra rằng mong muốn sâu xa của mình vẫn chẳng hề được thỏa mãn, trong khi đó rất có thể cả chúng ta và đối phương, cũng như cả mối quan hệ giữa hai bên, đều đã phải chịu những thiệt hại không nhỏ.

Không chỉ có vậy, việc tìm hiểu và nắm được những nhu cầu và lợi ích đứng đằng sau sự kháng cự từ phía đối phương cũng quan trọng không kém. Có thể họ muốn bảo vệ một lợi ích cốt lõi nào đó đang bị chúng ta đe dọa. Nhưng cũng rất có thể là cách đặt vấn đề của chúng ta khiến cho họ cảm thấy không hề có chút tiếng nói hay quyền lựa chọn nào, và họ chỉ muốn bảo vệ tự do và nhân cách của bản thân. Một khi đã nắm được những nhu cầu sâu xa thực chất của cả đối phương lẫn chính mình, chúng ta có thể tìm ra được những cách tiếp cận và phương án mới nhằm giải quyết nhu cầu của bản thân mà vẫn tôn trọng những nhu cầu và lợi ích sâu xa của đối phương, thay vì tìm cách bắt ép đối phương chấp nhận yêu sách của mình. Đạo Phật dạy rằng, trong một cuộc xung đột, đừng tìm cách triệt hạ đối phương, cũng đừng để đối phương triệt hạ, mà hãy tìm ra con đường đi mới ở giữa hai con đường cực đoan đó, tức là con đường “trung đạo”, để giải quyết vấn đề.

Một ví dụ là trong cuộc sống gia đình, có những khi người phụ nữ muốn người đàn ông làm việc này việc kia, khi thì rửa bát, khi thì nấu cơm, khi thì chăm con. Có những khi người đàn ông vui vẻ đồng ý, có những khi họ tìm cách trốn tránh và thoái thác, thế là xung đột nổ ra. Nhưng từ những gì tôi cảm nhận được, vấn đề cốt lõi thường không phải ở việc ai làm việc gì và làm bao nhiêu, mà nằm ở mối quan hệ tình cảm giữa hai người: có thể người phụ nữ cảm thấy cô đơn, thiếu sự chia sẻ, thiếu sự yêu thương, khiến cho công việc nội trợ vốn có thể rất vui vẻ buổi ban đầu trở nên ngày một nặng nề và khó chịu hơn. Người đàn ông cũng có thể có những lý do của riêng mình để từ chối việc nội trợ, dù lý do đó có thể chỉ là sự tự ái đàn ông, nhưng nó vẫn có sức nặng nhất định đối với suy nghĩ của họ. Điểm quan trọng là một khi đã xác định được rõ vấn đề, xung đột có thể được giải quyết bằng nhiều cách khác thay vì cãi cọ xem ai phải làm việc gì trong nhà: người đàn ông có thể đơn giản là trò chuyện nhiều hơn, bày tỏ sự quan tâm và yêu thương nhiều hơn đến người phụ nữ ở một khía cạnh khác, với những phương thức khác.

5. Chuyện nào ra chuyện nấy

Khi đứng trước một vấn đề gì đó trong công việc và cuộc sống, con người có thể suy nghĩ theo hai hướng: 1. mình có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng bản thân”, và 2. người khác có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng đối phương”. Trong đó, hướng bản thân là hướng suy nghĩ tích cực và tự chủ, còn hướng đối phương là hướng suy nghĩ tiêu cực và phụ thuộc. Sai lầm lớn nhất của rất nhiều người trong xử lý xung đột là chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương phải làm cái này cái kia để giải quyết vấn đề, mà gần như quên bẵng đi việc suy nghĩ xem mình có thể/nên/cần/phải làm gì. Khi cả hai bên trong một cuộc xung đột đều bị cuốn vào suy nghĩ hướng đối phương, thì cuộc xung đột đó sẽ nhanh chóng sa lầy và trở thành một cuộc chiến tranh đổ lỗi qua lại. Tình hình sẽ trầm trọng hơn nữa nếu như mỗi bên lại lấy việc đối phương nhượng bộ làm điều kiện tiên quyết cho bất cứ sự nhượng bộ nào từ phía mình.

Tại sao tôi lại nói suy nghĩ “hướng đối phương” là tiêu cực và phụ thuộc? Việc giải quyết tốt đẹp một xung đột, nhất là với một người gần gũi với chúng ta, có ý nghĩa rất lớn đối với hạnh phúc của mỗi người. Nếu như chúng ta cho rằng xung đột chỉ có thể được giải quyết khi đối phương nhượng bộ, thì cũng tức là vô hình trung chúng ta đã giao quyền định đoạt hạnh phúc của bản thân cho người khác. Thêm vào đó, như đã nói ở trên chúng ta chỉ có thể điều khiển hoàn toàn được suy nghĩ và hành động của bản thân chứ không của ai khác, do vậy việc yêu cầu người khác hành động thay vì tự mình hành động, nhìn qua thì có vẻ như là một lựa chọn dễ dàng hơn, nhưng thực chất lại khó khăn hơn, kém hiệu quả hơn, và nhiều khi là bất khả thi.

Nhiều người hay cho rằng “người kia có lỗi, cớ gì tôi phải làm nọ làm kia”. Lỗi thuộc về ai không quan trọng, quan trọng là xung đột là một vấn đề trong cuộc sống của chúng ta, và chúng ta có thực sự muốn giải quyết nó hay không. Tất nhiên chúng ta có thể gửi tín hiệu đến đối phương để cho đối phương biết mong muốn của mình, nhưng song song với đó chúng ta cũng có thể tự mình hành động một cách độc lập để thực hiện mong muốn ấy. Đối phương có chấp nhận thực hiện mong muốn của chúng ta hay không là chuyện của đối phương, còn việc tìm cách thỏa mãn mong muốn của bản thân là chuyện của chúng ta. Chuyện nào phải ra chuyện nấy. Chúng ta cần tôn trọng tự do lựa chọn và quyền tự chủ của đối phương, nhưng đồng thời cũng phải nắm lấy quyền kiểm soát cuộc đời và hạnh phúc của bản thân. Đừng tự biến mình trở thành nạn nhân của bất cứ ai khác, nhưng cũng đừng biến người khác thành nạn nhân của mình.

Trong công việc với tư cách người quản lý hệ thống CNTT của công ty, hàng ngày tôi phải đối mặt với đủ kiểu thao tác vi phạm quy định, hay đơn giản là trái với ý đồ thiết kế, từ phía người dùng hệ thống. Mỗi lần như vậy tôi có thể lựa chọn việc nhắc nhở và yêu cầu người dùng phải chú ý, phải làm đúng thế này thế kia. Nhưng từ kinh nghiệm thực tế tôi hiểu rằng dù vô tình hay cố ý, những thao tác như vậy sẽ không bao giờ biến mất, và công sức nhắc nhở của tôi sẽ chỉ là công cốc: tôi đang chiến đấu với mấy trăm cái đầu có thể lơ đễnh bất cứ lúc nào. Tôi vẫn có thể nhắc nhở, nhưng đồng thời tôi sẽ lựa chọn tập trung hơn vào việc tạo nên những hệ thống mà người dùng có muốn cũng không thể thao tác sai được. Đối với những kỹ sư CNTT chuyên nghiệp thì điều đó gần như được xem như một yêu cầu hiển nhiên. Tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng lối suy nghĩ tương tự vào việc xử lý tất cả những xung đột khác, đặc biệt là với những người gần gũi với mình.

6. Lựa chọn thứ ba

Tôi xin nhắc lại một lần nữa: chúng ta chỉ có thể điều khiển được hành động và suy nghĩ của chính mình chứ không của ai khác. Trong một cuộc xung đột, nếu như đối phương đã nhất quyết không nhượng bộ, các biện pháp ôn hòa đã thất bại, thì chúng ta nên hiểu rằng việc muốn đối phương làm theo ý mình là điều không thể. Nếu như tư cách làm người hay các nguyên tắc đạo đức cốt lõi của chúng ta đang bị đe dọa, thì việc đấu tranh đến cùng bằng mọi giá thường là điều cần thiết và nên làm. Nhưng đối với đại đa số các xung đột hàng ngày khác, việc cố bám lấy một mong muốn bất khả thi sẽ chỉ khiến cho chúng ta thêm tuyệt vọng và khổ sở, hay tệ hơn là bắt đầu sử dụng đến những biện pháp cực đoan và vũ lực hơn. Thay vào đó, chúng ta hãy nắm giữ quyền tự chủ cuộc sống của mình bằng cách lựa chọn việc chấp nhận từ bỏ yêu sách, và tự tách mình khỏi tầm ảnh hưởng của đối phương nếu cần thiết, thay vì tiếp tục sa lầy trong một cuộc xung đột vô nghĩa.

Trong những mối quan hệ với những người gần gũi thân thiết, rộng ra là những người mà chúng ta không dễ gì cắt đứt được sợi dây liên hệ, ví dụ như giữa cha mẹ với con cái hoặc giữa xã hội với một thành viên trong xã hội, việc chấp nhận chung sống với sự khác biệt càng quan trọng hơn. Nếu như chúng ta thường xuyên sử dụng những biện pháp cưỡng ép và kiểm soát vi phạm vào tự do và nhân cách của đối phương, rất có thể chúng ta sẽ triệt tiêu đi một thứ còn quan trọng hơn sự phục tùng, đó là mối quan hệ tình cảm giữa con người với nhau. Tình cảm con người mới là thứ giúp cho xã hội, cộng đồng và gia đình trở nên gắn kết, và là cột chống tạo nên sự ổn định của tâm lý con người. Kẻ tội phạm nguy hiểm nhất là kẻ đã mất niềm tin vào tình cảm con người. Bạn muốn một đứa con ngỗ nghịch sống một mình một kiểu nhưng vẫn còn tôn trọng và yêu quý bạn trong lòng, hay bạn muốn một đứa trẻ nói gì cũng gật đầu nhưng từ lâu đã không còn coi bạn là cha mẹ nữa?

Đối với đa số chúng ta, việc chấp nhận thua cuộc và từ bỏ yêu sách trong một cuộc xung đột là một điều rất khó khăn. Có lẽ một phần lý do chính là vì điều đó khiến cho chúng ta cảm thấy mình mất khả năng kiểm soát cuộc sống của bản thân khi thấy một thứ đáng lẽ phải diễn ra theo ý mình thì thực tế lại không được như vậy. Tạm không nói về chuyện cái “đáng lẽ” đó có căn cứ gì hay không, nếu như chúng ta biết chấp nhận rằng có rất nhiều thứ mình không kiểm soát được, và không nên kiểm soát, thì chúng ta sẽ có thể bớt đi rất nhiều gánh nặng vô ích cho bản thân, cũng như có thể dành nhiều thời gian, sự chú ý cũng như công sức cho những việc khác chúng ta thực sự có thể kiểm soát thành công để đem lại hạnh phúc cho mình. Khi trên bước đường đi có một tảng đá lớn chặn đường, chúng ta có thể đi vòng tránh hoặc tìm con đường khác, cớ gì cứ nhất thiết mỗi lần lại phải ôm bộc phá dọn đường?


Nói một cách ngắn gọn, về nguyên tắc mọi xung đột nên được giải quyết một cách ôn hòa, trên cơ sở tôn trọng quyền tự do định đoạt của đối phương. Để có thể làm được điều đó, trước hết chúng ta cần phải suy nghĩ thật kỹ và xác định được những lợi ích và nhu cầu sâu xa đằng sau những mong muốn của chúng ta cũng như của đối phương, để có thể tìm ra một phương án có thể đảm bảo được lợi ích của cả hai bên. Thêm vào đó, chúng ta cũng nên tập trung suy nghĩ nhiều hơn vào việc bản thân mình có thể làm được gì để giải quyết xung đột, thay vì mải yêu cầu đối phương nhượng bộ. Cuối cùng, chúng ta nên biết chấp nhận rằng chúng ta không có quyền và cũng không có khả năng điều khiển suy nghĩ và hành động của bất kỳ ai khác ngoài bản thân, và rằng nhiều khi một mối quan hệ không ràng buộc dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau quan trọng hơn nhiều việc bắt được người khác phải làm theo ý mình.

Xoay quanh câu chuyện học Sử

Trong suốt thời gian vừa rồi, báo chí và dư luận (mạng) xã hội bàn tán rất sôi nổi và nóng hổi xung quanh vấn đề học sinh chán học Sử, không biết Sử nước nhà và đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác. Cá nhân tôi đây đó cũng có một số suy nghĩ của riêng mình sau khi đọc một số bài báo và bài viết trên mạng, tuy nhiên do chúng quá vụn vặt và cảm tính nên chưa viết gì cụ thể cả. Đến nay, sau một thời gian quan sát và tích lũy, tôi xin viết ra những suy nghĩ của mình dưới đây để những ai có hứng thú có thể tham khảo.

Tuy nhiên trước hết, tôi phải nói rõ rằng tôi không phải một nhà chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục, cũng như có hiểu biết cụ thể về vấn đề lần này. Tôi mới chỉ đọc một vài bài báo, một vài bài bình luận, và một tá comment facebook, do đó những gì tôi viết ra ở đây là dựa trên cách hiểu nông cạn của riêng tôi, và không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Nếu bạn nào muốn đọc những bài viết phân tích cụ thể, sâu sắc và có căn cứ chắc chắn hơn, thì tôi xin giới thiệu facebook của anh Nguyễn Quốc Vương, một nghiên cứu sinh ngành giáo dục tại Nhật Bản. Còn sau đây, tôi xin trình bày những suy nghĩ của cá nhân mình.


1. Học sinh xé đề cương Sử, thế thì sao?

Cá nhân tôi rất thích câu hỏi “thế thì sao?” (so what?), tuy rằng trong thực tế cuộc sống tôi rất ít khi dùng vì thường sẽ bị cho là khiêu khích. Tôi thích câu hỏi đó vì mặc dù rất đơn giản, nhưng nó khiến cho người được hỏi phải nhìn nhận rõ hơn những quan điểm, lòng tin và định kiến (gọi chung là tiền đề) của bản thân mà bình thường ít người ý thức đến. Khi đưa ra một quyết định hay một phán xét nào đó, chúng ta thường có xu hướng dựa vào cảm tính của mình để đưa ra kết luận chớp nhoáng dựa trên một số tiền đề nhất định, sau đó mới bắt đầu lục tục dùng đến lý trí để cố nặn ra những lý do củng cố cho kết luận của mình. Một trong những hệ quả của việc “suy nghĩ nhanh” kể trên là chúng ta thường bỏ qua một công đoạn rất quan trọng, đó là xác định rõ ràng vấn đề và tiền đề. Xác định sai vấn đề hay tiền đề đều sẽ dẫn đến việc đưa ra những quyết định và phán xét “sai lệch” và không đem lại kết quả như mong muốn.

Quay trở lại câu chuyện học Sử, nếu tôi nhớ không nhầm thì mọi chuyện bắt đầu nóng lên sau khi có việc các em học sinh ở một trường nọ xé đề cương Sử vứt trắng sân trường sau khi biết không phải thi môn này. Báo chí vào cuộc, dư luận sôi sục, mọi người tranh nhau nói. Tôi thì chỉ ngứa mồm muốn hỏi một câu “thế thì sao?”. Trong ký ức thời học sinh của tôi “đề cương Sử” chỉ là một tờ giấy ghi lại tất cả những nội dung cần phải học thuộc lòng để thi và kiểm tra. Nó đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho một mục đích là thi cử, không hơn, không kém. Khi mục đích không còn, thì công cụ cũng là đồ bỏ. Chuyện chỉ đơn giản có thế. Là tôi tôi cũng sẽ vứt ngay vào sọt rác. Không xé, không vứt thì giữ lại làm gì? Có ai ngây thơ nghĩ rằng kể cả không thi học sinh cũng nên/cần/phải ngồi ôn đề cương Sử không? Nếu không, vậy học sinh xé đề cương Sử thì có làm sao? Chuyện này thì liên quan gì đến việc “học” Sử? Tại sao chúng ta lại nhảy từ việc “thi” sang việc “học” như vậy? Vấn đề ở đây nằm ở việc “học” hay việc “thi”? Việc nhầm lẫn giữa “thi” với “học” chẳng phải cũng là một vấn đề hay sao?

Tôi không nói rằng việc học Sử ở trường lớp không có vấn đề. Tôi không nói rằng mọi người không nên bàn luận về giáo dục chỉ vì học sinh xé đề cương. Cái tôi muốn nói ở đây là chúng ta cần nhìn rõ hiện tượng đang diễn ra thực sự nói lên cái gì. Trong mắt tôi, học sinh xé đề cương Sử rõ ràng là phản ứng lại đối với việc “thi” Sử, chứ không phải việc “học” Sử. Do đó cái chúng ta cần chú ý đến trước hết là việc “thi”, chứ không phải việc “học”. Chừng nào “thi” còn được xem là mục đích cuối cùng và thậm chí là bị nhầm lẫn với việc “học”, thì chúng ta có tranh luận, sửa đổi việc “học” chán chê cũng chẳng đem lại kết quả nào lâu dài. Đơn giản là vì mục đích quyết định hành động. Thầy cô giáo có muốn sáng tạo, thử nghiệm cách dạy mới, cuối cùng vẫn sẽ phải dành thời gian để “luyện thi” cho học sinh vì thành tích của mình. Học sinh học có vui vẻ thích thú đến mấy, cuối cùng vẫn phải đối diện với thực tế “thi cử” phũ phàng nếu muốn tốt nghiệp. Cái trước mắt chúng ta cần là 1. sửa đổi cách “thi”, hoặc/và 2. tách việc “thi” ra khỏi việc “học”, khiến việc “thi” trở nên không bắt buộc và không phải là mục đích của việc “học”.

Cũng nói thêm rằng, tôi ủng hộ việc xé đề cương Sử, ủng hộ nhiệt liệt. Vì sao? Vì trong mắt tôi đó là một hành vi khẳng định nhân cách, khẳng định “tính người” của các em học sinh. Nó chân thực và có tính nhân văn, “tính người” hơn nhiều những lời lẽ và lý luận cao siêu mà tôi thấy xuất hiện la liệt khắp nơi xoay quanh hành động đó. Đối với tôi, thời học sinh việc ngồi dành cả một tiết học để chép đề cương Sử là một cực hình. Đúng hơn, đó là một sự sỉ nhục nhân cách, sỉ nhục “tính người”, phủ nhận quyền tự do “làm người” của tôi. Việc chép những gì đã viết trong sách ra một tờ giấy theo mệnh lệnh, học thuộc lòng nó để rồi quên ngay sau 5 phút ra khỏi phòng thi là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa. Tôi sinh ra trên đời không phải để làm những việc vô nghĩa ấy theo lệnh của người khác. Xét trên một khía cạnh nào đó, những người bắt ép tôi chép đề cương Sử cũng giống như những kẻ thực dân đế quốc đè đầu cưỡi cổ dân ta ngày xưa vậy.

Tương tự, câu hỏi “thế thì sao” cũng có thể được áp dụng cho một vụ “xì căng đan” được báo chí đưa tin sau đó ít lâu. Đó là việc một số em học sinh nhầm lẫn một vài nhân vật lịch sử. Cụ thể thế nào tôi không nhớ nữa, vì nó quá nhạt nhẽo và quá vô nghĩa. Các em nhầm lẫn, thế thì sao? Việc biết về những nhân vật lịch sử đó có nói lên được thực chất năng lực và kiến thức sử học của các em không? Nó có nói lên được sự thông minh, năng lực tiềm tàng, giá trị con người của các em không? Nó có giúp ích được gì cho các em không, có ý nghĩa gì đối với các em không? Nó có giúp ích được gì cho xã hội không? Nếu những kiến thức lịch sử đó là “thường thức”, là việc ai cũng phải biết, không biết là một tội, thì ai là người đã quyết định điều đó, dựa vào quyền hạn gì? Nếu chưa suy nghĩ thấu đáo đến những điều như vậy mà đã nhao nhao lên, thì chúng ta chỉ lãng phí thời gian và nước bọt mà thôi. Toàn bộ đoạn phỏng vấn các em học sinh chỉ để lại trong tôi một ấn tượng duy nhất: nhỏ nhen, nếu không muốn nói là tiểu nhân. Tôi chỉ ước gì các em đã có thể trả lời thẳng vào mặt phóng viên rằng “Tôi không biết, thế thì sao?“.

2. Họ đang muốn giữ lại cái gì thế?

Tiếp sau hai vụ lùm xùm của các em học sinh, là đến đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác để làm thành môn gì gì đó, và đưa môn này trở thành môn tự chọn thay vì bắt buộc. Nói thực tôi chưa đọc một bài viết cụ thể nào về đề án kia, nên cũng chẳng biết cái “tích hợp” mọi người đang nói đến là cái gì. Tôi chỉ mường tượng ra đại khái nó là một môn tổng hợp các kiến thức về xã hội, trong đó có các kiến thức lịch sử. Nếu như vậy thì tôi thấy cũng bình thường, tích hợp hay không cũng thế. Vì xét cho cùng lịch sử vẫn xuất hiện trong chương trình học, vấn đề là lượng thế nào và cách truyền đạt ra sao. Và việc đưa môn Sử thành tự chọn cũng là một việc tốt, vì nó tôn trọng tự do của học sinh. Thế nhưng rất nhiều người lại lên tiếng phản đối kịch liệt đề án này. Tôi cũng chỉ đọc qua loa một vài ý kiến, nhưng cảm nhận của tôi là đa số những ý kiến này không thuyết phục, dựa trên những định kiến và quan điểm lệch lạc (với quan điểm của tôi).

Nhiều người muốn giữ Sử làm một môn độc lập, thậm chí đưa ra những ý kiến như “tích hợp/tự chọn là khai tử môn Sử”. Nhưng kiến thức lịch sử đâu có biến mất khỏi chương trình sau khi được tích hợp? Học sinh đâu có bị cấm học Sử sau khi Sử thành môn tự chọn? Tại sao hầu hết mọi người không mấy quan tâm xem kiến thức Sử sẽ có những nội dung gì, được học thế nào? Tại sao họ cứ nhất mực chú tâm đến cái từ “độc lập” với “bắt buộc”? Cái mà họ thực sự quan tâm là cái gì vậy? Trong mắt tôi, cái hầu hết những người đó muốn giữ chỉ là một cái mẽ. Họ chỉ muốn giữ lại một khái niệm, một biểu tượng, một “môn Sử” trên giấy tờ và danh nghĩa. Đối với họ, một “môn Sử” “độc lập” và “bắt buộc” là một cái gì đó linh thiêng, tuyệt đối, không ai được chạm tới. Đối với họ, đây là vấn đề “sĩ diện” của “môn Sử”, của chính họ, chứ không còn là vấn đề giáo dục nữa. Họ không quan tâm xem học sinh muốn học gì, học như thế nào, có thích học hay không. Họ không quan tâm đến Sử học, đến học sinh, họ chỉ muốn bắt học sinh học “môn Sử” của họ, học những gì họ cho là học sinh phải học, đơn giản là vì họ muốn thế.

Sử học vốn không phải là một “môn học”. Sử học vốn là một môn khoa học, nghiên cứu về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Trước khi Sử bị biến tướng thành một môn giáo khoa, người ta nghiên cứu lịch sử bằng cách tìm hiểu các tài liệu lịch sử, các di tích, các nhân chứng vật chứng. Vì không ai có thể kiểm chứng được quá khứ trong hiện tại, nên lịch sử luôn mang tính chủ quan. Bởi vậy những người muốn biết được “sự thật” lịch sử chỉ có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn, đối chiếu và tự rút ra “sự thật” lịch sử của riêng mình. Khi có thêm những thông tin mới xung đột với “sự thật” hiện tại, thì “sự thật” đó cần được xem xét và điều chỉnh nếu cần thiết. Đó là khoa học. Khoa học không phải chân lý bất biến. Khoa học đơn giản chỉ là một trong những cách lý giải thế giới tự nhiên và con người, và khoa học luôn sẵn sàng thay đổi để phù hợp với những gì quan sát được từ thế giới xung quanh. Nếu chiếu theo cách hiểu đó, thì cái gọi là “môn Sử” hiện nay không phải là Sử học, càng không phải một môn khoa học. Cái mà đa số những người phản đối tích hợp và tự chọn môn Sử muốn giữ lại chỉ một công cụ tẩy não mà thôi.

Tôi không ủng hộ cũng không phản đối việc “tích hợp” môn Sử, trước hết vì tôi cũng chưa hiểu cái “tích hợp” mà người ta đang nói đến là cái gì. Tuy nhiên tôi ủng hộ quyền tự do lựa chọn. Và đọc những ý kiến đưa ra bảo vệ cho cái sự “độc lập” và “bắt buộc” của môn Sử thì tôi thấy ghê sợ. Ghê sợ vì đằng sau những ý kiến đó là những quan điểm, chuẩn mực, định kiến nguy hiểm cho giáo dục và bản thân các em học sinh. Trong những ý kiến đó, các em học sinh “phải” biết cái này, “phải” có phẩm chất kia, như thể các em không phải là những con người tự chủ mà là những công cụ phục vụ cho giấc mơ của người khác vậy. Chúng ta ngày ngày tâng bốc các em học sinh, trường trường căng biểu ngữ “tất cả vì các em học sinh thân yêu”, nhưng có được bao nhiêu người thực sự coi các em, từng em, là những con người, với đầy đủ những cảm xúc, suy nghĩ, lý tưởng, ham muốn và tự do như tất cả những “người lớn” khác? Giáo dục là cái lò luyện công cụ hay là nơi phát triển con người?

3. Lịch sử không phải để giáo dục lòng yêu nước

Một trong những lý do được đưa ra để ủng hộ môn Sử hiện nay là để “giáo dục lòng yêu nước”. Tôi rất ghét lòng yêu nước. Hay nói đúng hơn tôi rất ghét cái mà nhiều người tự cho là “lòng yêu nước”. Tôi ghét “lòng yêu nước” hơn cả “thuần phong mỹ tục”, “chuẩn mực đạo đức” hay “truyền thống văn hóa”, vì những thứ đó thường chỉ dùng để khinh bỉ, đả kích, bắt ép người khác, còn “lòng yêu nước” có thể dùng làm cái cớ để đàn áp và giết chóc. Tôi không tin vào giá trị của “lòng yêu nước”. Cái tôi tin là một cảm xúc tự nhiên và chân thành đối với gia đình, bạn bè, cộng đồng, những người nói cùng ngôn ngữ, có cùng văn hóa với mình, mong muốn cho họ được sống hạnh phúc hơn, no đủ hơn, tự do hơn. Cảm xúc đó không cần đến cái gọi là “môn Sử” hiện nay, mà hình thành thông qua sự tiếp xúc va chạm với xung quanh trong suốt quá trình trưởng thành và sinh sống của mỗi người. Nếu không có cảm xúc đó, thì cái gọi là “lòng yêu nước” chỉ là một thứ tín ngưỡng mù quáng, một công cụ để kìm kẹp và áp chế người khác, và “giáo dục” nó là một việc làm nguy hiểm.

Từ trước đến nay, người ta nghiên cứu về lịch sử (không phải “học” Sử) để làm gì? Có thể vì họ muốn dùng lịch sử để lý giải tình trạng hiện tại, lý giải những mối quan hệ đang tồn tại, dựa trên những ân nghĩa, thù oán, nhân duyên trong quá khứ, để từ đó có thể đưa ra được những hành động phù hợp, mang đến kết quả họ mong muốn. Có thể đơn giản họ chỉ muốn biết về những “sự thật” đã xảy ra. Có thể những thông tin lịch sử thu hút họ, khiến họ hứng thú lao vào tìm hiểu. Dù thế nào đi nữa, con người ta tìm đến với lịch sử là vì những động cơ và mục đích thực tiễn và tự thân, như đối với tất cả các môn khoa học khác. “Môn Sử”, nếu muốn thu hút được học sinh, cần phải phục vụ được một nhu cầu nào đó của bản thân các em học sinh, chứ không phải mục đích ích kỷ của những người xung quanh. Nói cách khác, bắt học sinh “học” lịch sử để “giáo dục” “lòng yêu nước” là một trong những nguyên nhân khiến môn Sử thất bại thảm hại như ngày nay.

Bên cạnh “lòng yêu nước”, tôi còn nghe thấy nhiều lý do khác được dùng làm căn cớ cho cái sự “bắt buộc” của môn Sử như “biết sử để tự hào dân tộc”, “không biết sử là mất gốc”, “không biết sử làm sao viết tiếp được lịch sử dân tộc”. Cảm nhận của tôi là những câu nói đó tuy hoa mỹ mà trống rỗng và vô nghĩa. “Tự hào” để làm gì? “Mất gốc” là thế nào? “Mất gốc” thì làm sao? “Viết tiếp lịch sử” là cái quái gì? Trong suy nghĩ của tôi, chỉ có những người chưa hình thành nên một “cái tôi” vững vàng, chưa thực sự tự chủ được suy nghĩ, biết mình là ai, muốn làm gì, mới cần phải bám vào những “cái phao” mang những cái tên mỹ miều như “tự hào dân tộc” hay “gốc gác cội nguồn” mà thôi. Đó là chưa kể, những điều đó không thể dùng làm lý do để bắt ép học sinh học Sử. Nếu em học sinh nào muốn học Sử để được tự hào về dân tộc, để “có gốc”, thì tốt thôi, đó là tự do của em đó. Nhưng chúng ta không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho các em” mà bắt các em phải học. Chúng ta càng không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho đất nước/dân tộc” (thực chất là để thỏa mãn bản thân chúng ta) mà bắt các em phải học. Vì đó là hành vi vi phạm tự do của các em học sinh.

Thêm vào đó, một điều làm tôi thấy ngạc nhiên, hay đúng hơn là thất vọng, là gần như 100% những ý kiến tranh luận về việc học Sử, kể cả từ học sinh, phụ huynh, giáo viên, cho đến chuyên gia, chính trị gia, có vẻ như đều chỉ chăm chăm vào lịch sử chính trị và quân sự Việt Nam. Hầu như tôi không thấy có mấy ý kiến động chạm một cách nghiêm túc đến các mảng khác của lịch sử. Lịch sử thế giới thì sao? Lịch sử văn hóa thì sao? Lịch sử theo chủ đề thì sao? Trừ một vài người tỉnh táo và có cái nhìn rộng, còn lại không ai bàn đến những cái đó cả. Điều này càng nói lên rằng trong nhận thức của hầu hết những người đang sôi sục phát ngôn ngoài kia, lịch sử không phải một môn khoa học, không phải là tìm kiếm và mở rộng hiểu biết, mà đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho động cơ chính trị của bản thân mà thôi. Và nếu chúng ta còn giữ cái nhìn đó, thì còn lâu môn Sử nói riêng và giáo dục nói chung mới khá lên được.

4. 80% học sinh thích bắt nạt bạn học

Trước hết tôi xin nhận tội: tiêu đề trên là để câu khách, kẻo oan cho các em học sinh. Con số 80% tôi lấy từ một bài báo, trong đó có thông tin rằng trong một cuộc khảo sát, 80% các em học sinh cho biết ủng hộ việc bắt buộc học môn Sử. Ở đây tôi tạm thời dừng nói về bản thân môn Sử, mà muốn nói đến cái chuyện “ủng hộ bắt buộc” kia. Nghe qua câu chuyện, chúng ta sẽ có cảm giác rằng dường như đa số các em học sinh thích Sử, đồng ý bắt buộc môn Sử, và do đó môn Sử nên được làm môn bắt buộc. Nhưng nếu suy nghĩ một cách tường tận hơn, ta có thể thấy rằng, những em ủng hộ việc bắt buộc môn Sử hẳn là thích môn Sử. Do đó nếu Sử là môn bắt buộc, các em hẳn vẫn sẽ vui vẻ học. Kể cả nếu Sử là môn tự chọn, các em vẫn có thể lựa chọn môn Sử. Như vậy thì môn Sử có bắt buộc hay không, đối với bản thân các em ấy cũng không có mấy sự khác biệt. Trong cả hai trường hợp các em đó đều có quyền lợi “được học Sử”. Nói cách khác, chọn thế nào các em ấy cũng chẳng mất gì.

Ngược lại, số 20% các em còn lại thì có lẽ là không thích môn Sử cho lắm. Và một khi môn Sử trở nên bắt buộc thì các em sẽ mất đi quyền lợi “không phải học Sử”. Tất nhiên 80% các em kia cũng mất đi quyền lợi này, nhưng vì các em ấy thích môn Sử nên khả năng cao là quyền lợi này không có giá trị lắm. Như vậy, nhìn theo một cách nào đó, 80% các em học sinh trong cuộc khảo sát kia mong muốn tước đi quyền lợi của 20% bạn học trong khi bản thân mình thì không mất gì. Và đó là cái mà tôi gọi là “bắt nạt”. Tất nhiên, tôi không nghĩ rằng bản thân các em có chủ ý như thế, hay thậm chí là suy nghĩ được đến mức như thế, và các em hoàn toàn có quyền nói lên chủ kiến của bản thân. Nhưng tôi thấy lo ngại khi các em sẵn sàng ủng hộ việc hy sinh quyền lợi của bản thân, và quan trọng hơn, là hy sinh quyền lợi của người khác như vậy. Trong mắt tôi, đó là một trong những tác hại của cái gọi là “lòng yêu nước” với “tinh thần dân tộc” đang được “giáo dục” ở trường lớp.

Nói rộng ra, tâm lý trên cũng xuất hiện rất phổ biến ở con người nói chung. Khi chúng ta có cảm tình với một cái gì đó, chúng ta thường đề cao lợi ích và coi nhẹ tác hại mà nó mang lại. Sự thiên vị này càng nặng nề hơn khi cân nhắc lợi ích cho bản thân và tác hại với người khác. Điều này dẫn đến trong nhiều trường hợp chúng ta sẵn sàng áp đặt, bắt ép, cấm đoán, hay nhẹ hơn là lên án, đả kích người khác theo ý thích của mình, miễn là bản thân không bị ảnh hưởng gì. Điều đó có thể thấy rõ trong những “phong trào” như phản đối ăn thịt chó, dẹp lễ hội mổ lợn, cấm hôn nhân đồng giới, và bây giờ là bắt buộc học môn Sử. Tôi phản đối những “phong trào” đó, không phải vì tôi thích thịt chó, hay tôi đồng tính, mà vì tôi lo sợ rằng chúng sẽ tạo nên những tiền lệ xấu, tạo nên một xã hội ngột ngạt, trong đó con người sẵn sàng siết cổ nhau chỉ vì sở thích bản thân, miễn là cổ mình không (chưa) bị siết. Tôi không muốn nói điều đó là “sai”, vì nó là một phần tâm lý tự nhiên của con người. Tôi cũng không muốn nói số đông phải nhượng bộ số ít. Tôi chỉ muốn nhắn nhủ rằng: gieo gió thì gặt bão. Sẽ có ngày những người từng hùa theo đám đông đi siết cổ người khác, lại bị một đám đông khác hùa vào siết cổ với danh nghĩa “sở thích của số đông”.

5. Tôi ghét “học” Sử, và tôi thích lịch sử

Nếu bạn nào đủ kiên nhẫn đọc được đến đây, có lẽ sẽ có ấn tượng rằng tôi là một người ghét Sử. Thẳng thắn mà nói tôi rất chán ghét “học” Sử, nhất là sau khi đã trải qua thời cấp 2 với một cô giáo dạy Sử thường xuyên cho điểm dưới 5 và được coi là nỗi sợ hãi của học sinh cả trường. Tôi chán “học” Sử vì những cái tôi muốn biết, muốn tìm hiểu kỹ hơn thì lại không có hoặc không được chú ý, mà những cái tôi chẳng hề có hứng thú thì lại được viết tràng giang đại hải. Tôi ghét “học” Sử vì cái gọi là “học” ở trường gắn liền với “kiểm tra” và “thi cử”. Mà “kiểm tra” với “thi cử” của “môn Sử” là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa, vô bổ và vô căn cứ, làm lãng phí thời gian, lãng phí trí lực của con người.

Nhưng thế không có nghĩa là tôi ghét lịch sử. Tôi thích lịch sử là đằng khác. Thời sinh viên tôi có thể dành ra hàng tiếng đồng hồ đọc về các giai đoạn, các sự kiện lịch sử trên Wikipedia. Tôi có thể say sưa tìm hiểu về cách tổ chức của các quân đoàn lê dương La Mã, cách chiến đấu của những chiến binh pha lăng Hy Lạp, những lãnh chúa Nhật Bản của thời kỳ Chiến Quốc, cuộc binh biến của đội quân Janissary, số phận của đế chế hậu duệ La Mã Byzantine, “quân đội sở hữu quốc gia” của xứ Phổ,… Trong những nội dung tôi đã từng tìm hiểu có cả hệ thống cung cấp nước bằng ống tre của thành Edo, cách con người ta “đi ngoài” từ cổ chí kim, cách chế tạo và sử dụng súng hỏa mai, thuyền dài của người Viking, vai trò của nước chanh trong thời đại hải hành… Một số không ít những nội dung đó tôi được truyền cảm hứng từ trò chơi, truyện tranh, phim ảnh. Một số khác là do có kết nối với các nội dung tôi đang tìm hiểu. Và một số đơn giản là vì một ngày đẹp trời tự dưng tôi nổi hứng.

Đoạn văn trên tôi viết không hẳn chỉ để khoe. Mà qua đó, tôi muốn nhấn mạnh vào hai điều: 1. lịch sử rất thú vị, và 2. lịch sử không hề và không thể biệt lập một mình. Về điểm thứ nhất, tôi không thể giải thích một cách rõ ràng tại sao tôi lại thấy lịch sử thú vị, tôi càng không thể “thuyết phục” bất kỳ ai rằng lịch sử thú vị chỉ bằng lời nói. Tôi chỉ có thể nói đơn giản rằng việc phát hiện ra những gì con người đã từng làm trong quá khứ, lý giải được tại sao họ lại làm như vậy, và nhìn thấy sự liên hệ giữa quá khứ với hiện tại đem lại cho tôi một niềm thích thú. Ý nghĩa của mọi vật nằm trong mối quan hệ giữa vật đó với xung quanh. Việc phát hiện ra những mối quan hệ đó khiến cho tôi thấy thế giới xung quanh có ý nghĩa hơn, chứ không hoàn toàn hỗn loạn và ngẫu nhiên. Tuy nhiên, cái sự thích thú đó đến từ trong bản thân tôi, do tự tôi tìm ra. Tôi không cho rằng vì tôi thấy lịch sử thú vị nên tất cả mọi người khác cũng thấy vậy, hay tất cả mọi người khác đều nên/cần/phải “học” lịch sử như tôi.

Về điểm thứ hai, nhiều người cho rằng “môn Sử” là một “môn khoa học” “độc lập”. Tôi không rõ họ muốn nói gì thông qua từ “khoa học” và “độc lập”, nhưng qua những gì tôi đã tìm hiểu, thì tôi tin rằng lịch sử không thể tách rời ra khỏi rất nhiều các lĩnh vực khác, từ to tát như chính trị, quân sự, văn hóa, đến cụ thể như dinh dưỡng, tâm lý, y học, vật liệu, ngôn ngữ,… Người nghiên cứu lịch sử cần đến, và sẽ buộc phải tiếp xúc với những lĩnh vực đó để hiểu được những gì đã xảy ra trong quá khứ, hiểu được tại sao lịch sử lại diễn ra như vậy. Hơn nữa, chính sự liên kết với các mặt, các lĩnh vực thực tiễn của cuộc sống hiện tại đem lại ý nghĩa cho lịch sử, khiến người ta tự tìm đến với lịch sử. Một thứ lịch sử “chỉ có lịch sử” sẽ là một thứ lịch sử rỗng tuếch, nhàm chán, vô dụng và vô nghĩa.

Cuối cùng, tôi có một lời khuyên cho những người muốn các em học sinh nói riêng và mọi người nói chung “thích” lịch sử: nếu muốn thuyết phục ai đó, hãy tìm cách phục vụ người đó, thay vì phục vụ bản thân. Cá nhân tôi rất thích chơi trò chơi điện tử. Khi chơi Rome: Total War, tôi có hứng tìm hiểu về đế chế La Mã và Carthage. Khi chơi Mount & Blade Warband: Viking Conquest, tôi có hứng tìm hiểu về nước Anh thời kỳ tiền Norman. Tôi có hứng thú tìm hiểu lịch sử từ trò chơi, vì một khi đã bắt gặp trong trò chơi, những vùng đất, những quốc gia, những dân tộc đó không còn là xa lạ đối với tôi nữa. Tôi biết thành Carthage ở đâu trên bản đồ thế giới, vì tôi đã xuất phát từ đó mà chinh phục gần hết Địa Trung Hải. Tôi biết từng đường biển, từng vùng đất, từng hòn đảo mà tôi đã đi qua trên bước đường “chinh chiến”. Và do đó đối với tôi chúng “có ý nghĩa”. Cứ thế mỗi trò chơi có bối cảnh lịch sử lại mở ra cho tôi một chương khác của lịch sử thế giới.

Điểm quan trọng ở đây là những trò chơi đó không được tạo ra để “học lịch sử”. Chúng được tạo ra để phục vụ đúng mục đích của một trò chơi: giải trí. Và vì chúng phục vụ tốt mục đích đó của tôi, nên tôi sẵn sàng tiếp nhận chúng. Cảm hứng với lịch sử đơn thuần chỉ là tác dụng phụ, nhưng hiệu quả hơn nhiều so với hàng tá những lý lẽ cao siêu và “cao cả” mà mọi người đang ra rả rao giảng hiện nay. Tôi nói vậy không phải để muốn nói rằng môn Sử phải được biến thành trò chơi, hay lên phim, hay tìm đủ cách “sinh động hóa”, “lý thú hóa”. Tôi muốn nhắc lại rằng lịch sử, hay phương tiện truyền tải lịch sử, trước hết phải phục vụ được, và phục vụ tốt, một nhu cầu thực tiễn và tự thân của học sinh nói chung và mọi người nói riêng, nếu muốn được đón nhận và tiếp thu có hiệu quả. Mọi sự cưỡng ép truyền tải lịch sử nhằm phục vụ mục đích bên ngoài đối tượng được truyền tải đều sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. Hay ít nhất, đó không phải là lịch sử, mà là “môn Sử”.


Bài viết lần này khá dài, do nó tổng hợp những suy nghĩ lẻ tẻ rời rạc của tôi xung quanh câu chuyện “học” Sử. Tôi xin tóm tắt lại những ý chính mà mình muốn truyền tải như sau: 1. hãy tôn trọng tự do của các em học sinh, của từng em học sinh, 2. hãy suy nghĩ từ góc nhìn của các em học sinh, 3. hãy để lịch sử là một môn khoa học, là sự tìm hiểu và khám phá tri thức, 4. đừng lợi dụng lịch sử cho mục đích của bản thân, 5. nếu muốn ai đó thích lịch sử, hãy tìm cách để lịch sử phục vụ được mục đích nào đó của họ. Những suy nghĩ này không bó hẹp trong phạm vi lịch sử hay giáo dục, mà có thể và nên được áp dụng cho mọi mặt của xã hội con người. Tôi tin rằng chỉ có như vậy mọi việc chúng ta làm mới có thể có hiệu quả cao, đạt mục đích mong đợi, và dẫn đến một thế giới hòa bình hơn.

Trong bài viết này, tôi chủ yếu đưa ra các nhận định các góc nhìn của cá nhân, chứ không tập trung vào các giải pháp cụ thể. Vấn đề tìm giải pháp tôi xin nhường lại cho những người trong cuộc và có hiểu biết hơn. Tuy nhiên theo tôi những giải pháp đó cần dựa trên cơ sở là những điểm tôi đã liệt ra ở trên nếu muốn đạt được sự thay đổi thực chất và tích cực. Bạn nào có hứng thú có thể tham khảo thêm các bài viết khác của tôi như “Bàn về cái sự ‘học'”, “Tôi học tiếng Nhật ‘vui’ thế nào”“Bàn về ‘tự do'”.

Bàn về cái sự “học”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “How children fail” và “How children learn” của John Holt, “Thinking Fast and Slow” của Daniel Kahneman.

1. Mô hình thế giới thu nhỏ

Có khi nào chúng ta tự hỏi: chúng ta ghi nhớ tri thức như thế nào? Tri thức tồn tại trong trí não chúng ta dưới dạng gì? Nhìn vào cung cách dạy và học ở trong hệ thống trường lớp chính quy hiện nay, dường như phần đông chúng ta, hay ít nhất là phần đông những người làm giáo dục, tin rằng tri thức tồn tại dưới dạng các câu trả lời, các “chân lý” và “sự thật” được diễn giải bằng ngôn từ và ghi nhớ nguyên xi trong trí não. Tuy nhiên tôi không nghĩ vậy. Nhiều nhà giáo dục và tâm lý học đã nhắc đến việc tri thức tồn tại trong trí não của con người dưới dạng một mô hình đơn giản hóa của thế giới xung quanh. Theo cách hiểu của tôi, mô hình đó bao gồm những khái niệm, những tính chất, những quan hệ, và những quy luật mà mỗi chúng ta quan sát được từ thế giới xung quanh và được diễn giải bằng suy nghĩ của bản thân mà không cần phải có ngôn từ.

Mô hình đó mô tả lại thế giới xung quanh nhưng không nhất thiết phản ánh đúng toàn bộ bản chất thế giới xung quanh, mà nó chỉ phản ánh cách chúng ta quan sát và lý giải thế giới tại một thời điểm nhất định, với những giới hạn về năng lực, kinh nghiệm và môi trường tại thời điểm đó. Mô hình này trống rỗng khi chúng ta mới sinh ra, và được bồi đắp thêm, sửa chữa lại, bỏ bớt đi theo quá trình trường thành của chúng ta. Cấu trúc của nó có thể giống như một tập hợp các trang wikipedia, nhưng được viết bằng suy nghĩ, hình ảnh và cảm giác chứ không phải ngôn từ. Mỗi trang viết về một đề tài tương đương với một khái niệm được lưu giữ trong trí não. Nội dung của trang sẽ chứa những tính chất, quy luật, ký ức,… của chúng ta về khái niệm đó. Đồng thời trong mỗi trang sẽ có những đường link đến các trang khác, thể hiện cho các mối dây liên kết giữa các khái niệm với nhau. Chỉ có điều số lượng khái niệm và quan hệ cũng như lượng thông tin mà chúng ta lưu giữ sẽ lớn hơn rất nhiều một trang wikipedia thông thường, trong khi đó công cụ tìm kiếm lại thường là thiếu tin cậy.

2. Việc “học” diễn ra thế nào

Việc “học” là việc tiếp thu thông tin mới. Khi tiếp thu một thông tin nào đó, chúng ta sẽ sử dụng mô hình thế giới mà mình đang có để diễn dịch thông tin đó thành suy nghĩ của bản thân, đồng thời tìm cách lý giải và phân loại thông tin đó, để xác định xem nó nói về cái gì trong mô hình của chúng ta, và nó có “hợp lý” hay không. Nếu thông tin đó chứa những khái niệm mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những khái niệm đó trong mô hình. Nếu thông tin đó chỉ ra những mối quan hệ mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những kết nối mới giữa các khái niệm trong mô hình với nhau. Những tính chất, quy luật mới sẽ được ghi chú lại vào những khái niệm tương ứng. Tóm lại, việc học không đơn giản chỉ là ghi nhớ tri thức, mà là một quá trình diễn dịch, lý giải tri thức và sau đó kết nối, hòa nhập tri thức vào mô hình thế giới của cá nhân, tương tự như quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể vậy.

Tuy nhiên, cùng một tri thức không phải bao giờ cũng sẽ được tiếp thu như nhau. Một đứa trẻ chưa có khái niệm gì về ký hiệu toán học hay tổng, tích, bằng sẽ chỉ thấy “3×3=9” là mấy đường kẻ ngoằn ngoèo vô nghĩa. Một đứa trẻ mới chỉ học thuộc bảng cửu chương mà chưa thực sự nắm được khái niệm tính nhân rất có thể sẽ chỉ nhớ rằng “3×3=9” và “3×4=12” mà sẽ không hiểu được rằng “3×4=3×3+3”, và nếu có được dạy điều đó cũng rất có thể sẽ chỉ coi đó là một tri thức mới mà không nhận ra đó là một quan hệ có thể suy ra từ tri thức đã có. Khi tri thức mới không tạo được kết nối với mô hình thế giới đã có bên trong trí não chúng ta, và không thể được kiểm chứng bằng mô hình đó, thì đối với trí não chúng ta lúc đó tri thức ấy chưa được “chứng minh”, không có tính “hợp lý”, không mang theo “ý nghĩa”, mà đơn giản chỉ là một “dữ liệu” xa lạ. Nếu bị bắt buộc chúng ta vẫn có thể ghi nhớ một cách gượng ép, nhưng khi đó tri thức ấy sẽ chỉ được “neo tạm” với mục đích đối phó mà sẽ không được tin tưởng dùng đến trong cuộc sống, trừ khi bị kiểm tra.

Nhìn vào cách học và dạy học thường thấy trong trường lớp, tôi có cảm tưởng là chúng ta nghĩ rằng việc “học” tri thức là việc “nuốt trôi” tri thức, như đổ nước vào bình vậy. Chúng ta nghĩ rằng cứ truyền tải được, nhớ được là đã học được, nên chúng ta mặc định rằng dạy học hiệu quả là truyền tải được thật nhiều tri thức, và đánh đồng việc dạy học với việc học. Thêm vào đó, chúng ta cũng không mấy quan tâm xem từng người học có sẵn sàng và mong muốn đón nhận tri thức hay không, mà cứ nhắm mắt dạy theo một giáo trình và thời gian biểu khuôn mẫu. Kết quả là các nhà giáo dục nước ta chỉ thấy bàn về việc cải tiến phương pháp dạy, dạy cái gì vào lớp mấy, làm thế nào để dạy học hiệu quả hơn, chứ tuyệt không thấy mấy ai tìm hiểu xem người học học thế nào, người học muốn học cái gì, làm thế nào để người học học hiệu quả hơn. Rốt cuộc chúng ta dạy là để giúp người học học hay là dạy chỉ để dạy, để thỏa mãn mục đích ích kỷ của chúng ta?

3. “Chân lý” nằm ở đâu

Nếu hỏi một nhà khoa học đích thực xem cái gì quyết định đúng sai, thì có lẽ người đó sẽ trả lời là “thực tiễn”. Nhưng nếu hỏi một em học sinh xem ai có quyền quyết định đúng sai, thì tôi dám chắc câu trả lời sẽ là “thầy cô giáo”. Một nhà khoa học tìm kiếm chân lý bằng cách quan sát thực tiễn, đưa ra các giả thuyết, và kiểm nghiệm các giả thuyết đó bằng thực tiễn. Mỗi giả thuyết thể hiện cho một cách hiểu, một cách nhìn đối với cùng một thực tiễn, và nhiều giả thuyết khác nhau, thậm chí trái ngược, có thể song hành cùng tồn tại cho đến khi bị chứng minh là sai. Đó là khoa học. Còn ở trong trường lớp, thầy cô giáo (và SGK) là người nắm độc quyền đối với “chân lý”. Mọi “chân lý” đều xuất phát từ thầy cô giáo, muốn biết “chân lý” chỉ có thể hỏi thầy cô giáo. Mọi kết luận và kết quả mà người học đưa ra đều phải qua sự đánh giá đúng sai của thầy cô giáo. Người học không có công cụ và quyền hạn để tự đánh giá và kiểm chứng thành quả trí óc của chính mình, cũng như không được có cơ hội và sự giúp đỡ để tự do tìm kiếm chân lý của riêng mình.

Hậu quả là những thứ chúng ta đang dạy trong trường lớp, nhìn từ phía người học, đơn giản chỉ là “cách để có kết quả được thầy cô giáo chấp nhận là đúng” chứ không phải là tri thức và kỹ năng gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Người học học những quy trình, quy luật và nội dung do thầy cô giáo đưa ra, nhưng hầu như không có cách nào tự mình kiểm chứng xem những gì mình học có “đúng” hay không, có “hợp lý” hay không, có ý nghĩa gì hay không, mà chỉ có thể nộp bài cho thầy cô giáo chấm và cầu trời được điểm tốt. Ở trường lớp, người học bị buộc phải học và sống trong một thế giới khác, tách biệt với thực tiễn cuộc sống, một thế giới mà mọi chân lý đều đã ghi cứng trong sách vở và mọi luật lệ do thầy cô giáo nắm trong tay. Trong thế giới đó không có chỗ cho sự nghi ngờ và kiểm chứng, sự tìm tòi và khám phá, hay sự khác biệt và tự do, mà chỉ có sự phục tùng và chấp nhận vô điều kiện mà thôi.

Nói cách khác, những cái chúng ta đang dạy trong trường lớp, tuy hầu hết mang danh khoa học, nhưng thường xuyên được truyền tải bằng một phương pháp không hề có tính khoa học, mà giống với việc giảng đạo trong các tôn giáo cực đoan khi nói về thần quyền hơn. Chân lý thực sự phải đến từ thực tiễn, hoặc ít nhất là đến từ niềm tin của chính bản thân người học, chứ không phải do người ngoài áp đặt lên. Người học phải được nghi ngờ và kiểm chứng tri thức trong thực tiễn hoặc trong mô hình thế giới của bản thân, phải được từ chối những tri thức mình chưa sẵn sàng tiếp thu hay không cảm thấy thuyết phục, và phải được giữ những suy nghĩ, cách nhìn nhận của riêng bản thân cho đến khi tự mình nhận thấy cần sửa đổi. Tri thức ở trường lớp chỉ cần đọc sách cũng có thể biết, nhưng khả năng tự học và suy nghĩ độc lập phải được nuôi dưỡng mới có thể có được.

4. Thế nào là “tự học”

Chúng ta thường có một định kiến rằng chỉ có thầy cô giáo và trường lớp mới có tư cách và khả năng “dạy học”, rằng không có họ thì người học không thể “học” được, rằng không có sự dẫn dắt, thôi thúc, bắt ép, kiểm tra của họ thì người học sẽ ngồi không chứ không “tự học”. Thực tế một đứa bé mới sinh ra đã có khả năng tự học và tính ham học rất cao. Lượng tri thức và kỹ năng mà một đứa trẻ tự học được cho đến trước khi vào trường lớp là rất lớn, và có ý nghĩa thực tế hơn rất nhiều những gì nó bị bắt phải học suốt mười mấy năm sau đó. Những tri thức và kỹ năng đó bao gồm những khái niệm căn bản về hình dạng, mùi vị, màu sắc, về những đồ vật, con người và môi trường xung quanh, những hiểu biết căn bản về giao tiếp người với người, về tiếng mẹ đẻ, và các quy luật tự nhiên đơn giản nhất như vật buông ra thì rơi, hay vật cứng bẻ mãi thì gãy, nhưng vật mềm thì ko gãy,… Trẻ em chỉ mất đi khả năng và ham muốn tự học khi phải bước vào trường lớp mà thôi.

Vậy một đứa trẻ tự học như thế nào? Câu trả lời rất đơn giản: bằng cách lặp đi lặp lại quá trình thu thập thông tin, rút ra kết luận, rồi kiểm nghiệm kết luận đó. Một ví dụ đơn giản là khi trẻ khóc mà mẹ lập tức chạy lại chỗ trẻ, và việc này được lặp đi lặp lại, thì trẻ sẽ hiểu rằng hành động khóc của mình có thể tạo nên sự thay đổi, có thể lôi kéo sự chú ý của mẹ, tức là mình có thể “giao tiếp” được với mẹ. Quá trình này có thể diễn ra một cách vô thức, và những tri thức thu được cũng không hề cần được diễn giải bằng ngôn từ. Việc tự học ở các độ tuổi sau này cũng giống như vậy về bản chất. Thông tin có thể được thu thập qua quan sát thực tiễn hay tiếp thu các nguồn thông tin có sẵn từ sách vở hay truyền miệng. Việc kiểm nghiệm có thể được diễn ra bằng thí nghiệm thực tiễn, đối chiếu nhiều nguồn, hay đơn giản là một phép đánh giá mức độ “hợp lý” trong mô hình thế giới của cá nhân.

Tự học là hình thức học hiệu quả nhất, vì chúng ta chỉ tự học những thứ chúng ta thấy có hứng thú, có mong muốn, có nhu cầu, và đã sẵn sàng để học. Nếu ai đó có thấy quá trình tự học nói trên có phần quen thuộc, thì có lẽ là bởi toàn bộ công cuộc khám phá khoa học của con người cũng chính là một quá trình tự học. Có người có thể cho rằng việc để cho người học tự mình khám phá những tri thức đã có sẵn là việc “phát minh lại cái bánh xe”. Tôi không cho là vậy. Nhân loại đã phát minh ra cái bánh xe, nhưng đối với một đứa trẻ chưa nhìn thấy cái bánh xe bao giờ, thì cái bánh xe vẫn là một thứ mới lạ so với mô hình thế giới mà đứa trẻ đó đang mang trong mình, và do đó cần có quá trình khám phá và kết nối như mọi tri thức khác. Đứa trẻ cũng không cần phải phát minh lại cái bánh xe, mà cái bánh xe đã có sẵn ở đó, ở khắp nơi quanh nó, chỉ đợi đứa trẻ quan sát và học hỏi mà thôi.

5. Điều kiện cho việc tự học

Để có thể tự học được, chúng ta cần có một số điều kiện nhất định: 1. một môi trường tương đổi ổn định không quá hỗn loạn, 2. cơ hội và thời gian để quan sát, kết luận và kiểm nghiệm, và 3. phản hồi rõ ràng và nhanh chóng từ môi trường xung quanh. Đối với điểm 1, toàn bộ hệ thống tri thức của con người được xây dựng dựa trên tiền đề là môi trường xung quanh chúng ta hoạt động theo những quy luật nhất định, và chúng ta có thể đoán trước kết quả nếu nắm được những quy luật đó. Một môi trường quá hỗn loạn, thay đổi liên tục và đầy bất ngờ sẽ khiến cho người học không thể nhìn ra được những hình mẫu và quy luật ẩn trong đó. Hãy tưởng tưởng thế giới sẽ loạn thế nào nếu như cùng một đoạn thẳng mà mỗi lần đo lại ra một chiều dài khác nhau? Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên vì thế mà tạo một môi trường giả tạo, “nhà kính” dành riêng cho người học, mà chỉ nên hạn chế sự hỗn loạn ở một mức độ vừa phải để không che lấp đi các quy luật.

Điểm 2 là điểm yếu căn bản của hệ thống trường lớp hiện tại. Thông thường, chúng ta không ghi nhớ từng chi tiết, từng thông tin trong cuộc sống. Chỉ khi chúng ta bắt gặp một thông tin nhiều lần, hoặc thông tin đó để lại ấn tượng, gây sự hứng thú, thì chúng ta mới bắt đầu nhận ra, để ý đến, và xử lý nó một cách thực sự. Chúng ta học bằng cách tắm mình trong biển thông tin thô, và chỉ giữ lại một lượng nhỏ thông tin nguyên liệu mà chúng ta thấy có giá trị để biến thành sản phẩm hoàn thiện là tri thức. Việc thu thập thông tin diễn ra nhanh hay chậm, theo thứ tự nào, tập trung vào mảng nào phụ thuộc vào sở thích và năng khiếu của từng người. Trong khi đó hệ thống giáo dục ở trường lớp, vì nôn nóng hay vì không hiểu và không tin tưởng vào quá trình tự học, lại chỉ muốn người học chấp nhận và nuốt trôi những sản phẩm cuối cùng một cách nhanh chóng theo một thời gian biểu định trước.

Điểm 3 có lẽ là điểm ít được để ý đến. Tốc độ và mức độ rõ ràng của các phản hồi đối với những thí nghiệm của người học, dù phản hồi đó đến từ môi trường hay người hướng dẫn, đóng vai trò rất lớn đến tốc độ và chất lượng của quá trình tự học. Đó cũng chính là lý do vì sao các ngành khoa học tự nhiên thường chính xác và cụ thể hơn các ngành khoa học xã hội: trái với xã hội loài người, tự nhiên là một nguồn phản hồi nhanh chóng và chất lượng. Một ví dụ cho lĩnh vực có phản hồi tốt và do đó rất thích hợp cho tự học là công nghệ thông tin. Máy tính phản hồi tức khắc, và trong cùng một điều kiện luôn cho phản hồi giống nhau. Điều tương tự cũng có thể áp dụng vào việc đào tạo nhân viên hay bất cứ đối tượng nào khác. Việc đưa ra phản hồi thường xuyên và rõ ràng sẽ có hiệu quả tốt hơn là gom góp và chờ đợi. Điều quan trọng cần nhớ là hãy để phản hồi chỉ là phản hồi, không nên là sự uốn nắn và chỉ trích. Việc sử dụng phản hồi như thế nào nên được để cho người học tự quyết định.

6. Cần gì phải “kiểm tra”

Một trong những sự cản trở việc học tập mà hệ thống trường lớp gây ra cho người học, bên cạnh việc độc quyền chân lý và bóp chết khả năng tự học, là việc “nghiện” kiểm tra. Các kỳ kiểm tra, thi thố được thực hiện với mục đích “đánh giá kết quả học tập” của người học. Nhưng cá nhân tôi cho rằng việc kiểm tra không nói lên chính xác lượng và chất của tri thức, mà đơn thuần chỉ đánh giá khả năng làm bài kiểm tra của người học mà thôi. Có lẽ ở Việt Nam không có người nào ảo tưởng đến mức thực sự tin rằng kết quả bài thi tốt nghiệp THPT nói lên trình độ tri thức tổng quát cần có ở một học sinh THPT khi bước vào xã hội. Vì nếu quả thực như vậy, thì hãy thử cho tất cả những người đã tốt nghiệp làm lại một bài thi đột xuất xem sao. Chắc chắn quá nửa số người sẽ trượt thẳng cẳng, tức là không đủ tư cách tốt nghiệp THPT. Vậy tại sao họ lại được mang bằng THPT, được ra xã hội làm việc? Chỉ riêng sự tồn tại của khái niệm “học ôn thi” đã đủ nói lên sự vô nghĩa của các bài thi đó.

Trên thực tế, các bài kiểm tra là một hình thức phạt đòn đối với người học, là cây gậy trong chiến lược cây gậy và củ cà rốt. Mà đã là phạt đòn, thì sẽ gây ra sự sợ hãi và đối phó. Người học sẽ học để có thể đạt điểm tốt, thay vì học để thu tri thức về mình, để khám phá thế giới, để cảm nhận sự vui thú của bản thân việc học. Gần đây giới giáo dục có câu nói “cần gì, học nấy”, nhưng chừng nào còn có kiểm tra và thi cử, thì thực tiễn sẽ vẫn mãi là “thi gì, học nấy” mà thôi. Tất nhiên tôi không phủ nhận hoàn toàn vai trò của việc thi cử. Tất cả các tổ chức hoàn toàn có quyền yêu cầu một kết quả thi nhất định trước khi cấp chứng chỉ hay nhận đầu vào. Các bài kiểm tra cũng là một công cụ tốt để người học đánh giá tiến bộ, miễn là nó không mang tính bắt buộc và không có hậu quả về sau. Nếu chúng ta biến việc thi thố kiểm tra thành một phần của việc học với những hậu quả tâm lý và sự nghiệp nặng nề, thì tức là chúng đang phá hoại động lực học tập tự thân của người học.

7. “Thoát trường học”

Giải pháp mà cá nhân tôi thấy hợp lý nhất cho những hạn chế của hệ thống trường lớp hiện nay có thể được tìm thấy trong phong trào “thoát trường học” (unschooling), bắt đầu xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970. Phong trào này đề cao tính tò mò và khả năng tự học của trẻ em, và cho rằng quyền quyết định học gì, vào lúc nào và bằng cách nào nên thuộc về trẻ em. Trẻ em có thể học bằng cách quan sát xung quanh, đọc sách báo tư liệu, trải nghiệm thực tế, tiến hành thí nghiệm, thực hiện các dự án, kể cả tham gia các khóa học thông thường,… Người hướng dẫn (cha mẹ, thầy cô giáo) sẽ chỉ có vai trò giúp đỡ bằng cách cung cấp tư liệu học, dẫn trẻ đến những nơi giúp ích cho việc học, đưa ra các gợi ý, hướng dẫn và câu trả lời khi được yêu cầu, quan sát và ghi chép tiến trình học, đảm bảo an toàn cho trẻ trong quá trình học, và nói chung là hỗ trợ nhưng không điều khiển việc học.

Trong phương pháp học này, trẻ em được chịu trách nhiệm và tự do theo đuổi mơ ước, sở thích, năng khiếu và nhu cầu học của bản thân. Việc học cũng sẽ được diễn ra không theo một thời gian biểu cố định nào, mà tùy vào mức độ sẵn sàng của trẻ, vì mỗi đứa trẻ đều có con đường phát triển trí não của riêng mình. Một đứa trẻ hoàn toàn có thể đợi đến 7-8 tuổi mới bắt đầu học đọc học viết, nếu như điều đó phù hợp với sự phát triển trí não của cá nhân đứa trẻ. Điều quan trọng là trong suốt thời gian học và sinh hoạt, đứa trẻ luôn được nhìn thấy mọi người xung quanh đọc và viết, để nó có thể thấy rằng đọc và viết là những kỹ năng cần thiết và có ích, từ đó nảy sinh mong muốn học những kỹ năng đó. Mức độ tiến triển và kết quả của việc học tập sẽ không được đánh giá qua các bài kiểm tra, mà qua chính những gì đứa trẻ đã làm được trong quá trình học: những cuốn sách đã đọc, những dự án đã hoàn thành, những bài phát biểu và bài viết, và quan trọng nhất, là thông qua giao tiếp trực tiếp với đứa trẻ đó.

Chú ý rằng tôi không cho rằng “thoát trường học” là phương pháp giáo dục hoàn hảo dành cho tất cả mọi trẻ em. “Thoát trường học” cũng có một số vấn đề cần lưu ý phòng tránh như nguy cơ thiếu hụt giao tiếp xã hội và bạn bè, xung đột với hệ thống giáo dục chính quy, nguy cơ hình thành suy nghĩ một chiều cực đoan,… Một số trẻ cũng có thể cảm thấy cách thức học trong trường lớp phù hợp với bản thân hơn. Việc học qua “thoát trường học” cũng có thể được diễn ra song song với việc học tại trường lớp bằng hình thức bán thời gian. Dù gì đi nữa, tôi tin rằng, nếu như đứa trẻ thực sự có mong muốn, thì việc từ chối đến trường cũng như việc được tự do học hành theo ý thích nên được coi là một quyền lợi căn bản của trẻ em.


Bài viết này góp nhặt lại những suy nghĩ rời rạc của tôi về vấn đề học và dạy học cho trẻ em. Tôi không có ý xúc phạm các thầy cô giáo hay phủ nhận những kết quả mà hệ thống trường lớp chính quy đã đạt được kể từ khi ra đời. Nhưng tôi cũng tin rằng những vấn đề tôi nêu ra ở đây là hoàn toàn có thật và đáng suy ngẫm. Xét cho cùng chúng ta dạy học là để làm gì? Chúng ta đang giáo dục trẻ em bằng một quy trình công nghiệp không khác gì một nhà máy sản xuất hàng hóa hàng loạt, đối xử với các em không khác gì những cỗ máy chỉ cần biết làm theo hướng dẫn với một lịch trình có sẵn, vậy mà đùng một cái khi các em lớn lên chúng ta lại yêu cầu các em phải “có tính sáng tạo”, “biết tự suy nghĩ”, vậy chẳng phải nực cười lắm sao? Nên chăng chúng ta hãy dành nhiều niềm tin hơn cho các em, những người mà chúng ta vẫn thường ca tụng là mầm non tương lai của đất nước, để mầm non đó được tự do phát triển một cách tự nhiên, thay vì bị uốn nắn cắt tỉa trong chậu nuôi nhà kính.