Bàn về “hạnh phúc”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A New Psychology of Personal Freedom” của William Glasser, “Utilitarianism” và “On Liberty” của John Stuart Mill.

Có lẽ trong thế gian này không có người nào là không mong muốn bản thân được hạnh phúc. Các tôn giáo lớn hầu hết đều dựa trên một lời hứa hẹn sẽ đem lại hạnh phúc vĩnh cửu, hay ít ra là dài lâu, cho những người nghe theo giáo lý của mình. Nhà nhà người người truyền cho nhau những bí quyết để có một cuộc sống hạnh phúc, một gia đình hạnh phúc. Một số quốc gia còn lấy chỉ số hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phát triển. Thế nhưng dường như đối với phần đông mọi người, hạnh phúc vẫn là một cái gì đó khá mơ hồ và huyền bí. Bài viết này là một nỗ lực cá nhân, dựa trên những ý tưởng của người đi trước, nhằm lý giải hạnh phúc theo một cách rõ ràng và dễ hiểu, để từ đó mỗi người có thể rút ra được những kết luận có cơ sở hơn trong việc tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình.


1. Hạnh phúc là gì

“Hạnh phúc” là một trạng thái tinh thần của con người khi các nhu cầu tinh thần được đáp ứng trên một mức độ nhất định nào đó. Các nhu cầu tinh thần này có thể được chia làm năm phân loại nhu cầu chính: 1. nhu cầu sinh tồn, 2. nhu cầu khám phá, 3. nhu cầu quyền lực, 4. nhu cầu yêu thương, và 5. nhu cầu tự do. Mức độ đáp ứng cần thiết cho mỗi nhu cầu để có thể đạt được và duy trì trạng thái “hạnh phúc”, cũng như những phương pháp cụ thể để có thể đáp ứng mỗi nhu cầu đó, là khác nhau đối với từng cá nhân. Những xu hướng này phần lớn đã được quyết định ngay từ khi sinh ra, tuy nhiên vẫn có thể chịu ảnh hưởng ít nhiều từ môi trường xung quanh trong suốt quá trình sống và trưởng thành của mỗi con người.

Hạnh phúc chính là mục đích sống cao nhất của con người. Đó là vì hạnh phúc chính là lợi ích tối cao, và cũng có thể nói là lợi ích thực chất duy nhất của tất cả mọi con người. Tất cả mọi lợi ích khác theo những cách hiểu thông thường đều có thể được diễn giải thành một phương tiện hay bước đệm để đạt đến cảm giác hạnh phúc, hoặc chính là một phần của hạnh phúc. Đó là bởi việc hưởng thụ tất cả mọi lợi ích đều phải diễn ra thông qua một sự cảm nhận chủ quan, tức là qua một “màng lọc” của tinh thần, để tạo nên một cảm giác tích cực khiến cho chúng ta mong muốn những lợi ích đó, và cảm giác đó chính là hạnh phúc. Tất cả các hành vi hay quyết định của con người, do đó, được đưa ra đều là vì chúng ta tin rằng chúng sẽ đem lại hạnh phúc cho bản thân, dù có thể đó chỉ là một thứ hạnh phúc được hứa hẹn trong tương lai, chứ không hề thấy được trước mắt.

Hạnh phúc là một trạng thái thuần túy thuộc về tinh thần, và các nhu cầu để đạt được hạnh phúc cũng hoàn toàn là các nhu cầu tinh thần. Điều đó có nghĩa là hạnh phúc mang tính chủ quan: một sự vật sự việc khách quan bản thân nó không tạo nên hạnh phúc, mà chỉ đem lại hạnh phúc khi chúng ta nhận thức được nó, và kết quả nhận thức đó phù hợp với các nhu cầu và tiêu chuẩn của riêng mỗi chúng ta về hạnh phúc. Do vậy, không hề tồn tại một tiêu chuẩn chung khách quan và cụ thể cho hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người, mà mỗi người cần phải tự tìm ra hạnh phúc của riêng mình.  Tập hợp những nhận thức và hiểu biết của một con người về những nhu cầu và phương pháp để đạt đến hạnh phúc cho bản thân là một bộ phận rất quan trọng của nhân cách mỗi cá nhân, và khi phát triển đến một mức độ nhất định, còn được gọi với một cái tên khác là “đạo đức” (tham khảo bài viết trước).

2. Năm nhu cầu tinh thần

a. Nhu cầu sinh tồn

Nhu cầu sinh tồn, hay còn có thể gọi là nhu cầu thể xác, bao hàm tất cả những nhu cầu sinh lý cơ bản thiết yếu như hít thở, ăn uống, ngủ nghỉ, bài tiết, toàn vẹn cơ thể,… cũng như các nhu cầu thể xác khác “xa xỉ” hơn như tiện nghi thoải mái, khoái cảm tình dục, hay thậm chí là khoái cảm do các loại chất kích thích mang lại,… và tất nhiên không thể không nói đến một nhu cầu rất quan trọng là cảm giác an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản. Những nhu cầu thuộc phân loại này tuy hết sức phong phú và đa dạng, và nhiều khi có vẻ rất khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung: nhằm đảm bảo cho sự tồn tại liên tục của thể xác con người ở một mức độ thỏa mãn nhất định. Do ít nhất ở thời điểm hiện tại, ý thức của con người luôn phải gắn liền với và được duy trì bằng thể xác, nên mọi sự đe dọa hay bất tiện đối với thể xác cũng sẽ có thể có tác động tiêu cực đến sự thỏa mãn của tinh thần, và do đó làm giảm hạnh phúc của cá nhân.

Tùy vào các nhu cầu cụ thể của thể xác, mà sự thiếu thốn của nhu cầu sinh tồn có thể được cảm nhận bằng nhiều cách khác nhau. Những nhu cầu sinh lý thiết yếu có thể dễ dàng được cảm nhận thông qua những tín hiệu rõ ràng trực tiếp từ cơ thể như cảm giác đói, khát, nóng, lạnh, đau đớn, mệt mỏi,… Những nhu cầu khác không nhất thiết phải có cho sự sống, nhưng có thể đem lại sự thõa mãn tinh thần, thì được thể hiện qua những cảm giác mơ hồ hơn như thèm muốn, bức bối, khó chịu,… Và nhu cầu an toàn thì tất nhiên đem lại cảm giác sợ hãi lo lắng nếu như không được đáp ứng. Chú ý rằng nhu cầu sinh tồn vẫn là nhu cầu tinh thần, dù nó có quan hệ mật thiết với thể xác con người. Một sự vật sự việc nhất định đem lại cảm giác hạnh phúc đến đâu, không những phụ thuộc vào các đặc điểm của cơ thể người đó, mà còn phụ thuộc vào việc nhân cách người đó đánh giá cao đến mức nào và có ham muốn đến đâu đối với nhu cầu cụ thể mà sự vật sự việc đó thỏa mãn.

Vai trò của nhu cầu sinh tồn là rất rõ ràng: nó là động lực để chúng ta duy trì sự sống của bản thân. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng tính mạng mình sẽ bị đe dọa nghiêm trọng thế nào nếu như tất cả các cảm giác như đói khát hay đau đớn đột ngột biến mất. Việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn cũng là một việc khá đơn giản, không phải theo nghĩa dễ dàng, mà theo nghĩa trong đại đa số trường hợp, chỉ bằng trực giác chúng ta cũng có thể biết khá rõ điều mình cần phải làm để đáp ứng những nhu cầu đang thiếu thốn: đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì ngủ, sợ hết tiền thì làm việc… Tuy nhiên, nhu cầu sinh tồn lại đòi hỏi một lượng tài nguyên không hề nhỏ để duy trì, cả về vật chất (tiền bạc, đồ ăn,…), tinh thần (hôm nay ăn gì?), lẫn thời gian (1/3 cuộc đời để ngủ). Điều này khiến cho hạnh phúc mang lại bởi việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn, tuy có vai trò nền tảng quan trọng đối với hạnh phúc của con người, nhưng không lâu bền mà lại tốn kém hơn nhiều so với những nhu cầu còn lại.

b. Nhu cầu khám phá

Nhu cầu khám phá là nhu cầu kích thích trí não bằng những trải nghiệm mới mẻ. Trí não ở đây bao gồm tất cả các giác quan, cảm xúc cũng suy nghĩ có ý thức của con người. Trải nghiệm mới mẻ có thể chỉ đơn giản là một giai điệu mới, một hình ảnh mới, một cảm giác mới, mà cũng có thể là một hiểu biết mới, một ý tưởng mới, một kỹ năng mới,… Nhu cầu khám phá chính là lý do khiến cho chúng ta muốn đi du lịch, muốn xem triển lãm nghệ thuật, muốn chơi trò chơi, muốn đọc sách, muốn xem tivi, và nói chung là tham gia vào các hoạt động giải trí. Nhu cầu khám phá cũng có thể được dùng để giải thích cảm giác buồn cười khi bắt gặp những tình huống hài hước: đó là vì sự hài hước thường đến từ những trải nghiệm vượt xa khỏi phạm vi những gì chúng ta coi là “bình thường”, hay nói cách khác, chúng ta thấy buồn cười khi tiếp xúc với những trải nghiệm “siêu mới mẻ”, tất nhiên là với điều kiện chúng ta cảm thấy những trải nghiệm đó là vô hại đối với bản thân.

Chú ý rằng sự “mới mẻ” ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, tức là mới mẻ trong một khung thời gian và khung ý thức nhất định. Một trải nghiệm mà một người đã từng trải qua trong quá khứ vẫn có thể đem lại một sự thỏa mãn nhu cầu khám phá nhất định, nếu như trải nghiệm đó là tương đối mới mẻ so với tập hợp những trải nghiệm của người ấy trong một khoảng thời gian gần đó. Ngược lại, một trải nghiệm dù là đầu tiên, nhưng nếu sau đó được lặp đi lặp lại liên tục trong một khoảng thời gian ngắn, thì ít nhất là trong khoảng thời gian đó, trải nghiệm ấy mất dần đi độ “mới”, và do đó cảm giác hạnh phúc nó tạo ra cũng sẽ phai nhạt dần. Đồng thời, cùng một trải nghiệm với các yếu tố giống hệt nhau, nhưng nếu được tiếp nhận với một cách nhìn khác, một tâm trạng khác, tức là với một ý thức bên trong khác, thì vẫn có thể tạo nên cảm giác mới mẻ, và do đó vẫn có thể được xem như một sự khám phá.

Khác với nhu cầu sinh tồn, việc đáp ứng nhu cầu khám phá không nhất thiết đòi hỏi sự tiêu tốn lớn về tài nguyên. Con người chúng ta, nhất là trẻ em, có thể tìm ra vô số cách để có những trải nghiệm mới mà không hề tốn kém: một cuốc đi dạo trên một con đường lạ, leo trèo lên cao để có một góc nhìn mới, tự nghĩ ra một điệu nhảy múa may quay cuồng, và chắc chắn phải kể đến hoạt động mà tôi ưa thích, đó là nằm một chỗ và tưởng tượng suy nghĩ về đủ thứ trên đời. Có thể nói rằng, đối với một người có khả năng quan sát và cảm nhận, và chịu quan sát và cảm nhận, thì thế giới bên ngoài lẫn bên trong chúng ta luôn tràn ngập những nguồn cảm hứng khám phá. Tất nhiên, mức độ thỏa mãn đem lại là khác nhau đối với từng trải nghiệm và đối với từng cá nhân cụ thể. Không phải ai cũng thấy bốn tiếng đồng hồ ngồi câu cá là thích thú, và không phải ai cũng thấy một chuyến leo núi mạo hiểm là hấp dẫn.

Bên cạnh việc thuần túy đem lại cảm giác hạnh phúc, nhu cầu khám phá còn đóng một vai trò rất quan trọng: đó là một trong những động lực chính của quá trình học hỏi của con người. Nếu xem việc học là việc tiếp nhận bất cứ một điều gì mới vào bên trong trí não của chúng ta, thì có thể nói rằng nhu cầu khám phá cũng chính là nhu cầu học hỏi. Mọi con người sinh ra đều sẵn có tính tò mò ham hiểu biết, chính là vì việc khám phá, hay học, tự nó đã mang lại sự vui vẻ thích thú. Và rất có thể nhu cầu khám phá đã được tạo nên bởi quá trình tiến hóa nhằm mục đích để cho con người có một động lực tự nhiên và thường xuyên cho việc học, một hoạt động rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Việc học chỉ trở nên khó chịu, khi tổn thương mà nó đem lại đối với những nhu cầu tinh thần khác vượt quá lợi ích đạt được. Do đó có thể nói rằng mọi phương pháp giáo dục, nếu khiến cho việc học không đem lại sự vui vẻ thích thú, thì đều là đi ngược lại quy luật của tự nhiên, và do đó sẽ không thể đạt được hiệu quả cao nhất.

c. Nhu cầu quyền lực

Nhu cầu quyền lực, hay còn có thể gọi là nhu cầu thành công, là nhu cầu thấy một điều gì đó diễn ra đúng theo như mình mong muốn. Chúng ta thường hiểu “quyền lực” là khả năng khiến cho người khác làm theo yêu cầu của bản thân. Tuy nhiên con người cũng có thể cảm thấy mình “quyền lực” khi chế ngự được thiên nhiên, khi đạt được thành công trong công việc, hay khi thấy bản thân đang trở nên đúng với hình mẫu mà mình mong muốn,… Một phần sự thích thú của con người đối với âm nhạc có thể được giải thích là vì khi nghe nhạc, trong vô thức chúng ta nhận thấy những âm thanh mình đang nghe có một quy luật nhất định, và chúng ta sử dụng quy luật đó để dự đoán sự lên xuống cũng như nhịp độ và thời điểm của các âm thanh tiếp theo. Khi bản nhạc diễn ra đúng theo sự dự đoán của chúng ta, thì chúng ta sẽ cảm thấy một sự khoan khoái vì thấy nó “hợp lý”. Ngược lại, một bản nhạc trúc trắc và loạn nhịp thường sẽ đem lại một cảm giác khó chịu cho người nghe.

Nhu cầu quyền lực rất có thể đã phái sinh một cách tự nhiên từ nhu cầu sinh tồn và tách ra thành một nhu cầu độc lập. Đó là vì so với thế giới xung quanh, con người quá nhỏ bé và yếu ớt. Chỉ một bầy thú dữ, một cơn dịch bệnh, hay một trận hạn hán cũng có thể quét sạch cả một cộng đồng người. Nỗi sợ hãi đến từ việc ý thức và cảm nhận một cách đầy đủ điều đó là quá lớn, và có thể khiến cho con người hoàn toàn tê liệt vì tuyệt vọng. Để có thể giữ được một cảm giác an toàn nhất định, con người cần cảm thấy, hay ít nhất tin rằng, mình có thể điều khiển được phần nào đó hiện thực xung quanh theo mong muốn của bản thân. Nhu cầu quyền lực, song song với nhu cầu khám phá và nhu cầu sinh tồn, có thể được coi là động lực chính cho toàn bộ công cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xây dựng nên văn minh của nhân loại.

Khi nhu cầu quyền lực không được đáp ứng, chúng ta thường sẽ sinh ra cảm xúc tức giận, thất vọng, bất lực hay căm ghét. Tuy nhiên cũng như các nhu cầu khác, việc nhu cầu quyền lực được đáp ứng hay không được đáp ứng, và ở mức độ nào, trong một trường hợp cụ thể là phụ thuộc vào nhân cách của từng cá nhân. Trong đó, một điểm đáng chú ý là tuy mọi sự trở ngại đối với cuộc sống con người đều đem lại sự bất hạnh ở mức độ nào đó, nhưng đại đa số mọi người sẽ thấy giận dữ hơn nhiều nếu như biết được, hay nghĩ rằng mình biết, đằng sau những trở ngại mình gặp phải có một ai đó đang cố tình “trêu ngươi”. Đó là vì khi ấy, sự trái ý không chỉ còn dừng ở bản thân trở ngại nữa, mà còn bao gồm cả việc hình ảnh về một bản thân “đáng được tôn trọng”, “đáng được ABCXYZ” đang bị phá vỡ. Có thể nói rằng chúng ta càng xây dựng nhân cách bản thân theo hướng mình “đáng được” cái này “đáng được” cái kia, thì chúng ta sẽ càng tự đẩy mình vào thế phải chịu bất hạnh.

Nhu cầu quyền lực là một nhu cầu khá oái oăm, vì việc đáp ứng nó không hề đơn giản như nhu cầu sinh tồn hay khám phá, và trong nhiều trường hợp, nỗ lực đáp ứng nhu cầu này lại chỉ dẫn đến kết quả ngược lại. Điều này xảy ra khi chúng ta lựa chọn việc nhắm tới những đối tượng nằm ngoài khả năng kiểm soát của bản thân để tìm cách điều khiển theo những cách thiếu hiệu quả, mà đối tượng vô vọng điển hình chính là những người xung quanh. Như tôi đã từng viết trong một bài viết trước, một trong những sai lầm lớn nhất của con người là nghĩ rằng mình có thể bắt được người khác làm theo ý muốn của bản thân. Mọi cố gắng điều khiển người khác mà không tính đến suy nghĩ và cảm xúc của đối tượng, đều sẽ có khả năng rất lớn gặp phải sự cự tuyệt và phản kháng, và do đó sẽ đem lại sự bất hạnh cho chủ thể của hành động. Việc xác định được thứ gì có thể điều khiển và điều khiển theo cách nào, bởi vậy, đóng vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu quyền lực.

d. Nhu cầu yêu thương

Nhu cầu yêu thương là nhu cầu cảm nhận và trân trọng giá trị tồn tại của một điều gì đó, đồng thời nhận lại sự đối xử tương tự từ xung quanh. Trong phần lớn trường hợp, đối tượng mà chúng ta yêu thương là những người thân thiết hoặc vật nuôi, vì những đối tượng này thường sẵn sàng đón nhận những cử chỉ bày tỏ sự yêu thương của chúng ta, cũng như đáp trả lại một cách tương xứng. Sự yêu thương cũng có thể được hướng tới những sự vật sự việc vô tri như cây cảnh, đồ vật, một khái niệm nào đó như dân tộc hay tổ quốc, hoặc thậm chí là tiền bạc,… Tuy vậy, nhu cầu yêu thương là một nhu cầu hai chiều: yêu thương và nhận về sự yêu thương. Vì vậy, sự yêu thương một phía sẽ khó có thể đem lại sự thỏa mãn đầy đủ nhất. Tất nhiên, cảm nhận về tình yêu thương là thuần túy chủ quan, và do đó chúng ta hoàn toàn có thể tự nghĩ rằng mình đang nhận được sự yêu thương từ bất cứ ai hay bất cứ điều gì, giống như chúng ta vẫn tự nghĩ rằng mình đang được vật nuôi yêu quý vậy.

Giá trị của một sự vật sự việc nằm ở mức độ khác biệt và độc nhất, tức là mức độ đặc biệt, của nó so với tập hợp các sự vật sự việc cùng phân loại trong mắt người quan sát. Sự yêu thương sẽ xuất hiện và trở nên mạnh mẽ khi chúng ta bắt đầu ý thức được sự đặc biệt đó. Sự đánh giá ở đây phụ thuộc vào hai yếu tố: chúng ta cảm nhận sự đặc biệt ở những điểm nào và đến mức nào, và chúng ta đặt đối tượng vào phân loại nào để so sánh. Điều này giải thích cho tình cảm yêu thương mạnh mẽ mà cha mẹ dành cho con cái: đối với nhiều người trong số họ, mỗi đứa con đều là một thực thể đặc biệt nhất trong số tất cả mọi thứ trên đời. Tương tự như vậy, những mối liên hệ, những kỷ niệm chung, những sự tương đồng giữa đối tượng với người quan sát có thể sẽ góp phần làm tăng sự đặc biệt tương đối của đối tượng trong mắt người quan sát, và do đó khiến cho tình cảm yêu thương dễ nảy sinh hơn. Khi chúng ta thực sự cảm nhận được rằng mọi sinh linh, mọi sự vật đều khác biệt, đều độc nhất, đều có giá trị to lớn, thì đó cũng là lúc chúng ta cảm nhận được tình yêu thường thấy ở các bậc thánh nhân: thuần khiết, bao la và bình đẳng đối với toàn bộ thế gian.

Nhu cầu yêu thương là một nhu cầu vừa phức tạp vừa đơn giản. Đơn giản vì một người hoàn toàn có thể tự thỏa mãn nhu cầu yêu thương của bản thân mà không cần tốn kém: chỉ cần quan sát hay thậm chí nghĩ đến một điều gì đáng yêu là người đó đã có thể thấy hạnh phúc. Đó là lý do vì sao các video chó mèo trên Youtube lại có sức hút lớn đến như vậy. Sự phức tạp của nhu cầu yêu thương đến từ việc chúng ta hay nhầm lẫn nó với nhu cầu quyền lực, tức là nhầm lẫn tình yêu với sự kiểm soát và điều khiển. Khi chúng ta yêu quý một người hay vật nào đó, chúng ta có xu hướng thể hiện tình cảm đó ra bằng hành động. Hành động đó của chúng ta có thể đem lại hạnh phúc cho đối phương bằng việc khiến họ cảm thấy được yêu thương, mà cũng có thể không, nhất là khi nó đem lại bất hạnh cho họ ở những mặt khác, và điều này phụ thuộc hoàn toàn vào cảm nhận chủ quan. Khi một cá nhân, chỉ vì cho rằng hành động của mình là thể hiện của tình yêu, mà nghĩ rằng đối phương nên/cần/phải chấp nhận nó, và thậm chí là phải thấy hạnh phúc, thì tức là người đó đơn giản chỉ đang muốn thỏa mãn nhu cầu quyền lực của bản thân mà thôi.

Chú ý rằng khái niệm yêu thương ở đây rất khác với khái niệm tình yêu nam nữ (hay nam-nam, nữ-nữ,…). Sự yêu thương bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với tình yêu lãng mạn, và nhu cầu đối với tình yêu lãng mạn cũng có thể được phân tích ra thành nhiều nhu cầu tinh thần khác, trong đó nhu cầu yêu thương chỉ là một thành phần. Nhu cầu yêu thương theo nghĩa rộng đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cho nhân loại có thể cùng chung sống trong những cộng đồng và xã hội, và cùng tồn tại với môi trường xung quanh một cách tương đối hòa bình. Nhu cầu yêu thương khiến cho chúng ta có thể thu được cảm giác hạnh phúc từ bản thân sự tồn tại của các sự vật sự việc khác, chứ không giới hạn ở việc chúng ta có thể sử dụng và tác động đến những sự vật sự việc đó như thế nào. Và do đó chúng ta có được sự thỏa mãn từ việc đơn thuần giữ một mối quan hệ bất can thiệp và mong muốn những điều tốt đẹp đối với thế giới xung quanh.

e. Nhu cầu tự do

Nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy mình là người nắm quyền ra các quyết định của bản thân. Nói cách khác, nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy được sống đúng với nhân cách tự thân của chính mình. Tuy đều mang yếu tố “theo ý mình”, nhưng nhu cầu tự do có sự khác biệt căn bản với nhu cầu quyền lực ở chỗ nhu cầu quyền lực đánh giá kết quả của một quyết định, còn nhu cầu tự do đánh giá nhân cách đứng sau quyết định đó. Điều này lý giải vì sao một số người thường không thích cảm giác bị người khác điều khiển, mặc dù có thể những quyết định và hành động của họ ở thời điểm được đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, và thậm chí là đem lại kết quả tích cực như ý muốn (vd. cảm giác bị dẫn dắt, được sắp xếp sẵn mọi thứ,…). Có thể nói rằng nhu cầu tự do là nhu cầu được thoát khỏi sự kiểm soát và điều khiển của thế giới xung quanh.

Nhu cầu tự do, một khi bị từ chối đáp ứng, nhất là khi điều đó diễn ra một cách thường xuyên, có thể gây hệ quả tiêu cực rất nặng nề và lâu dài đến sức khỏe tinh thần của cá nhân, mà khó có thể được bù đắp lại bởi sự thỏa mãn những nhu cầu khác. Đối với một con người đã ý thức được một nhu cầu tự do nhất định của bản thân, thì việc tự do đó bị phủ nhận tương đương với việc nhân cách, cũng tức là tư cách làm người, bị phủ nhận. Khi đó trong tâm trí cá nhân thường sẽ xuất hiện một cảm giác căm ghét tột độ đối với sự vật sự việc mà cá nhân đó cho là đang cản trở tự do của mình. Bên cạnh thiệt hại trực tiếp về mặt hạnh phúc, việc tự do bị tước đoạt cũng cản trở việc hình thành nhân cách tự thân, và qua đó cản trở sự phát triển năng lực tiềm ẩn của cá nhân, trong đó bị ảnh hưởng nặng nhất có lẽ là khả năng tự chủ và tính sáng tạo.

Cũng giống như nhu cầu yêu thương, việc thỏa mãn nhu cầu tự do, ít nhất trên lý thuyết, không hề tốn kém về vật chất hay thời gian: chúng ta chỉ việc xây dựng nhân cách của riêng mình, và nghe theo ý kiến của nhân cách đó trong mọi việc. Tuy nhiên, trên thực tế điều này đôi khi đòi hỏi một lượng tài nguyên tinh thần không hề nhỏ, và trong một số trường hợp là gây nguy hiểm đến tính mạng. Đó là vì nhu cầu tự do của người này thường xung đột với nhu cầu quyền lực, và đôi khi là cả sinh tồn, của người khác trong cùng một cộng đồng, cũng như gặp phải sự cản trở từ các quy luật của tự nhiên. Tài nguyên tinh thần mà một cá nhân cần phải sử dụng đến để vượt qua những cản trở đó, để chịu đựng thiệt hại đối với những nhu cầu khác trong khi thỏa mãn nhu cầu tự do của bản thân, chính là ý chí tự do. Đồng thời, việc cân bằng giữa tự do của cá nhân và lợi ích của phần còn lại của cộng đồng cũng là một điểm rất quan trọng trong việc vận hành cộng đồng đó.

Vai trò của nhu cầu tự do khá rõ ràng: nó tạo ra động lực để mỗi cá nhân con người mong muốn bảo vệ và phát triển nhân cách riêng của mình, thông qua đó giữ cho xã hội loài người có một sự đa dạng cao về tư tưởng và hành động. Những tư tưởng và kinh nghiệm được tạo ra từ sự đa dạng đó, sau khi trải qua sự thử thách và chọn lọc khi va chạm với các tư tưởng và kinh nghiệm khác, tạo nên toàn bộ hệ thống tri thức và lý luận của con người ngày nay. Có thể nói rằng nhu cầu tự do gián tiếp đảm bảo nguồn nguyên liệu thô cho quá trình tiến hóa của văn minh nhân loại. Bởi vậy, việc tôn trọng quyền tự do tư tưởng và hành động của cá nhân, tất nhiên trong giới hạn đảm bảo ở mức nhất định quyền lợi của các cá nhân khác trong xã hội, là một nguyên tắc không chỉ phù hợp với lợi ích của từng cá nhân, mà còn là phù hợp với lợi ích tổng thể của xã hội loài người, và do đó là một việc làm hợp đạo đức.

3. Đi tìm hạnh phúc

Năm nhu cầu tinh thần nói đến ở trên đơn giản chỉ là một cách phân loại, một cách nhìn đối với tập hợp toàn bộ các nhu cầu hạnh phúc của con người vốn rất phức tạp và đa dạng. Năm nhu cầu này có thể không bao quát và lý giải được tất cả mọi nhu cầu hay cảm xúc của con người, nhưng chúng có thể cho chúng ta một cơ sở lý luận để qua đó có thể suy nghĩ một cách có hệ thống hơn về hạnh phúc và cách để đạt tới hạnh phúc. Trong thực tế, một hành vi của con người có thể có tác động rất phức tạp lên hạnh phúc của bản thân, liên quan đến nhiều nhu cầu tinh thần khác nhau: tình yêu đôi lứa có thể đáp ứng cùng lúc nhu cầu thể xác (XXX), nhu cầu yêu thương (yêu…), nhu cầu khám phá (trải nghiệm yêu), và nhu cầu quyền lực (khiến đối phương hạnh phúc). Nỗ lực thỏa mãn một nhu cầu nhất định (ép buộc con cái theo ý mình) cũng có thể gây tổn thương lớn hơn đến một nhu cầu khác (ngăn cản sự yêu thương và nhận về yêu thương).

Hành trình tìm kiếm hạnh phúc của con người, do đó, cũng chính là hành trình đi tìm ra những con đường có thể đáp ứng nhu cầu hạnh phúc của riêng mình một cách hiệu quả nhất và bền vững nhất, và còn được chúng ta gọi với một cái tên khác là sự trưởng thành. Hành trình đó đòi hỏi chúng ta không chỉ nhận thức và tác động lên thế giới xung quanh, mà quan trọng hơn là nhận thức được và kiểm soát được ở mức độ nhất định đối với nội tâm của chính mình. Đó là vì tất cả các nhu cầu hạnh phúc đều là nhu cầu tinh thần, và phụ thuộc vào ít nhất một hay một số yếu tố tinh thần nhất định: nhu cầu quyền lực phụ thuộc vào việc chúng ta nghĩ mình “đáng được” cái gì, nhu cầu yêu thương phụ thuộc vào việc chúng ta quan sát thế giới kỹ đến đâu và ở phạm vi nào, nhu cầu tự do phụ thuộc vào việc chúng ta có nhân cách tự thân để mà theo không,… Từ cách nhìn như vậy, thì có thể nói rằng hạnh phúc thực sự luôn tồn tại sẵn ở trong tâm trí của chúng ta.

Một điểm đáng chú ý nữa là các nhu cầu tinh thần cũng có “thứ bậc” nhất định, và có thể khác nhau đối với từng người. Tuy nhiên trong đa số trường hợp thứ bậc này gần giống với thứ tự được giới thiệu ở đây: sinh tồn < khám phá < quyền lực < yêu thương < tự do. Những nhu cầu ở thứ bậc càng cao thì một khi đã được ý thức, sẽ càng khó có thể từ bỏ hoàn toàn để thỏa mãn các nhu cầu thấp hơn. Một người khi đã biết rằng mình có thể tác động đến thế giới xung quanh để uốn nắn theo ý mình, sẽ khó có thể từ bỏ hoàn toàn điều đó để chỉ dừng lại ở việc khám phá những điều mới mẻ. Tương tự, một khi đã biết đến cảm giác yêu thương và tự do, con người sẽ rất khó đồng ý xóa bỏ hoàn toàn những cảm xúc ấy để đổi lại sự đáp ứng dù là cao nhất đối với tất cả những nhu cầu còn lại.

Và dù cho không có một nhu cầu hay một phương pháp nhất định nào tự nó là “cao cả” hay “thấp kém” một cách tuyệt đối, thì khi đứng trên quan điểm lợi ích cá nhân, việc tập trung vào những nhu cầu ít tốn kém hơn và những phương pháp để đạt đến hạnh phúc lớn lao hơn và có tính bền vững hơn, có thể được xem là chiến lược sáng suốt hơn về lâu dài. Cụ thể, chúng ta nên tránh việc để cho hạnh phúc của mình phụ thuộc vào sự thỏa mãn những nhu cầu tốn kém trong việc duy trì (hưởng thụ vật chất, chất kích thích,…), tránh việc sử dụng những phương pháp đáp ứng nhu cầu có khả năng phản tác dụng cao (điều khiển người khác, hy sinh tự do,…), và hướng đến việc tìm kiếm và gia tăng hạnh phúc ở bên trong tâm trí (yêu nhiều ghét ít, hạ thấp kỳ vọng, tu dưỡng bản thân,…). Tất nhiên, như đã nói mỗi người có một khuynh hướng riêng trong vấn đề hạnh phúc, và không có công thức nào để đạt tới hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người cả.

Nếu chúng ta suy nghĩ một cách sâu xa và triệt để về cách để bản thân có được hạnh phúc, thì rất có thể những kết luận mà chúng ta đạt được nghe sẽ có vẻ giống những lời dạy bảo của các tôn giáo hay đạo đức truyền thống. Đó vốn chính là nguồn gốc của đạo đức ở mức độ cá nhân lẫn xã hội: những chiến lược, những nguyên tắc, những lời khuyên có thể đem lại hạnh phúc bền vững, hoặc ngăn ngừa sự bất hạnh, cho mỗi cá nhân con người, được hình thành thông qua trực giác bản năng hoặc kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân và các thế hệ đi trước – một cuốn “cẩm nang hạnh phúc”. Đạo đức là một thứ vốn có ích và mang lại tự do cho cá nhân nếu nó được dùng đúng phạm vi và công dụng. Chỉ khi đạo đức bị khoác lên mình tấm áo quyền lực và chân lý, bị lợi dụng để điều khiển người khác, khi “nên” bị biến thành “phải”, thì đạo đức mới trở thành một đề tài gây ra tranh cãi và bất hạnh.


Như vậy, cảm giác hạnh phúc là một cảm giác nảy sinh từ sự thỏa mãn của một hay một số nhu cầu trong số rất nhiều các nhu cầu tinh thần đa dạng của con người. Các nhu cầu đó có thể được phân chia làm năm phân loại chính: sinh tồn, khám phá, quyền lực, yêu thương, và tự do. Mỗi phân loại nhu cầu có cơ chế thỏa mãn khác nhau, cũng như vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại nói chung và mỗi cá nhân nói riêng. Mỗi con người cũng sẽ có những khuynh hướng nhất định đặc trưng cho cá nhân đó, đòi hỏi nhu cầu này nhiều hơn, nhu cầu kia ít hơn. Mỗi quyết định và hành động của con người đều nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất các nhu cầu tinh thần của bản thân, trong giới hạn hiểu biết và năng lực tại thời điểm đó. Việc hiểu rõ về các nhu cầu của bản thân, và tìm ra những cách đáp ứng chúng sao cho mang lại hiệu quả tổng thể cao nhất và ít tốn kém nhất, là con đường duy nhất để đạt đến được hạnh phúc ổn định, bền vững và lâu dài.

Bàn về làm chủ cảm xúc

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy nội dung chính từ cuốn sách “Conscious Business: How to build Value through Values” của Fred Kofman.

Cảm xúc là một thứ tồn tại khắp nơi trong cuộc sống của chúng ta. Một phần không nhỏ những hành động của chúng ta bắt nguồn từ một cảm xúc nào đó. Hơn tất cả, cảm xúc tác động trực tiếp đến tinh thần của chúng ta: chúng ta “cảm thấy” cảm xúc. Có thể nói cuộc sống của chúng ta có hạnh phúc hay không phụ thuộc khá nhiều vào cảm xúc của bản thân. Thế nhưng phần lớn chúng ta dường như lại không mấy quan tâm đến việc cảm xúc hoạt động như thế nào, và chúng ta có thể tác động đến nó ra sao. Trong bài viết này, tôi xin nói qua về những suy nghĩ của mình về cảm xúc cũng như việc làm chủ cảm xúc.


1. Cảm xúc là gì

Chữ “cảm” (感) thể hiện việc nhận thấy điều gì đó trong ý thức (cảm động, cảm nhận). Chữ “xúc” (触) thể hiện sự sờ vào, chạm vào (tiếp xúc, xúc giác). “Cảm xúc” vốn nghĩa là những gì chúng ta “cảm” thấy khi tiếp “xúc” với thế giới xung quanh. Hiện nay trong tiếng Việt, “cảm xúc” được dùng để chỉ những rung động bên trong tâm trí chúng ta. Cũng có thể nói rằng, “cảm xúc” mô tả một tình trạng của ý thức chúng ta trong một thời điểm nào đó. Do vậy, “cảm xúc” thường có thể được dùng thay thế với “tâm trạng”, chỉ tình “trạng” của “tâm” hồn. Nếu hiểu theo cách này, thì chúng ta đều luôn luôn ở trong một cảm xúc nào đó, chỉ là cảm xúc đó có mạnh mẽ, có dễ nhận biết, và có tên hay không mà thôi.

Vậy cảm xúc có vai trò như thế nào đối với chúng ta? Bỏ qua những nhận xét như “cảm xúc là sắc màu cuộc sống” mà xét theo nghĩa gốc, thì cảm xúc đơn giản chỉ là một công cụ để nhận thức, tương tự như các giác quan trong cơ thể vậy. Chỉ có điều, thay vì nhận thức về mọi vật xung quanh, cảm xúc giúp chúng ta nhận thức về tình trạng nội tại của bản thân, về những suy nghĩ có ý thức lẫn vô ý thức của bản thân đối với thế giới xung quanh mà chúng ta đang tiếp xúc. Cảm xúc “vui” giúp chúng ta biết rằng chúng ta “thích” cái chúng ta đang tiếp xúc, cảm xúc “buồn” giúp chúng ta biết chúng ta vừa “đánh mất” một cái gì đó chúng ta “quý trọng”, cảm xúc “giận” giúp chúng ta biết một “lợi ích” hay “giá trị” nào đó của chúng ta đang bị xâm phạm,…

Chúng ta cần chú ý rằng cảm xúc chỉ nói lên những gì đang diễn ra bên trong ý thức của chúng ta, chứ không nói lên bất cứ điều gì về thế giới bên ngoài cả. Chúng ta cảm thấy “vui” với một điều gì đó không có nghĩa là nó “tốt” hay nó “đúng”. Chúng ta cảm thấy “giận” với một ai đó không có nghĩa là người đó đang muốn chọc giận chúng ta hay người đó “sai”. Cảm xúc của chúng ta có thể rất chính xác theo nghĩa là nó nói lên thứ chúng ta cảm nhận là phù hợp hay trái ngược với mong muốn, lợi ích hay đạo đức sâu xa của chúng ta. Tuy nhiên việc đưa ra đánh giá về bản chất của thứ chúng ta cảm nhận là một quá trình hoàn toàn khác, và nếu sự đánh giá đó đơn thuần chỉ dựa trên cảm xúc, thì đó sẽ là một sự đánh giá nóng vội và thiếu hợp lý.

2. Vì sao cần làm chủ cảm xúc

“Làm chủ” cảm xúc, nói một cách đơn giản, là việc nắm rõ bản chất của cảm xúc để từ đó đưa ra những quyết định có ý thức sao cho có lợi nhất cho bản thân. Như đã nói ở trên, cảm xúc là một “cảm biến” khá nhạy bén đối với tác động của thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, nếu như chúng ta không sử dụng suy nghĩ có ý thức để xử lý thông tin từ cảm xúc, thì chúng ta sẽ đơn giản chỉ là phản ứng lại một cách vô thức với cảm xúc. Điều này sẽ khiến chúng ta đưa ra những kết luận thiếu suy nghĩ và kéo theo là những hành động bộc phát. Những hành động như trách móc, cãi cọ, miệt thị hay dùng vũ lực có thể để lại hậu quả to lớn và lâu dài cho bản thân chúng ta lẫn những người mà chúng ta tác động. Những hậu quả này có thể tránh được nếu chúng ta làm chủ được cảm xúc.

Tất nhiên cũng có người sẽ nói rằng: vậy thì chỉ cần kìm nén cảm xúc tiêu cực lại, không hành động bộc phát nữa là được chứ gì? Ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng làm chủ và kìm nén là khác nhau. Điểm khác biệt lớn nhất là người làm chủ cảm xúc sẽ tìm cách “thoát khỏi” cảm xúc bằng việc tìm hiểu và giải tỏa các cảm xúc tiêu cực nhằm không để lại hậu quả cho cả người xung quanh lẫn bản thân mình. Trong khi đó, người kìm nén cảm xúc đơn thuần chỉ đẩy cảm xúc vào bên trong để nó không thể hiện ra bên ngoài. Nếu ví với việc dọn dẹp nhà cửa, thì người làm chủ cảm xúc là người thường xuyên dọn dẹp và vứt rác rưởi ngay khi phát sinh, còn người kìm nén là người đùn rác thành một đống to trong góc nhà cho đến khi đống rác sập xuống và nhà cửa trở nên lanh tanh bành.

Việc kìm nén cảm xúc nguy hiểm ở chỗ tuy về ngắn hạn có thể các cảm xúc tiêu cực sẽ không thể hiện ra, nhưng chúng cũng sẽ không biến mất mà tích dồn lại, và về lâu dài khi vượt quá khả năng kìm nén sẽ khiến chúng ta hoặc bùng nổ ra bên ngoài, hoặc suy sụp ở bên trong. Và dù chưa đến mức đó đi nữa, thì việc kìm nén cảm xúc trong lòng mà không giải tỏa cũng có thể dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực về sức khỏe như căng thẳng thần kinh, cao huyết áp, đau dạ dày,… Thêm vào đó, do người kìm nén cảm xúc thường không giải quyết được tận gốc nguyên nhân gây ra cảm xúc tiêu cực, nên sẽ phải gặp đi gặp lại cảm xúc đó, khiến việc quá tải chỉ còn là vấn đề thời gian. Cách giải quyết duy nhất để tránh bùng nổ hay suy sụp, là tìm cách làm chủ cảm xúc của bản thân.

3. Năm bước làm chủ cảm xúc

a. Ý thức

Trước hết, chúng ta cần phải ý thức được cảm xúc. Chúng ta hay cho rằng mình biết rõ cảm xúc của bản thân, nhưng thực tế thường lại không phải như vậy. Tại thời điểm mà cảm xúc trào đến, chúng ta chỉ đơn giản cảm nhận được cảm xúc đó một cách vô thức, giống như chúng ta thấy nóng khi chạm phải phích nước sôi vậy. Việc nhìn nhận cảm xúc một cách có ý thức đòi hỏi chúng ta phải tập trung quan sát bản thân một cách khách quan. “Khách quan” ở đây nghĩa là chúng ta đặt ý thức của mình ra ngoài dòng chảy cảm xúc hiện tại để đứng từ bên ngoài nhìn vào cơ thể và suy nghĩ của bản thân, tương tự như “xuất hồn” vậy. Nếu chúng ta không ý thức được cảm xúc của mình, cũng tức là chúng ta không “biết” cảm xúc đó tồn tại, và do đó sẽ chẳng có cách nào làm chủ nó.

Lấy ví dụ khi chúng ta “giận”, thay vì phản ứng tức thì hay mải tìm lý lẽ để đả kích đối tượng gây ra cảm xúc, bạn hãy thử lặng im quan sát xem cơ thể mình có những biến đổi thế nào, suy nghĩ của mình đang diễn ra ra sao. Rất có thể bạn sẽ nhận thấy được một số điều như đuôi mắt hay thái dương giật giật, bụng nóng lên và quắt lại hơi đau,… Và nhất là, chúng ta sẽ tự nghĩ được trong đầu rằng “à, mình đang giận”. Chỉ khi đã suy nghĩ được như thế, chúng ta mới có thể bắt đầu quan sát và suy nghĩ về những thứ khác một cách rõ ràng thay vì bị cảm xúc che mắt bịt tai. Có thể nói, việc nhìn nhận cảm xúc một cách khách quan không dừng lại ở việc ý thức được sự tồn tại của cảm xúc, mà nó còn giúp giải phóng bước đầu bản thân chúng ta khỏi sự kiểm soát của cảm xúc.

b. Chấp nhận

Sau khi đã ý thức được cảm xúc, điều chúng ta cần làm tiếp theo là chấp nhận cảm xúc đó. Cảm xúc là một cơ chế tự nhiên ăn sâu vào chúng ta ở mức độ con người. Không ai có thể dập tắt được sự xuất hiện của cảm xúc, kể cả các bậc thánh nhân. Do đó, chúng ta không cần và không thể chịu trách nhiệm đối với một cảm xúc nào đó xuất hiện trong tâm trí mình. Bản thân việc có một cảm xúc nhất định trước một sự vật sự việc nhất định không nói lên nhân cách của chúng ta. Giận dữ, thèm muốn, khinh bỉ, hay ganh tị đều là những cảm xúc bình thường của một con người bình thường. Tuy nhiên, việc suy nghĩ thế nào, hành động ra sao sau khi cảm xúc đó xuất hiện là điều chúng ta hoàn toàn có thể và cần phải chịu trách nhiệm, và nó thể hiện giá trị con người của chúng ta.

Nếu chúng ta không biết chấp nhận những cảm xúc nhiều khi là rất đen tối của bản thân, thì sẽ có hai khả năng xảy ra. Khả năng thứ nhất là chúng ta sẽ thấy xấu hổ, tự trách cứ, tự khinh miệt bản thân. Khả năng thứ hai là chúng ta sẽ tìm cách chối bỏ cảm xúc của bản thân, thậm chí là tự lừa dối bản thân. Cả hai phản ứng này đều cản trở việc làm chủ cảm xúc, vì phản ứng thứ nhất khiến suy nghĩ của chúng ta ngập chìm trong cảm xúc tiêu cực đối với chính mình, còn phản ứng thứ hai khiến chúng ta không dám nhìn thẳng vào cảm xúc của bản thân. Cả hai phản ứng đều có nguyên nhân là ảo tưởng về đạo đức của bản thân do chúng ta tự tạo ra hoặc bị tiêm nhiễm. Khi chúng ta ảo tưởng về chuẩn mực thì chúng ta tự ti, khi chúng ta ảo tưởng về năng lực thì chúng ta chối bỏ.

c. Truy cứu

Để có thể giải tỏa được cảm xúc chúng ta cần truy cứu nguyên nhân dẫn đến cảm xúc đó. Như đã nói ở trên, cảm xúc nói lên suy nghĩ của chúng ta về thế giới xung quanh. Trong quá trình quan sát, chúng ta thường tự gán cho các đối tượng xung quanh những ý nghĩa nhất định dựa trên các giá trị và chuẩn mực của bản thân. Ý nghĩa đó sẽ quyết định đến cảm xúc của chúng ta đối với đối tượng. Vậy thì câu hỏi chúng ta cần đặt ra không phải là “cái gì gây nên cảm xúc X?” mà là “mình nghĩ thế nào về cái gì để dẫn đến cảm xúc X?”. Chúng ta trả lời được câu hỏi đó càng chi tiết thì sẽ càng nắm rõ được bản chất cảm xúc. Cụ thể, chúng ta nên suy nghĩ tới “hành vi” và “tính chất” hơn là “con người” hay “sự vật”, và tìm hiểu xem ý nghĩa mà chúng ta gắn cho hành vi, tính chất đó là gì.

Điểm cốt lõi ở đây là nguyên nhân tạo ra cảm xúc nằm trong suy nghĩ của chúng ta chứ không phải ở bên ngoài. Chúng ta không giận vì “nó chọc giận mình”, mà chúng ta giận vì “mình cảm thấy bị coi thường”, “mình cảm thấy bị xúc phạm”. Việc nghĩ rằng nguyên nhân của cảm xúc nằm ở thế giới bên ngoài sẽ dẫn đến suy nghĩ đổ lỗi, đổ trách nhiệm, làm cản trở việc làm chủ cảm xúc. Nói cách khác, cảm xúc của chúng ta đều là tự làm tự chịu. Có thể sẽ có người nghĩ rằng “thế là tôi xấu hết à”, “người làm tôi giận không có lỗi gì à?”. Tôi xin trả lời rằng: việc làm chủ cảm xúc là cuộc đấu tranh giữa “con người có ý thức” với “con người vô tri” ở trong nội tâm chúng ta, chứ không phải giữa chúng ta với thế giới xung quanh. Và trong cuộc đấu tranh đó không có khái niệm “công bằng”.

d. Tháo ngòi

Một khi đã nắm được bản chất và nguyên nhân sâu xa, thì chúng ta đã có trong tay công cụ để tháo ngòi cảm xúc. Nếu như ý nghĩa mà chúng ta gán cho đối tượng quyết định cảm xúc của chúng ta đối với đối tượng đó, thì để giải tỏa cảm xúc chúng ta chỉ cần thay đổi ý nghĩa đó đi mà thôi. Ví dụ chúng ta thấy khó chịu khi người khác nhai không ngậm mồm vì cho đó là bất lịch sự. Nếu chúng ta không muốn thấy khó chịu nữa thì chỉ việc coi hành động đó là một việc bình thường thay vì bất lịch sự là xong. Trẻ con sinh ra không có đứa nào để ý đến chuyện đó cả. Đó là chưa kể, trong thực tế không thiếu gì việc ý nghĩa của một hành động trong mắt chúng ta và của đối phương là khác nhau do khác biệt văn hóa, ngôn ngữ, hay đơn giản chỉ là hiểu lầm. Nếu chúng ta để ý đến, biết và hiểu được sự khác biệt đó thì rất có thể cảm xúc của chúng ta cũng sẽ thay đổi.

Cần phải nói thêm rằng, chính vì nền tảng cho cảm xúc là những suy nghĩ chủ quan của chính chúng ta, nên chúng ta mới có thể tác động và thay đổi được nó. Một trong những trở ngại lớn nhất cho việc làm chủ cảm xúc chính là việc cho rằng để có thể giải tỏa được cảm xúc thì đối phương mới là kẻ phải thay đổi. Trong thực tế, chúng ta không thể thay đổi được bất kỳ ai hay cái gì. Cùng lắm, chúng ta chỉ có thể tạo điều kiện thích hợp để người hay vật đó tự thay đổi, và kể cả khi đó cũng không có gì đảm bảo là chúng ta sẽ thành công cả. Vì vậy, việc giải tỏa cảm xúc bằng cách tự thay đổi bản thân lại là cách nhanh chóng, hiệu quả và chắc ăn nhất (tham khảo Bàn về cái sự “giận”).

e. Thể hiện

Khi chúng ta không thể tự tháo ngòi được cảm xúc của mình, thì chúng ta cần có cách thể hiện cảm xúc đó sao cho có hiệu quả tích cực nhất. Nếu chúng ta đã nắm vững và thực hiện tốt các bước trên (dù không thành công), thì việc thể hiện cảm xúc cũng sẽ đơn giản đi rất nhiều. Vì nguyên nhân cảm xúc nằm ở bên trong chúng ta chứ không phải ở đối phương, nên nguyên tắc đầu tiên là đối phương không có lỗi. Vì đối phương không có lỗi, nên chúng ta không thể đổ lỗi hay đòi hỏi đối phương thay đổi theo ý mình, mà chúng ta chỉ có thể đề nghị đối phương hợp tác bằng cách thay đổi hành vi. Và để đối phương đồng ý và có thể thay đổi, chúng ta cần nói cho đối phương biết chúng ta cảm thấy gì về hành vi nào của đối phương, và chúng ta muốn họ thay đổi ra sao. Quan hệ giữa chúng ta và đối phương sẽ là đối tác cùng giải quyết một vấn đề, thay vì hung thủ và nạn nhân, kẻ gây hại và người bị hại.

Tuy vậy, khi thể hiện cảm xúc chúng ta thường không làm theo những nguyên tắc như trên, và dẫn đến kết quả không như mong muốn. Trước hết, chúng ta thường sa vào việc buộc tội đối phương. Việc này có thể làm chúng ta nhẹ nhõm hơn, nhưng sẽ đẩy đối phương vào thế phòng ngự và khiến họ từ chối mọi đề nghị (hay đòi hỏi) của chúng ta. Đơn giản, không ai muốn công nhận mình là người có lỗi, và không ai muốn bị người khác điều khiển cả. Thứ hai, chúng ta không chỉ ra một hành vi cụ thể nào mà lại chỉ nói một cách chung chung như “tôi cảm thấy anh coi thường tôi”. Điều này khiến đối phương không thể kết nối được cảm xúc của chúng ta với bất cứ sự kiện nào trong ký ức họ, và do đó chỉ biết chối bỏ hoàn toàn. Cuối cùng, với những tình huống phức tạp, đối phương rất có thể dù muốn cũng không biết làm thế nào để vừa lòng chúng ta. Nếu chúng ta không đưa ra phương án nào cụ thể, thì họ chỉ có thể đoán bừa mà thôi.

Thông thường, nếu quan hệ giữa chúng ta và đối phương là tốt đẹp, thì trong đa số trường hợp một lời giải thích và đề nghị đơn giản là đủ để đối phương hiểu, thông cảm, và chấp nhận hợp tác. Kể cả khi đối phương từ chối hợp tác, chúng ta cũng nên tìm hiểu xem lý do vì sao, có giải pháp nào khác không, thay vì kết luận là đối phương chống đối, bất hợp tác, hay “bản chất là thế”. Dù vậy, không phải bao giờ chúng ta cũng đạt được kết quả như mong muốn, vì đơn giản chúng ta không có quyền lực gì với thế giới xung quanh cả. Nhưng khi đó ít nhất chúng ta cũng có được sự an ủi là mình đã làm hết mọi thứ trong khả năng và tuân thủ đúng theo những nguyên tắc đạo đức của bản thân. Tiếp theo, chúng ta có thể hoặc tự tìm kiếm giải pháp khác, hoặc chấp nhận thất bại và bước đi tiếp. Giữa giương ô lên che mưa và đứng dưới mưa chửi mắng ông trời, bạn chọn cái nào?


Trên đây tôi đã trình bày về cách hiểu của tôi về bản chất của cảm xúc, sự cần thiết của việc làm chủ cảm xúc, và các bước nhằm làm chủ cảm xúc. Tuy rằng tôi không có một căn cứ nào, và cũng không thể đảm bảo thành công 100%, nhưng tôi tin là nếu tất cả chúng ta có thể ý thức được và làm chủ được cảm xúc của mình theo những gì tôi đã trình bày, thì cuộc sống của chúng ta sẽ bớt đi nhiều cảm xúc tiêu cực hơn, những việc chúng ta làm sẽ dễ thành công hơn, và nhìn chung chúng ta sẽ thấy hạnh phúc hơn. Mở rộng ra, xã hội chúng ta sẽ đối xử với nhau hợp tình hợp lý hơn, bớt đi tranh cãi và xung đột, mà thay vào đó sẽ là sự thông cảm và hợp tác chân tình. Hy vọng rằng bài viết này sẽ có ích, trước hết là cho cá nhân bạn.