Phụ huynh Sudbury: Giao cho con có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Trong phần trước, tôi đã viết rằng điều mà “mô hình giáo dục Sudbury” coi trọng nhất chính là việc nhìn nhận trẻ em như những con người hoàn toàn độc lập với cha mẹ. Điều đó cũng có nghĩa là “tin tưởng 100% vào trẻ em, giao toàn bộ quyền lựa chọn cho trẻ em”.

Chẳng hạn như ở trường Tokyo Sudbury School, dù cho có là một đứa bé còn chưa đi học tiểu học, thì ý chí của riêng em đó vẫn được tôn trọng trên hết. Việc nhận học sinh không phải là phía trường chấp nhận việc “phụ huynh đưa con vào trường”, mà là chấp nhận việc “học sinh lựa chọn vào trường Sudbury”.

Thêm vào đó, cả sau khi đã vào trường, do trong mô hình Sudbury không có giờ học, nên các em học sinh chỉ làm những việc mà mình thích. Các em không hề nhận được sự chỉ dẫn “làm cái này đi” hay “nên làm cái này hơn” từ bất cứ ai cả. Việc học sinh làm gì trong khoảng thời gian ở trường là hoàn toàn dựa trên ý chí tự do của các em.

Và một vấn đề luôn luôn nảy sinh ở đây là “giao toàn quyền quyết định cho con liệu có ổn không?”.

Quả thực đã là trẻ con thì thường cũng có chỗ chưa được chín chắn. Trẻ con kinh nghiệm và tri thức đều ít, và có lẽ cũng không giỏi trong việc nhìn nhận một cách khách quan và quyết định một cách tỉnh táo. Nhìn những đứa trẻ “thiếu tin cậy” ấy, thì chuyện các bậc cha mẹ lo lắng rằng  “giao hết cho con có ổn không?” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, dù cho có là như vậy đi nữa thì tôi vẫn muốn tin vào con trẻ. Tôi cho rằng trẻ con có đầy đủ năng lực đánh giá và tự lựa chọn con đường đi cho riêng mình ngang bằng với người lớn.

Vì sao tôi lại có thể nghĩ như vậy? Đó là vì tôi nghĩ rằng chính việc chúng ta “đối xử như trẻ con” lại đang “giam cầm trẻ con trong cái vỏ bọc trẻ con”.

Tôi cho rằng trẻ con vốn ngay từ khi còn bé đã có năng lực phán đoán sự việc và lựa chọn cuộc đời mình. Cái đang cướp đi năng lực ấy, cái đang kìm hãm trẻ con trong hình ảnh “thiếu tin cậy” ấy chính là cách mà người lớn xung quanh đối xử với chúng “như trẻ con”.

Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được điều đó nếu nhìn vào những cô nhi ở Nhật Bản sau chiến tranh, hay những em bé ở các nước đang phát triển. Khi bị cuộc sống thúc bách, trẻ con có thể phát huy được năng lực vô cùng lớn, để sinh tồn một cách kiên cường với một sức sống còn vượt xa cả người lớn.

Lại nói, nếu nhìn vào những vận động viên đã đạt thành tích từ tuổi mười mấy như tuyển thủ golf Ishikawa Ryo, tuyển thủ trượt băng Asada Mao, hay tuyển thủ tennis Nishikori Kei, thì có thể rằng họ hoàn toàn không cho thấy một ấn tượng trẻ con nào. Vì sao mà phát ngôn của họ lại có thể chững chạc như người lớn đến vậy? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ ở trong một thế giới cạnh tranh nghiêm túc và do đó chẳng bao giờ được (bị) những người lớn xung quanh “đối xử như trẻ con” cả.

Hãy thử nghĩ về Nhật Bản ngày xưa mà xem. Trẻ em vừa tốt nghiệp tiểu học là đã lập tức ra xã hội làm việc. Ngay từ cái tuổi đầu mười những đứa trẻ ấy đã hoàn toàn đủ tư cách được coi là những thành viên có ích của xã hội.

Thêm vào đó, lễ “nguyên phục” (lễ trưởng thành) ngày xưa thường được tiến hành vào “khoảng từ 11 đến 17 tuổi”. Tuổi kết hôn đối với nam là từ 17 đến 20 tuổi, nữ là từ 13 đến 15 tuổi. Thế tức là trong xã hội ngày xưa chỉ cần trên 10 tuổi là được đối xử như người lớn rồi.

Nhưng đến ngày nay thì sao? Tuổi tương ứng với lễ nguyên phục là 20 tuổi. Cho đến khi ra khỏi trường đại học và bắt đầu đi làm, thì ngay đến cả một thanh niên râu ria xồm xoàm cũng vẫn bị xã hội “đối xử như trẻ con”.

Vì vậy mà tôi mới nghĩ rằng, cái đang cướp đi năng lực tiềm tàng của trẻ em chẳng phải chính là cha mẹ và trường học hay sao? Chúng ta đang dùng những lý lẽ như “vì các con vẫn còn là trẻ con”, “trẻ con thì im lặng mà nghe lời đi”, “cái đấy đợi đến khi nào con lớn rồi hẵng nghĩ tới” để mà cướp đoạt đi từ các con “năng lực tự mình suy nghĩ và lựa chọn”. Ấy thế nhưng mà trong lúc đó trẻ con vẫn bị người lớn nói những câu như “giới trẻ bây giờ chẳng biết tự lập là gì”, “toàn chỉ biết đợi lệnh chứ chẳng chịu tự suy nghĩ gì cả”. Đối với những đứa trẻ, thì quả đó là một điều bất công.

Ở trường Tokyo Sudbury School, học sinh không bao giờ bị những người xung quanh bắt ép phải học hành cả. Trường cũng chẳng có giờ học thể dục hay âm nhạc gì hết. Các em học sinh được có “tự do” làm những điều mình thích.

Thế nhưng, cái “tự do” ấy rất khác với cái “tự do” mà các em học sinh ở những trường học bình thường có được trong giờ nghỉ giải lao. Cái “tự do” ấy là cái “tự do” có kèm theo “trách nhiệm”, cũng tức là thứ “tự do” của người lớn.

Trong trường Sudbury không hề có giờ học toán hay quốc ngữ. Do đó, những học sinh không học thì dù có lớn đến đâu cũng không biết tính toán hay đọc viết.

Nếu các em cảm thấy “không biết tính toán thì không được”, thì các em có thể bắt đầu học toán. Nếu các em cảm thấy “muốn đọc sách”, thì các em có thể bắt đầu học đọc học viết. Đó là cách suy nghĩ theo phong cách Sudbury. Nó có nghĩa là các em phải tự suy nghĩ xem việc học có thực sự cần thiết cho mình hay không.

Nếu chỉ nhìn qua thì việc “làm gì cũng được” có vẻ như là đang nuông chiều các em, nhưng thực tế nhìn từ góc độ mỗi em đều phải tự chịu hoàn toàn trách nhiệm về tương lai của bản thân, thì có thể nói rằng đó là một phương pháp giáo dục hết sức “nghiêm khắc”.

Và cá nhân tôi muốn tin tưởng vào năng lực mà con tôi sẽ có được trong một môi trường như vậy. Đó chính là “năng lực phân biệt” được đâu là cái cần thiết cho mình và đâu là không, là “năng lực chịu trách nhiệm” đối với những lựa chọn dựa trên sự đánh giá của bản thân.

Trong xã hội ngày càng biến chuyển mạnh mẽ sắp tới, tôi tin rằng chính cái “năng lực tự mình đánh giá và quyết định mọi việc” ấy mới là điều quan trọng nhất.

Việc trẻ em tự lựa chọn con đường đời cho riêng mình dựa trên sự đánh giá của bản thân sẽ dẫn tới một tương lai như thế nào cho các em, ấy là điều chẳng ai có thể biết được.

Thế nhưng, một điều có thể chắc chắn nói được, đó là dù tương lai đang chờ đợi các em có là như thế nào chăng nữa, thì đó cũng là thứ mà chính bản thân các em đã lựa chọn. Và những đứa trẻ của chúng ta chắc chắn sẽ giang rộng vai đón nhận trách nhiệm đối với kết quả của sự lựa chọn ấy.

Từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, tôi đã tự mình đưa ra một quyết tâm. Ấy là việc ngừng suy nghĩ xem “cái gì mới là hạnh phúc cho con”. Và kèm theo đó là việc giao toàn bộ cuộc đời của con cho bản thân con. Làm như vậy, chắc chắn con sẽ có thể xây dựng nên được một “năng lực tự mình đánh giá, tự mình quyết định cuộc đời” và trưởng thành đến mức khiến cho bản thân tôi cũng không nhận ra được nữa.

Có dũng khí để mà chấp nhận cho con có một cuộc sống tự lập. Tôi nghĩ đó chính là “mô hình giáo dục Sudbury”.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【子どもにまかせて大丈夫?】

「サドベリー教育」が最も大切にしていることは、子どもを親とは独立した一個の人間として認めることであるということを前回書きました。それはつまり「子どもを100%信頼し、すべての選択を子どもの判断に委ねる」ということです。

たとえば東京サドベリースクールに入学するときは、たとえ小学校に上がる前の子でも、その子の意志がなにより尊重されます。親は子を「サドベリースクールに入れる」のではなく、「子がサドベリースクールを選んで入る」のを承認する形になるのです。 

また、スクールに通うようになってからも、サドベリーには授業がないので、子どもたちは自分の好きなことだけをします。誰からも「こうしなさい」とか「こうした方がいいよ」と指図されることはありません。学校で何をして過ごすかは、すべて子どもたちの自由意志に委ねられます。

そして、ここで常に問題になるのが、「子どもにすべての選択を任せて大丈夫か」ということです。

確かに子どもには未熟なところがあります。経験や知識も少ないし、客観的な視野に立って物事を冷静に判断することは苦手かもしれません。そんな“頼りない”子どもに、「すべての選択を任せて大丈夫?」と心配になる親の気持ちはよく分かります。

でも、それでも、私はあえて子どもの力を信じたいと思います。彼らには大人と同等の判断力があり、自分の人生を自分で選び取る能力があると思います。

なぜそう思えるのか。それは、大人が「子ども扱いすること」が、かえって「子どもを子どもの中に閉じ込めている」のではないかと考えるからです。

子どもは本来、小さなうちから物事を判断し自分の人生を選び取ってく力を有していると思います。その力を奪い、子どもをいつまでも“頼りない”存在にしているのは、周囲にいる大人たちの「子ども扱い」なのではないでしょうか。

たとえば、戦後の日本の孤児たちや、途上国の子どもたちを見ていると分かります。必要に迫られると、子どもはとてつもない能力を発揮し、大人顔負けの生命力で、逞しく生き抜いていくものです。

また、ゴルフの石川遼やスケートの浅田真央、テニスの錦織圭など、10代で活躍した選手たちを見ていると、まったく子供っぽい印象がありません。なぜ彼らの発言は大人びていて、立派なのでしょう。それはたぶん周囲にいる大人が勝負の世界に生きる彼らを「子ども扱い」しないからだと思います。

そして、もうひとつ「子どもを子どもの中に閉じ込めている」ものが現代にはあります。それは学校教育です。学校が子どもを必要以上に「子ども扱い」するために、卒業して社会に出るまで、子どもは大人になることを自らやめてしまうのです。

昔の日本を考えてみてください。子どもは小学校を出たら、すぐに社会に出て働いていました。10代で彼らは十分に実社会で役立つ即戦力になっていたのです。

また、かつての「元服」の年齢は「11歳から17歳の間」だったそうです。結婚する年齢も、平安時代は男性で17歳~20歳ぐらい、女性で13歳~15歳ぐらい。10歳を超えれば、昔の社会ではすっかり大人扱いされていたわけです。

それが今ではどうでしょう。元服にあたる成人式は20歳。大学を出て会社に就職するまでは、ヒゲの生えた立派な青年でも社会は「子ども扱い」をします。

私は思います。子どもの潜在能力を奪っているのは、むしろ親や学校なのではないかと。「あなたはまだ子どもだから」「子どもは黙って聞いていなさい」「それは大人になってから考えることよ」などと言い、子どもから「自ら考え、選択する力」を奪っているのです。それでいて、「今の子は自立していない」「指示待ちばかりで自分で考える力がない」などと言われるのですから、子どもにとってはいい迷惑です。

東京サドベリースクールでは、周囲から強制的に勉強させられることはありません。体育や音楽の授業もありません。子どもには好きなことをやっていい「自由」が与えられます。

でも、この「自由」は一般の学校にある休み時間の「自由」とは違います。それは自らに「責任」が伴う大人としての「自由」なのです。

スクールには算数や国語の授業がありません。なので、勉強しない子はいくつになっても計算や読み書きができません。

「計算できないのはいやだ」と思えば算数を勉強すればいい。「本が読みたい」と思えば読み書きを勉強すればいい。これがサドベリー流の考え方です。勉強が自分にとって必要かどうかは自分で考えなさいということです。

一見「何をやってもいい」と甘やかしているように見えますが、自分の将来に完全に責任を負わなければいけないという点において、非常に「厳しい」教育といえるのです。

このような環境で子どもに身につく力を、私は信じたいと思います。それは自分にとって必要なものとそうでないものを「見分ける力」であり、自分の判断において選んだことに対して「責任を持つ力」です。

変化の激しいこれからの社会においては、まさにこのような「自分で物事を判断し、決めていける力」がものを言うようになってくると思います。

自分の判断において子どもが自ら選択し、歩んでいった人生の先に、どのような未来が待っているのか、それは誰にも分かりません。

でも、ひとつ言えるのは、どんな未来が待っていようと、それは子ども自身が選び取ったものだということ。その結果に対して、子どもは胸を張って責任を取ることでしょう。

息子が東京サドベリースクールに通うようになって、私はひとつの決断をしました。それは「子どもにとって何が幸せか」を考えることをやめること。そして、息子の人生をそっくり彼に手渡してあげること。そうすることで、子どもは見違えるほど、「自分で判断」し、「自らの人生を決めていく力」を獲得していくはずです。

勇気をもって、子どもの独立した人生を認めること、それが「サドベリー教育」だと私は思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Phụ huynh Sudbury: Không học có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Kể từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, trong trí óc của tôi “giáo dục là gì” đã trở thành một đề tài suy nghĩ thường xuyên.

“Tại sao trẻ con lại phải đến trường?”. “Tại sao lại phải học hành?”.

Đó là những vấn đề quá sức cơ bản, đến mức tôi chưa từng bao giờ suy nghĩ tới trước đó.

Và tôi cũng bắt đầu suy nghĩ thực sự nghiêm túc về câu hỏi rằng liệu con mình “không học có ổn không?”. Việc vứt bỏ nền “giáo dục nghĩa vụ” để vào một ngôi trường không có giờ học cũng không có giáo viên liệu có phải là một sự đánh cược quá liều lĩnh hay không?

Chắc hẳn rất nhiều bậc phu huynh Sudbury trước khi cho con đến trường cũng đều đã rất trăn trở với vấn đề này. “Vào trường Sudbury để được tự do cũng tốt thôi, nhưng nhỡ mà con lại ham mê điện tử thì biết làm sao đây…”. “Trường Sudbury chưa được Bộ Văn Giáo công nhận, nên chỉ có thể lấy đưPreviewợc bằng tốt nghiệp cấp 2. Chỉ có bằng cấp 2 thôi thì có sống nổi trong xã hội không…”.

Tất nhiên không chỉ có những điều tiêu cực, mà cũng xuất hiện cả những suy nghĩ tích cực nữa. “Nếu như có thể trải qua thời gian học đường một cách thoải mái trong môi trường tự do của Sudbury, thì chắc chắn con trai mình sẽ có thể tìm thấy điều nó thích làm và theo đuổi mơ ước của bản thân…”. “Chắc chắn con sẽ có được những kinh nghiệm không thể có được ở những trường bình thường khác, và trở nên một đứa trẻ tuyệt vời có suy nghĩ tự lập…”. Rất nhiều suy nghĩ khác nhau đã được sinh ra từ một câu hỏi “không học có ổn không?”. Và tôi đã tưởng tượng ra đủ mọi kịch bản khác nhau về tương lai của con để mà lo lắng, để mà yên tâm.

Thế nhưng, đến một lúc nào đó, bỗng nhiên tôi nhận ra một điều. Vốn dĩ việc suy nghĩ những chuyện như vậy, bản thân nó đã chẳng phải là vô nghĩa lắm sao? Cái chuyện “không học có ổn không?” ấy, có suy nghĩ bao nhiêu cũng sẽ chẳng bao giờ biết được. Nếu có ai đó lo lắng rằng “không học có ổn không?”, thì ta cũng có thể hỏi một câu ngược lại rằng “cứ học là sẽ ổn ư?”. Chỉ cần học giỏi ở trường, vào được một trường đại học danh tiếng, vào được một công ty danh tiếng, như vậy là cuộc đời sẽ ổn ư?

Khi suy nghĩ như vậy ta có thể thấy được phần nào bản chất của sự việc. Dù có vào trường Sudbury hay không, thì chuyện tương lai có ổn hay không vẫn là điều chẳng ai biết được.

Đến đây, trong đầu tôi lại hiện lên một câu hỏi khác. “Ơ? Thế bản thân mình cuối cùng là đang kỳ vọng điều gì ở trường Sudbury vậy?”. Phải chăng ở đâu đó trong tâm, tôi đang nghĩ rằng “nếu con vào trường Sudbury thì biết đâu đấy sẽ có thể trở thành một con người tuyệt vời”?

Một ngôi trường tự do, một ngôi trường có thể được sống như mình vốn thế. Nếu được ở trong một ngôi trường như vậy, biết đâu đấy con sẽ trở thành một con người có cá tính và phóng khoáng hơn những đứa trẻ đi học ở những ngôi trường bình thường với những giáo trình buồn chán khác…

Nhưng tôi cho là những suy nghĩ như vậy vẫn có phần sai lầm. Nó là lối tư duy có phần giống với cách suy nghĩ “học ở trường tư lập danh tiếng thì sẽ vào được trường đại học tốt” vậy.

Trường học không phải là một cái lò vi sóng. Không có chuyện cho trẻ con vào, bấm nút một cái là ra một đứa trẻ tuyệt vời. Bất cứ trường học nào cũng vậy mà thôi. Trường Sudbury cũng vậy mà trường học thường cũng vậy, đứa trẻ nào phát triển thì sẽ phát triển, mà đứa trẻ nào không phát triển thì sẽ không phát triển.

Mà không, chính ngay cái sự trông đợi rằng trẻ con sẽ “phát triển” cũng rất có thể đã là một sai lầm.

Tại sao chúng ta lại không được trông đợi vào con cái? Như tôi đã viết trong lần trước, đó là vì “con cái và cha mẹ nên có một mối quan hệ bình đẳng”. Việc trông đợi sự đáp ứng kỳ vọng từ một con người bình đẳng với mình, dù cho có là giữa cha mẹ và con cái đi nữa, chẳng phải là một việc hơi thiếu tôn trọng sao?

Chẳng hạn nếu như chúng ta bị con cái kỳ vọng rằng “con muốn bố trở thành một người hoàn hảo hơn chút nữa”, hay “bố mà thành người giàu có thì có phải thích không”, thì chúng ta sẽ cảm thấy thế nào? Việc bị người khác đặt kỳ vọng có thực là một việc đáng vui mừng không? Cá nhân tôi thì thấy đó là một hành vi gây phiền phức.

Điều đó cũng đúng trong trường hợp của trẻ con. Những kỳ vọng của cha mẹ như “muốn con thành người cứng cáp”, “muốn con thành người có cá tính”, “muốn con theo đuổi ước mơ” chẳng phải cũng đều là những việc không cần thiết hay sao? Nhìn từ phía con cái, việc chúng cảm thấy “bố mẹ ồn ào quá, để cho con được yên” cũng là chuyện dễ hiểu mà thôi.

Cứ như vậy mà tôi trở nên suy nghĩ rằng “không được kỳ vọng điều gì ở trường học cả”, “không được kỳ vọng điều gì ở con cái cả”, mặc dù cách nói đó có phần hơi cực đoan.

Con cái không phải là vật sở hữu của cha mẹ. Chúng là những con người độc lập. Và cuộc đời của con cái là của riêng chúng. Tuyệt nhiên đó không phải là thứ của cha mẹ.

Vậy cho nên, việc cha mẹ tự tiện kỳ vọng và lo lắng là việc làm gây phiền phức cho con cái. Chuyện “không học có ổn không” không phải là việc của cha mẹ, mà phải là vấn đề để cho con cái tự suy nghĩ lấy.

Nghĩ đến đó, tôi bỗng chợt nhận ra một điều. “À ra vậy, chân túy của giáo dục Sudbury chính là nằm ở đây chăng”.

Ấy chính là việc chấp nhận con cái như một con người độc lập hoàn toàn tách khỏi cha mẹ. Ấy chính là việc giao toàn quyền quyết định cuộc đời của con cái cho các con. Cái sự “giác ngộ tinh thần” ấy chẳng phải là điều rất quan trọng đối với một phụ huynh trường Sudbury hay sao?

Việc giao toàn quyền cho con cái cũng chính là việc “tin tưởng 100% ở con cái”. Việc có học hay không, có chơi điện tử hay không, có đọc sách hay không không phải là việc cha mẹ suy nghĩ, mà là việc để cho con cái quyết định.

Nói đến đây xong, trong hầu hết trường hợp sẽ có một câu hỏi quay ngược trở lại. “Trẻ con có khả năng quyết định đến mức ấy không?”. “Giao toàn quyền cho trẻ con liệu có ổn không?”.

Tôi thì nghĩ là sẽ ổn. Không chỉ thế mà thậm chí tôi còn nghĩ rằng chúng ta nên giao quyền quyết định cho con cái càng sớm càng tốt.

Lý do cho điều đó tôi xin được viết ra trong phần sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【勉強しなくて大丈夫?】

息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、私自身の中で、「教育とは何か」ということが一つのテーマとなりました。

「子どもはなぜ学校に通わなければならないのか?」「なぜ学ばなければならないのか?」

あまりにも基本的すぎて、一度も考えたことのなかった問題です。

そしてまた、自分の子が「勉強しなくて大丈夫か?」ということについても、真剣に考えるようになりました。「義務教育」を放棄して、授業もない、先生もいない学校に通うのは、あまりにもギャンブルすぎやしないかと。

恐らく多くのサドベリーの保護者が、スクールに子どもを入れる前に、この問題で悩まれたことでしょう。「サドベリーに入って、自由になるのはいいけれど、子どもがゲームにはまったらどうしよう……」「サドベリーは文科省から認可されていないので、中学卒業資格しか得られない。中卒の資格で社会に出て生きて行けるのだろうか……」

ネガティブなことばかりではなく、ポジティブなことも頭に浮かびます。「サドベリーの自由な環境の中でのびのび過ごせば、息子は自分の好きなことを見つけ、夢に向かって進んでくれるはずだ……」「普通の学校では得られない経験をして、自立した考えを持った素敵な子に育ってくれるに違いない……」「勉強しなくて大丈夫?」という問いからは、それはもういろんな考えが頭に浮かびました。子どもの将来についてさまざまなケースを想定し、心配してみたり、安心してみたりしたものです。

ところが、ある時、ふと気づいたのです。そもそも、こういうことを考えること自体、ナンセンスではないかと。「勉強しなくて大丈夫?」なんて、そんなことはいくら考えても分かりっこありません。「勉強しなくて大丈夫?」という心配があるのなら、逆に「勉強すれば大丈夫?」という反問もできます。学校で勉強して、一流の大学に行って、一流の会社に就職できれば、それで人生は大丈夫なのか……と。

こう考えると物事の本質が少し見えてきました。サドベリーに通おうが、普通の学校に通おうが、大丈夫か否かなんて誰にも分からないのです。

そう思ったところで、私の頭に疑問が浮かびました。「あれ? 自分は一体サドベリーに何を期待しているのだろう」と。心のどこかで、「子どもがサドベリーに通えばすばらしい人間に育つのでは」と思っていたのではないかと。

自由に、あるがままに生きられる学校。そんな学校で過ごせたら、退屈なカリキュラムのある普通の学校に通う子より、個性的で、のびやかな人間に育つのではないか……。

でも、こう考えるのも、たぶんちょっと違うのだと思います。それは「有名私立に通えれば、いい大学に入れる」と考えることと似たりよったりの思考回路かもしれません。

学校は電子レンジではありません。子どもを中に入れ、スイッチを押せば、立派な子に育つなんてことはありえません。どんな学校でも同じです。サドベリーだろうが、普通の学校だろうが、伸びる子は伸びるし、伸びない子は伸びないのです。

いや、そもそも子どもに“伸びる”ことを期待すること自体、間違っているかもしれない。

なぜ子どもに期待してはいけないか? それは前にも書きましたが、「子と親は対等な関係であるべきだ」と思うからです。対等な人間に対して何かを期待するなんて、親子の間でも少し失礼ではないでしょうか。

たとえば子どもから「パパはもう少し立派な人間になってほしいな」とか「お金持ちになってくれたら嬉しいな」なんて期待されたらどう思います? 人から期待を寄せられることってありがたいことですか? 私は迷惑なんじゃないかと思います。

子に対しても同じです。「逞しい子になってほしい」「個性的な子になってほしい」「夢に向かって生きてほしい」などと親が期待するのは、余計なことではないか。子どもとしては、「うるさい、ほっといてくれ」となって当然でしょう。

こうして私は、少々極端な言い方ですが、「学校に何かを期待してはいけない」「子どもに何かを期待してはいけない」と思うようになったのです。

子どもは親の所有物ではありません。独立した一個の人間です。そして、子どもの人生は子どものもの。決して親のものではありません。

だから、親が勝手に期待したり、心配したりするのは、子どもにとっていい迷惑なのです。「勉強しなくて大丈夫?」ということは、親ではなく、子ども自身が自分で考えるべき問題なのです。

そう思ったとき、ハッと気づきました。「なるほど、ここにサドベリー教育の真髄があるのか」と。

子どもを、親とは独立した一個の人間として認めること。子どもの人生を、子どもに完全に委ねること。その「覚悟」を持つことが、サドベリースクールの保護者にとって大切なことではないでしょうか。

子どもにすべてを委ねることは、「子どもを100%信じる」こと。勉強するかしないか、ゲームをするかしないか、本を読むか読まないかは、親が考えることではなく、子どもが考えることなのです。

と、このように言うと、たいていの場合、次のような質問が返ってきます。「子どもにそんな判断力があるのか?」「子どもにすべてを任せて大丈夫なのか?」

私は大丈夫だと思っています。というよりむしろ、なるべく早い時期から、すべての判断を子どもに任せた方がいいと思っています。

その理由については次回書くことにします。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Phụ huynh Sudbury: Giá trị dành cho các bậc cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bản dịch tiếng Việt

“Ở trường Tokyo Sudbury School không có giáo viên, cũng không có giờ học. Các em học sinh dành cả ngày ở trường để làm những điều mình thích”.

Các bậc phụ huynh tham gia vào buổi thuyết trình về trường trước khi cho con nhập học sẽ được nhân viên của trường giải thích những điều trên. Và hầu hết các bậc cha mẹ nghe đến đó đều lấy làm ngạc nhiên. Cả tôi và vợ cũng đều đã rất ngạc nhiên. Đến mức tôi đã thốt lên rằng “Trên đời này lại có trường học không giáo viên lẫn giờ học như thế này ư!”.

Và rồi tiếp sau sự kinh ngạc ấy là một suy nghĩ xuất hiện trong đầu, ấy là câu hỏi “trẻ con không học liệu có ổn không?”. Câu hỏi ấy là điều cho tới trước khi đó tôi vẫn chưa từng một lần nghĩ tới. Ấy là vì tôi vẫn luôn đinh ninh rằng “trẻ con là phải đến trường đi học” là một điều gì đó rất đương nhiên.

Cái sự mới mẻ ấy, cái sự đi trước thời đại ấy, hay cũng có thể nói là cái sự quá khích ấy, cái phương châm giáo dục phá tan mọi thường thức cố hữu ấy của mô hình giáo dục Sudbury đã khiến cho tôi hoàn toàn bị bất ngờ.

Và từ đó bắt đầu chuỗi ngày vắt óc suy tư của một người cha. Tôi đã suy nghĩ một cách hết sức nghiêm túc và tha thiết về câu hỏi liệu rằng đứa con của mình “không học có làm sao không? có thực sự sẽ ổn không?”.

Nhân viên của trường đều hết sức nhiệt tình giải thích về “triết lý giáo dục” của mô hình trường Sudbury. Trong sách của Daniel, người sáng lập ra trường Sudbury gốc ở Boston cũng có viết rất nhiều điều tuyệt vời.

Chẳng hạn như việc “dìm trẻ em vào biển buồn chán”.

Người ta nói rằng những đứa trẻ sau khi vào trường Sudbury và có được tự do, ban đầu thường lao vào trò chơi điện tử hay những trò chơi khác, nhưng dần dần chúng trở nên buồn chán, và bắt đầu quay lại đối diện với chính mình. Từ đó, chúng tìm ra điều mà mình thực sự muốn làm, và bước một bước đầu tiên trên con đường đời của bản thân.

Khi nghe lời thuyết trình ấy, một mặt tôi vừa gật gù “à ra thế, thật là tuyệt diệu”, nhưng một mặt tôi cũng không khỏi đặt ra nghi vấn rằng “liệu con của mình có trở nên được như thế hay không?”.

Phía trường thì đưa ra nhiều câu chuyện thực tế để thuyết trình. Trong đó có câu chuyện về một cô bé ham thích nấu ăn, suốt ngày chỉ đứng ở trong bếp, và sau khi tốt nghiệp đã đi làm tại một hiệu bánh. Lại có cả câu chuyện về một cậu bé sau một thời gian tự mình mày mò với máy vi tính đã trở nên thông thạo hơn cả người lớn… Rồi trên trang chủ của một trường Sudbury khác lại có câu chuyện về “một em học sinh đã tự học và hoàn thành nội dung học tập của trường cấp 2 cấp 3 trong một thời gian ngắn”. Thêm vào đó, những em học sinh xuất hiện trong buổi thuyết trình dường như cũng chững chạc hơn nhiều so với tuổi và đều có những suy nghĩ của riêng mình.

Những “ví dụ thành công” ấy đều rất tuyệt vời, và trong đầu tôi cũng hiểu được “cái tốt” mà chúng nói đến, nhưng nếu hỏi rằng tôi có thực sự tán thành được từ tận đáy lòng hay không, thì lại không hề đơn giản như vậy. “Có thực sự là tất cả mọi đứa trẻ đều sẽ được như vậy không?”. “Có khi nào phía trường chỉ đem những trường hợp thành công ra để giới thiệu chăng?”. “Biết đâu trong số đó lại chẳng có những đứa trẻ thất bại?”. Những nghi vấn như vậy vẫn tiếp tục xuất hiện trong tôi.

Đến bây giờ thì tôi đã nhận ra rằng chính bản thân việc suy nghĩ về “kết quả trong tương lai” ấy là một sự sai lầm. Nhưng tại thời điểm đó, nỗi bất an rằng “cho con vào trường này rồi sẽ ra sao” đã vượt lên trên hết và khiến cho tôi cứ luôn chỉ nghĩ đến những chuyện xa xôi ấy.

Ấy nhưng cũng phải nói rằng, đấy chẳng phải là chuyện đương nhiên đối với những người làm cha làm mẹ hay sao? Đã là cha mẹ thì chuyện yêu thương con là điều hiển nhiên. Học sinh có thành người thế nào đi nữa thì trường học cũng chẳng chịu trách nhiệm, nhưng cha mẹ thì lại phải gánh vác 100% trách nhiệm đối với đứa con của mình.

Trường học và cha mẹ vốn dĩ lập trường đã khác nhau. Trường học chỉ nói chuyện một cách chung chung. Còn cha mẹ thì lại nghĩ về một trường hợp cụ thể là “con mình”. Bởi vậy nên dù phía trường có đem bao nhiêu “ví dụ thành công” ra đi nữa, thì đứng từ phía các bậc cha mẹ việc không thể dễ dàng chấp nhận những điều ấy cũng là chuyện đương nhiên.

Câu hỏi “không học có sao không” vẫn theo đuổi tôi kể cả sau khi con đã bắt đầu đến trường Sudbury. Nó trở thành vấn đề được quan tâm nhiều nhất giữa vợ chồng tôi, và tôi cũng đã không biết bao nhiêu lần bàn bạc với vợ về đề tài này (đôi khi là cả cãi cọ nữa).

Và rồi, phải mãi về sau tôi mới nhận ra rằng, việc vợ chồng chúng tôi hướng về tương lai của con, suy nghĩ và trao đổi một nghiêm túc, thực ra cũng chính là một trong những “giá trị của mô hình giáo dục Sudbury” đối với các bậc phụ huynh.

Nếu giả như con trai tôi đi học một trường công lập hay tư lập nào đó, thì liệu vợ chồng tôi có suy nghĩ về con một cách nghiêm túc đến mức này không? Liệu chúng tôi có trăn trở về tương lai của con hay không? Chính câu hỏi “không học có sao không” bắt nguồn từ sự lạ đời của mô hình giáo dục “không giờ học, không giáo viên” đã khiến cho chúng tôi mở to mắt mà hướng đến đứa con của mình.

Thực tế khi nói chuyện với những phụ huynh khác của trường Sudbury School, tôi phải nhận thấy rằng rất nhiều người trong số họ suy nghĩ hết sức nghiêm túc về con cái mình. Đó có lẽ là vì họ cần phải suy nghĩ sâu sắc về cả những điều mà các bậc cha mẹ có con đi học trường bình thường chẳng bao giờ cần nghĩ tới.

Einstein đã từng nói rằng, “thường thức là tập hợp những thiên kiến mà con người thu thập được cho đến tuổi 18”. Thường thức là thứ cũng có mặt quan trọng đối với xã hội, nhưng cũng có khi nó lại dồn trí não con người ta đến mức tê liệt tư duy. Chính cái sự “phi thường thức” của mô hình giáo dục Sudbury đã giúp cho chúng tôi phá bỏ được gông xích của thường thức mình tự mang lên người, và đẩy chúng tôi ra với tự do của tư tưởng.

Để trăn trở, suy nghĩ, và tự tìm ra câu trả lời của chính mình trong tự do.

Không chỉ đối với học sinh, mà cả đối với các bậc phụ huynh, mô hình giáo dục Sudbury cũng cho chúng ta cơ hội để đối diện với chính mình.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【保護者にとっての価値】

「東京サドベリースクールには、先生いません。授業がありません。生徒たちは一日中、学校で好きなことをやって過ごしています」

入学する前、スクールの説明会に参加すると、保護者はスタッフからこのような話を聞かされます。そして、ここでたいていの親御さんが驚かれます。私と家内も驚きました。「先生も授業もない、こんな学校が世にあるのか!」とびっくり仰天したものです。

そして、驚きの次に頭に浮かんだのが、「子どもが勉強しなくて大丈夫か?」という疑問でした。こんなことは、それまで一度も考えたことがありません。なぜなら、「子どもは学校に行って勉強するもの」と当たり前のように思っていたからです。

サドベリー教育の斬新さというか、先見性というか、あるいは過激さというか、いままでの常識をすべて覆してしまうような教育方針に、まったくもって面食らいました。

そして、ここから親としての苦悩が始まりました。真剣に、切に、自分の子が「勉強しなくていいのか? 本当に大丈夫か?」と考えるようになったのです。

スクールのスタッフは熱心にサドベリースクールの「教育理念」を語ります。ボストンサドベリーを立ち上げたダニエルさんの本にもすばらしいことがいっぱい書いてあります。

たとえば、子どもをどっぷりと「退屈の海」に浸けるという話。

サドベリースクールに入って自由を得た子たちは、はじめは嬉しくてゲームをしたり、遊んだりするのですが、やがて退屈するようになり、自分と向き合うようになるそうです。そして、自分のやりたいことを見つけ、人生の第一歩を踏み出すというのです。

この説明に「なるほど、すばらしい!」と頷く一方で、どこかに「我が子は果たしてそうなるのか?」と疑っている自分がいました。

学校はいろんな事例を挙げて説明してくれます。お料理をするのが好きで、いつもキッチンに立っていた女の子が、卒業後にケーキ屋さんに就職したという話。自分でパソコンをいじりだすうちに、大人顔負けにパソコンに詳しくなった子の話……。そして、別のサドベリースクールのホームページには「自ら勉強し、中学・高校の数学の学習を短期間で終えてしまった子」の話が載っていました。また、説明会に出てくる子たちも年齢の割にしっかりしていて、自分の意見を持っているように見えました。

こういった「成功例」はどれもすばらしく、頭では“良さ”が理解できるのですが、しかし心の底から頷けるかというと、そう簡単にはいきません。「本当にみんなそうなるの?」「学校はうまく行ったケースだけを選んで紹介しているんじゃないの?」「中にはダメになった子もいるのでは?」という疑念が湧いてしまうのです。

今となってはこのように「先の結果」を考えること自体が間違いだということに気づいていますが、しかし、当初は「この学校に子どもを入れてどうなるんだ」という不安が先行し、どうしても先のことばかりを考えてしまいました。

いや、しかし、人の親としてこれは当然のことではないでしょうか。親であれば子が可愛いのは当たり前。学校は子どもがどうなっても責任を負いませんが、親は自分の子に100%責任を負わねばなりません。

学校と親とではそもそも立場が違います。学校はあくまでも一般論でしか物事を語りまませんが、親は「我が子」という個別のケースで物事を考えます。だから、学校がいくら「成功例」を出してきても、親としてそれを鵜呑みにできないのは当然の話です。

この「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけは、子どもがサドベリーに通うようになってからも、しばらく私の中で続きました。この問題は私たち夫婦の間で最大の関心事となり、何度も妻と話し合いました(ときには口論にもなりました)。

そして、これはかなり後になって気づいたことですが、このように夫婦で子どもの将来と向き合い、真剣に話し、考えること自体が、実は保護者にとっての「サドベリー教育の価値」のひとつだったのです。

もし仮に息子が公立の学校に通っていたら、あるいは私立の中学に通っていたら、私たち夫婦はこんなにも真剣に子どものことを考えたでしょうか。彼の将来について悩んだでしょうか。「授業がない、先生がいない」という教育の非常識から生まれた「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけが、私たちの目をグッと見開かせ、子どもの方に向けさせたのです。

実際にサドベリースクールの保護者たちと話してみると、多くの方がとても真剣に子どものことについて考えていることに気づかされます。普通の学校の保護者であれば考える必要のないことにまで、深く考えを及ばせる必要が出てくるからでしょう。

アインシュタインがこんなことを言っています。「常識とは18才までに身に付けた偏見のコレクションのことをいう」と。常識は社会にとって大切な面もありますが、ときとして人間の頭を思考停止に追い込みます。サドベリー教育の「非常識」は、私たちをがんじがらめにしている常識の鎖を裁ち切り、自由な思考の中へと解き放ってくれるのです。

自由の中で、悩み、考え、自分なりの答えを見いだしていく。

生徒だけでなく、保護者にとっても、サドベリー教育は自分と向き合う機会を提供してくれるのです。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Phụ huynh Sudbury: Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Tiếp tục mạch bài viết của một bậc phụ huynh người Nhật có con theo học mô hình giáo dục tự do Sudbury, trong lần này tôi xin được đăng nội dung phần thứ ba trong chuỗi bài này (phần 2 đã đăng, phần 1 xin bỏ qua). Tuy rằng lý luận của người viết dùng để nói lên việc cha mẹ không còn quyền uy với con cái chưa hẳn là đã đủ sự chặt chẽ và tính thuyết phục, nhưng bản thân đề tài cha mẹ có thực sự có quyền uy và quyền hạn đối với con cái hay không vẫn là một đề tài đáng để suy ngẫm.


Bản dịch tiếng Việt

Trong lần trước, ở bài phát biểu thứ hai, tôi đã viết rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ”. Lý do cho điều ấy là vì cha mẹ cũng giống như con cái, đều là những người còn thiếu hiểu biết. Nhưng thực ra tôi nghĩ trong thời đại ngày nay còn có một lý do nữa cho việc cha mẹ và con cái cần phải có mối quan hệ bình đẳng với nhau. Đó là “sự đánh mất quyền uy của cha mẹ”.

Cái từ “đánh mất” viết ra thì nghe có vẻ như một điều gì đó tiêu cực, nhưng thực sự thì cũng không hẳn là như vậy, mà nó chỉ là một phần trong dòng chảy hoàn toàn tự nhiên của thời đại mà thôi. Vấn đề này sẽ hơi có vẻ lý luận cao siêu, nhưng tôi vẫn muốn sắp xếp lại suy nghĩ của mình cho mạch lạc và viết ra ở đây.

Trước hết tôi sẽ nói về bản chất của cái gọi là “quyền uy”. Khi thử tra cứu trong từ điển, thì tôi thấy rằng từ “quyền uy” có hai ý nghĩa. Đó là “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng”, và “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó”. Quả không hổ danh từ điển, nói rất trúng cái cốt lõi.

Hình tượng lý tưởng về “bậc phụ mẫu” thời xưa đúng là có đầy đủ cả hai yếu tố này. Cha mẹ là những người cái gì cũng biết, vừa tài giỏi đáng kính, lại vừa có đôi chút đáng sợ, và phận con cái là nhất mực phải làm theo những lời nói của cha mẹ.

Điểm quan trọng ở đây nằm ở cụm từ “được công nhận rộng rãi”. Đúng vậy, “quyền uy” là thứ chỉ tồn tại khi có được sự công nhận của số đông. Một người có tự một mình tỏ ra oai vệ thì cũng không thể coi là có “quyền uy” được.

Và quả thực trong xã hội Nhật Bản thời xưa đã từng tồn tại một “không khí” chung là công nhận “quyền uy” của cha mẹ. Toàn thể xã hội khi đó đều công nhận rằng cha mẹ là những người “tài giỏi” “đáng kính”, và điều đó làm nên cột chống cho cái “quyền uy” của các bậc cha mẹ. Chính vì thế mà cha mẹ đã từng có thể chi phối, ra lệnh và mắng mỏ con cái.

Ấy thế nhưng, cái “quyền uy” ấy của cha mẹ trong thời đại ngày nay lại đang bị lung lay một cách mạnh mẽ. Lý do rất đơn giản, đó là vì xã hội đã không còn cần thiết phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa.

Tại sao lại không cần phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa? Ấy là vì xã hội đã mất đi “tính kế thừa”. “Tính kế thừa” ở đây là sự tiếp nối và truyền lại những gì có từ xa xưa. Đó là việc tiếp thu văn hóa, phong tục, trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm, kỹ thuật, giá trị quan từ thế hệ trước và lưu truyền lại cho các thế hệ đi sau.

Trong những thời đại mà tính kế thừa vẫn còn được duy trì đầy đủ, thì đối với con cái mà nói cha mẹ là đối tượng cần phải tôn kính. Chẳng hạn chúng ta hãy thử tưởng tượng về một gia đình nông dân ngày trước. Khi đó, trong mắt con cái cha mẹ là người được kính trọng một cách vô điều kiện. Đó là vì cha mẹ là người nắm giữ tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ, tri thức cần thiết cho việc nông gia. Do đó, đối với con cái thì cha mẹ là đối tượng cần phải học hỏi, và do đó là những nhân vật xứng đáng nhận được sự tôn kính.

Nói cách khác, các bậc cha mẹ ngày xưa là những người xứng với mô tả “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó” trong định nghĩa về “quyền uy” của từ điển. Và vì thế “quyền uy” của cha mẹ là điều tất nhiên sẽ được đảm bảo.

Ngược lại, hãy thử nhìn xem xã hội ngày nay thì sao? Liệu đó có phải là một xã hội mà những trí tuệ và kinh nghiệm cổ xưa vẫn còn được truyền lại hay không? Thời đại ngày nay là thời đại mà điện thoại bàn thì biến thành điện thoại di động, điện thoại di động lại biến thành điện thoại thông minh, thư viết tay thì trở thành thư điện tử, rồi thư điện tử lại phát triển thành tin nhắn. Trong một thời đại mà những kỹ thuật mới liên tiếp được sinh ra, cơ chế cũng thay đổi, chế độ cũng thay đổi, các thường thức và giá trị quan cũng không ngừng đảo lộn, thì việc nắm giữ những trí tuệ và kinh nghiệm của môt thời xa xưa có thực sự là thứ đáng được “tôn kính” nữa hay không?

Câu trả lời là “không”. Trong một xã hội đã mất đi “tính kế thừa”, thì con người ta sẽ rất khó có thể duy trì được “quyền uy” chỉ dựa vào tuổi tác. Thời đại ngày nay đã không còn là thời đại mà chỉ cần có kinh nghiệm sống trước đã là “tài giỏi”.

Ở đây tôi tuyệt không có ý nói rằng chúng ta có quyền coi thường cha mẹ hay những người cao tuổi. Tôi chỉ nói rằng việc duy trì “quyền uy” thuần túy bằng tuổi tác là điều khó khăn mà thôi.

Nếu một người đã mất đi quyền uy mà vẫn cứ tỏ ra khệnh khạng thì sẽ như thế nào? Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về một vị lãnh đạo đã bị sa thải.

Giả dụ ở một công ty kia có một vị lãnh đạo rất mực quyền uy và hổ báo. Mỗi khi có việc gì không vừa ý ông ta đều sẵn sàng nổi trận lôi đình, nên cấp dưới ai cũng sợ hãi mà không dám trái lời.

Tại sao lại không dám trái lời? Ấy là vì tổ chức, mà cụ thể ở đây là công ty, đã trao “quyền uy” cho ông ta. Vì vậy mà dù cho những gì ông ta nói ra có đôi chút vô lý, thì cũng không có ai dám phản đối cả.

Tuy nhiên, giả sử rằng vào một ngày đẹp giời vì một lý do nào đó mà vị lãnh đạo kia bị đuổi việc. Khi đó, sẽ chẳng cần bất cứ thứ gì chống đỡ cho “quyền uy”  của ông ta nữa. Vậy thì vị lãnh đạo ấy sẽ trở nên thế nào đây? Liệu ông ta còn có thể lên mặt ra oai với cấp dưới như trước nữa không?

Hiển nhiên là không. Một người một khi đã đánh mất “quyền uy”, thì cũng tức là đã đánh mất cái “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng“. Đây là điểm rất quan trọng khi suy nghĩ về hình tượng cha mẹ lý tưởng trong thời đại ngày nay. Việc các bậc cha mẹ đã mất đi “quyền uy” mà lại cứ muốn ra lệnh và chi phối con cái chẳng khác nào việc một vị lãnh đạo đã bị công ty sa thải mà lại muốn ra lệnh cho những người từng là cấp dưới của mình. Những người như vậy sẽ chẳng có ai buồn nghe theo cả.

Lý do thứ hai khiến tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng” chính là những điều đã viết ở trên.

Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa như đã nói ở trên, thì vai trò của cha mẹ cũng thay đổi rất nhiều so với trước. Việc truyền thụ lại kinh nghiệm và trí tuệ của bản thân cho con cái đã không còn là việc của cha mẹ nữa. Còn việc áp đặt giá trị quan và suy nghĩ của mình lên con thì tôi cho là càng không thể chấp nhận được.

Tất nhiên, cha mẹ là người có kinh nghiệm hơn con cái, nên việc đưa ra lời khuyên là hoàn toàn có thể. Việc chỉ ra điều gì là tốt nhất và luyện tập các thói quen cho con cũng là điều quan trọng. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng kể cả khi đó, dù cho cha mẹ có thể nói với con rằng “con nên làm thế này hơn”, thì cũng không thể ra lệnh cho con rằng “con phải làm cái này đi”. Đó là vì cha mẹ không phải là người nắm quyền chi phối con cái. “Vai trò của cha mẹ” ngày nay đã thay đổi so với trước đây. Việc ý thức được sự biến đổi ấy rất có thể là điều quan trọng nhất đối với các bậc cha mẹ ở thời điểm hiện tại.

Con cái là một thực thể độc lập tách biệt khỏi cha mẹ, và không còn cần phải tiếp nhận kinh nghiệm và tri thức từ cha mẹ để sống như thời xưa nữa. Trong xã hội biến đổi đến chóng mặt như ngày nay, con cái cần phải tự mở ra cuộc đời mình bằng chính sức của bản thân và bước đi trên một con đường khác biệt với cha mẹ.

Và ở thời đại đổi thay nhanh chóng này, tôi cho rằng vai trò của trường học cũng đang có sự biến đổi. Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa, những trường học cố bám lấy các giáo trình cũ kỹ “vững như bàn thạch” để giáo dục học sinh cũng đang dần mất đi “quyền uy” tương tự như các bậc cha mẹ.

Trường học cũng cần phải ý thức được sự đổi thay của thời đại và xã hội.  Đó cũng chính là lý do mà gia đình tôi đã cùng ngồi lại bàn bạc với con và cuối cùng quyết định lựa chọn mô hình “giáo dục Sudbury”.

Trong phần tới, tôi sẽ thử viết ra những “lợi ích đối với các bậc phụ huynh” mà mô hình giáo dục Sudbury mang lại.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

 Nguyên gốc tiếng Nhật

【 親の権威の失墜 】

 前回、2回目の投稿で、私は「親と子の関係は対等であるべきだ」と書きました。それは人間として親も子と同じように未熟者だからという理由でした。しかし、実はもうひとつ、親と子の関係が対等であるべき理由が現代にはあると思うのです。それは「親の権威の失墜」です。

「失墜」などと書くと悪いことのように思えますが、実はそうでもありません。これはごく自然な時代の流れなのです。このことについて、少々理屈っぽくなりますが、頭を整理して書いていきたいと思います。

まず「権威」というものの本質についてです。「権威」を辞書で引くと2つの意味が載っていました。「他を支配し服従させる力」と「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」です。さすがは辞書です。なかなか核心をついていますね。

昔の古い“親像”には、確かにこの2つの要素が備わっていました。親は何でも知っていて、偉くて、尊敬できる存在で、ちょっぴり恐くて、子どもたちは親の言うことに従わねばならないのです。

ここでのポイントは「一般に認められている」ということです。そう、「権威」は一般の人に認められて初めて成立するもの。自分ひとりが偉そうにしていても、それは「権威」にはなりません。

そして、昔の日本の社会には、確かに親の「権威」を認める“空気”がありました。親は「偉い」「尊敬できる」ということを社会全体で認め、親の「権威」を支えていたのです。だから親は子どもを支配し、命令し、叱ることができたのです。

ところが、この親の「権威」が、現代においては大きく揺らいでいます。理由は簡単で、社会に親の「権威」を認める必要がなくなったからです。

なぜ、親の「権威」を認める必要がなくなったか。それは社会が「伝承性」を失ったからです。「伝承性」とは古くからあるものを受け継ぎ、継承していくこと。文化、風習、知恵、知識、経験、技術、価値観などを受け継ぎ、後生に伝えていくことです。

伝承性が十分に保たれていた時代には、親は子にとって尊敬すべき対象でした。たとえばひと昔前の農家を想像してみましょう。この場合、親は子にとって無条件で尊敬される存在でした。なぜなら、農業にとっての大切な経験、知恵、知識を全て親が有していたからです。子にとって親は学ぶべき対象であり、尊敬に値する人物でした。

つまり当時の親は、辞書の「権威」の項目にある「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」に値する人物だったのです。ですから必然的に親の「権威」は保たれていたのです。

ひるがえって、今の社会はどうでしょう。古くからある知恵や経験が伝承される社会でしょうか。電話が携帯に変わり、携帯がスマホに変わり、手紙がメールになり、メールがSNSに発展していく時代。次々と新しい技術が生まれ、仕組みが変わり、制度が変わり、常識や価値観が覆っていく社会において、昔の知恵や経験を有していることが、果たして「尊敬」の対象になるのでしょうか。

答えは「ノー」です。「伝承性」を失った社会では、年長者というだけでは「権威」を保つことは難しい。もはや先に生きているだけで「偉い」という時代ではないのです。

私は決して親や年長者をないがしろにしていいと言っているのではありません。伝承性が失われた社会では、年上というだけで「権威」を保つことは難しいと言っているのです。

権威を失った人間がいつまでも偉そうにしているとどうなるか。たとえば会社を解雇された上司のことを考えてみましょう。

非常に権威的で、威圧的な上司が会社にいたとします。彼は気に入らないことがあるとすぐに怒り、雷を落とすので、部下は恐くて逆らうことができません。

なぜ逆らえないのか。それは会社という組織が彼に「権威」を与えていたからです。だから、彼が少々理不尽なことを言っても、誰も逆らえなかったのです。

ところが、何らかの理由でこの上司が解雇されたとします。もはや彼の「権威」を支えるものはどこにもありません。この上司はどうなるでしょうか。以前のように部下の前で偉そうにできるでしょうか。

もちろんできません。「権威」を失った人間は、辞書にあった「他を支配し服従させる力」を失うからです。これは現代の“親像”を考える上で重要なポイントだと思います。「権威」を失った親が子どもに命令し、支配しようとするのは、会社を解雇された上司がかつての部下に命令することに似ています。誰もそんな人の言うことは聞いてくれません。

「親と子の関係は対等であるべきだ」と私が考えるようになったふたつ目の理由は、上記のようなことにあります。

このように伝承性を失った社会において、親の役割は、かつての親の役割と大きく変わってきています。自分の経験や知恵を子どもに授けることは、もはや親の役割ではありません。ましてや自分の価値観や思いを子に押しつけるなど、言語道断だと思います。

もちろん、親は子より経験を積んでいるので、アドバイスをすることは可能でしょう。善悪の基準を教え、躾けることも大切です。でも、こうした場合でも「こうするといいよ」とは言えても、「こうしなさい」とは言えないと思います。親は子どもの支配者ではないからです。昔と今とでは「親の役割」が変わってきている。この変化に気づくことが、いま、親として最も大切なことなのかもしれません。

子どもは親から独立した別の存在であり、昔のように、親の経験や知識を受け継いで生きていくものではありません。めまぐるしく変化する社会において、子どもは自分の人生を、自分の力で切り開き、親とは別の道を歩んでいかねばならないのです。

そして、このように急速に変化する現代にあっては、学校の役割もまた変わってきていると思います。伝承性が失われた社会において、旧態依然としたカリキュラムで子どもを教育しようとする学校は、親と同じように「権威」を失いつつあります。

学校もまた時代の変化、社会の変化に気づくべきなのです。私の家族が子どもと一緒になって考え、最終的に「サドベリー教育」を選んだ理由はここにあります。

次回はサドベリー教育がもたらす「保護者にとっての価値」について考えてみたいと思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Phụ huynh Sudbury: Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bài viết lần này không phải do tôi viết ra, mà là một bài phát biểu của một người cha Nhật Bản mà tôi tình cờ đọc được. Con của ông được cho đi học tại trường Tokyo Sudbury School, một ngôi trường phỏng theo mô hình của trường Sudbury Valley School ở Mỹ. Mô hình Sudbury là mô hình trường học mà trong đó không có sự phân vai giữa “giáo viên” và “học sinh”, cũng như không tồn tại khái niệm “thời khóa biểu” hay “giảng dạy”. Thay vào đó, học sinh được toàn quyền tự do quyết định hoạt động của bản thân, cũng như việc điều hành cả ngôi trường theo nguyên tắc biểu quyết số đông. Việc tiếp xúc với một mô hình giáo dục mới mẻ như vậy đã khiến cho người cha này suy nghĩ nhiều hơn về các bậc cha mẹ và việc giáo dục con cái của họ. Tôi xin được dịch bài viết ra và giới thiệu ở đây để mọi người tham khảo.


Bản dịch tiếng Việt

“Cha mẹ là gì?”. Đó là câu hỏi chưa từng rời khỏi trí óc của tôi kể từ khi con trai bắt đầu đi học tại Tokyo Sudbury School. Nhờ được gặp gỡ với ngôi trường đặc biệt không có giáo viên mà cũng không có giờ học này, mà tôi mới có dịp đối mặt với vấn đề mang tính căn bản “giáo dục là gì”, và từ đó suy nghĩ đến câu hỏi “cha mẹ là gì”.

Đúng thế, tôi nghĩ rằng câu hỏi “giáo dục là gì” có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi “cha mẹ là gì”. Bởi vì cha mẹ là những người có nghĩa vụ cung cấp giáo dục cho con cái.

Thế nhưng thành thực phải nói rằng tôi không hiểu rõ về cái khái niệm “cha mẹ” đó. Lý do là vì khác với khi lựa chọn trường học hay công việc, việc làm cha của tôi bây giờ không phải là kết quả của một sự quyết tâm nào cả. Tôi không tự nói với mình rằng “ok, làm cha thôi” để rồi tự mình đưa ra quyết định làm cha. Nói một cách thành thực, thì cảm tưởng của tôi là kết hôn xong, vợ có thai, đẻ con ra, và đùng một cái, chẳng hiểu từ bao giờ tôi đã thành cha rồi.

Người ta hay nói “con cái là món quà trời ban tặng”. Cái từ “ban tặng” đó thật vi diệu, vì rõ ràng việc sinh đẻ là một sự kiện lớn lao mà chúng ta không thể dễ dàng đi tới thành công được chỉ bằng sức của bản thân mình. Và như ý nghĩa mà từ “ban tặng” đó ngầm thể hiện, việc sinh con ra và trở thành cha mẹ luôn có một cái gì đó mang tính thụ động.

Tuy nhiên, chỉ cần thử nghĩ qua thì chúng ta có thể thấy việc trở thành cha mẹ cũng đồng nghĩa với việc khoác lên mình một trách nhiệm trọng đại. Có thể nó không đến mức như việc mẫu thân Mạnh Tử ba lần đổi nhà, nhưng ảnh hưởng của cha mẹ lên con cái, trong đó bao gồm cả môi trường gia đình, là rất lớn đến mức không gì có thể đo đếm được. Đó là vì cha mẹ có vai trò trực tiếp và sâu sắc đối với thời thơ ấu, thời kỳ rất quan trọng hình thành nên nhân cách và thậm chí là có thể thay đổi cả cuộc đời của con, tức là thay đổi cuộc đời của cả một con người.

Từng lời nói và hành động của cha mẹ, từng cái giơ tay từng cái bước chân, đều có thể quyết định đến nhân cách của con cái. Một lời nói vu vơ cũng có thể tạo nên nỗi ám ảnh cả đời cho con. Thế nhưng thật xấu hổ khi phải nói rằng, tôi đã không hề chuẩn bị sẵn quyết tâm gánh vác trách nhiệm trọng đại đó trước khi trở thành cha. Đối với tôi, quả thực là bỗng một ngày chợt nhận ra thì đã thấy mình làm cha rồi.

Cơ mà chẳng phải hầu hết các bậc cha mẹ trên thế gian này đều đại khái giống như tôi sao? Hầu như tôi chưa từng nghe thấy có trường hợp nào quyết chí làm cha mẹ, dành ra hàng năm trời nghiên cứu “cha mẹ học”, chuẩn bị chu đáo tuyệt vời rồi mới làm cha mẹ thật cả.

Thực tế là hầu hết mọi người, ít nhất là đối với đứa con đầu tiên, đều trở thành cha mẹ khi chưa hề có tí kinh nghiệm nuôi con nào. Và như vậy thì chẳng phải có thể nói rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều là gà mờ trong việc nuôi con” hay sao? Nghĩ đến đây, tôi lại không khỏi phải thêm một lần nữa giật mình trước khoảng cách quá xa giữa “gánh nặng trách nhiệm” và “sự thiếu thốn quyết tâm” của các bậc cha mẹ, tất nhiên trong đó bao gồm cả chính tôi.

Mười mấy năm trời từ khi con trai tôi sinh ra cho đến nay, tôi đã làm cha trong tình trạng “lái xe không bằng cấp”. Tôi đã làm cha một cách “đại khái”, chẳng hề được ai dạy, cũng chẳng hề học hành một cách nghiêm túc, mà chỉ nhìn ngó bắt chước xung quanh.

Tôi đã từng có lần xẵng giọng “làm cái gì thế!” khi con làm đổ nước khỏi cốc, trong khi bản thân chỉ buông một lời xin lỗi gọn lỏn cho qua chuyện khi chính mình làm đổ. Tôi cũng đã từng có lần suýt giơ tay lên đánh con theo phản xạ khi con sờ vào đồ trưng bày trong cửa hàng, trong khi bản thân biết rằng con chỉ đưa tay sờ vì một sự tò mò thuần túy.

Mỗi khi mắng con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có lý do chính đáng để mà mắng mỏ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn thuần mắng mỏ dựa trên tâm trạng hay cảm xúc của bản thân. Mỗi khi dạy con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có tri thức chuyên môn để mà dạy dỗ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn giản lợi dụng sự thiếu hiểu biết của con cái và lên mặt dạy dỗ bằng kinh nghiệm sống lâu hơn đôi chút của bản thân.

Khi suy nghĩ về “giáo dục” sau khi con trai bắt đầu đến trường Sudbury, một câu hỏi khác lại hiện ra trong trí não của tôi: “Gượm đã, đừng nói tới giáo dục vội, mà nghĩ xem bản thân mình giờ đang thế nào?”. Liệu rằng tôi có đủ tư cách làm cha để mà khệnh khạng đưa ra những lời dạy dỗ con cái hay không? Khi nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy chiếc mặt nạ “bậc phụ mẫu” rơi ra, làm lộ nguyên hình hài một con người non kém của bản thân mình. Câu hỏi “cha mẹ là gì”, không gì khác, cũng chính là câu hỏi “bản thân mình là ai”.

Từ đó, nhận thức của tôi đã được thay đổi. Giờ đây tôi tin rằng giữa cha mẹ và con cái không phải là một mối “quan hệ trên dưới”, mà là “quan hệ giữa những con người ngang hàng”. Tất nhiên, trẻ con thiếu hiểu biết, nhưng người lớn cũng chẳng hiểu biết nhiều hơn bao nhiêu. Nếu đã cùng là những người còn thiếu hiểu biết, thì chẳng phải cha mẹ và con cái nên nói chuyện với nhau một cách bình đẳng hay sao? Đúng vậy, “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Đó chính là điều thay đổi lớn xuất hiện trong tôi sau khi con trai đến trường Sudbury.

Tuy nhiên, đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Thực ra vẫn còn một lý do nữa cho việc tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Lý do đó, tôi sẽ để cho lần phát biểu sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【すべての親は子育ての素人だ】

「親とは何か?」息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、 私の頭からはこの問いがずっと離れなくなりました。先生も授業もないという特殊な学校 との出会いによって、「教育とは何か」という根本的な問題に直面し、そこから「親とは何 か」について考えるようになったのです。

そう、「教育とは何か」という問いは、「親とは何か」という問いとつながっているように 思います。なぜなら親は子に教育を授ける義務を負うからです。

ところが困ったことに、その“親”というものが私にはよく分からない。学校や仕事を選択 したときと違って、自ら決意して親になったわけではないからです。「よし、親になるぞ」と 決心して親になったわけではない。結婚して、妻が妊娠し、出産を経て、いつのまにか、 なんとなく、気がついたら親になっていたというのが正直な感想です。

よく「子どもは神様からの授かり物」といいますね。「授かる」とはよくいったもので、出 産は自分たちの力だけではいかんともしがたい運命的なイベント。この“授かる”という言 葉に象徴されるように、子が生まれて親になるのには、どこか受動的なイメージがつき まといます。

とはいえ、考えてみれば、親になるということはたいへん重大な責任を背負うこと。 孟母三遷の教えではないけれど、家庭環境を含めて、親が子に与える影響は計り知れ ないほど大きいのです。子どもという一個の人間の、一生を左右してしまうかもしれない 人格形成の大事な時期に、親は深く関わることになります。

親の行動や言動の一つひとつ、一挙手一投足が、子の人格を左右する。何気なく 言った一言が、一生その子のトラウマになることだってあるかもしれません。ところが 困ったことに、そのような重大な責任を背負う覚悟をもって自分は親になったわけでは ない。なんとなく気がついたら、親になってしまっていたというのが実感です。

でも、世間の大方の親御さんも、だいたい私と同じではないでしょうか。「親になるぞ」 と決意して、何年間も「親学」を学び、完璧に準備をしてから親になったという話はあまり 聞きません。

そもそもほとんどの人が、少なくとも長男長女の場合は、育児未経験のままで親にな るわけで、そういう意味で「すべての親は子育ての素人だ」といえるのではないでしょう か。親が負う「責任の重大さ」と「自覚の足りなさ」、このギャップの大きさには(自戒の 念を込めて)あらためて驚かされます。

息子が生まれて十数年、ここまで私は“無免許運転”のまま親をやってきました。誰 から教わったわけでもなく、真剣に学んだわけでもなく、見よう見まねで“なんとなく” “テキトー”に、親をやってきたのです。

子どもがコップの水をこぼしたとき「何やってんだ!」と声を荒げたことがありました。 自分がこぼしたときには「ごめん」の一語で済ませるくせに。子どもが店の商品に触った ときには、思わず手をあげそうになったこともあります。子どもが純粋な好奇心から手を 伸ばしたことを知っていたのに。

子を叱るとき、親は必ずしも正統な理由があって叱るわけではありません。単なる気分、 感情で言葉を発するときもあります。子に何かを教えるとき、必ずしも専門的な知識が あって教えるわけではありません。子が知らないことをいいことに、ちょっとだけ長く生き た自分が偉そうに言っているだけのこともあります。

息子がサドベリーに通うようになって「教育」のことを考えたとき、待てよ、教育について 考える前に「自分はどうなんだ?」という問いが頭に浮かびました。親として偉そうなこと を言う資格が自分にあるのかと。そう考えたとき、親の仮面がはがれ落ち、未熟な自分 の姿がそこに見えてきたのです。「親とは何か」という問いかけは、まさに「自分とは何か」 という問いかけに他なりません。

それで私の意識は変わりました。親子は「上下の関係」ではなく、人間として「横並びの 関係」であるべきだと思うようになったのです。子はもちろん未熟ですが、親もまた未熟 です。未熟者同士、親と子は対等に語り合える関係であるべきではないのかと。そう、 「親と子は対等の関係であるべきだ」。これが、子どもが東京サドベリースクールに通う ようになって私に現れた、大きな変化のひとつです。

でも、これだけではありません。実はもうひとつ、「親子の関係が対等であるべき」と 考える理由があるのです。それについては次回、またこの場をお借りして話したいと 思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Bàn về trẻ em

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “The Psychology of Freedom” của Peter R. Breggin.

1. Trẻ em nợ cha mẹ những gì?

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Bài ca dao này nếu tôi nhớ không nhầm thì mọi trẻ em Việt Nam đều được dạy ngay từ bậc tiểu học. Diễn giải ra một cách đơn giản, nó nói rằng công ơn của cha mẹ đối với con cái rất to lớn nên con cái có nghĩa vụ đạo đức phải chăm sóc và thờ phụng cha mẹ. Để tiết kiệm thời gian, tôi xin nói toạc luôn: tôi không nghĩ như vậy. Cụ thể, tôi không nghĩ rằng con cái phải mang một nghĩa vụ đạo đức đối với cha mẹ chỉ vì lý do cha mẹ đã sinh ra và nuôi nấng con cái đến khi trưởng thành. Bạn có quyền im lặng đọc tiếp, hoặc đóng trang này bất cứ khi nào. Tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ thiệt hại tinh thần nào phát sinh do việc đọc tiếp những dòng dưới đây.

Hãy thử tưởng tượng, bạn đang ngon giấc ngủ thì bỗng dưng bị một nhóm người ngoài hành tinh lôi tuột đến một thế giới hoàn toàn xa lạ. Bạn tỉnh dậy và thấy mình bị nhốt trong một cái lồng bằng xương thịt, vây quanh bởi những con người cao to gấp mấy lần bạn. Họ cho bạn ăn uống, chăm sóc các nhu cầu của bạn, dạy bạn những kỹ năng và hiểu biết của thế giới họ, nhưng đồng thời họ cũng sai khiến bạn, cấm đoán bạn, thậm chí sử dụng bạo lực với bạn. Nhưng bạn chấp nhận vì lờ mờ hiểu rằng bạn sẽ khó có thể sinh tồn được ở thế giới mới nếu như không có họ. Sau một thời gian, họ bảo với bạn rằng họ có công mang bạn đến thế giới này, giữ cho bạn sống đến ngày nay, và do đó bạn có nghĩa vụ phải nghe lời, kính trọng và phụng dưỡng họ suốt đời. Bạn sẽ cảm thấy thế nào?

Ví dụ so sánh mà tôi đưa ra có phần cực đoan và thiếu chuẩn xác, nhưng điều tôi muốn nói lên ở đây rất đơn giản: trẻ em không có quyền được lựa chọn việc sinh ra hay không, ở đâu, và bởi ai. Vì sao trẻ em lại được sinh ra? Phải chăng một ngày nào đó những đứa trẻ hiện lên trong giấc mơ của cha mẹ chúng và cầu xin được sinh ra trên đời? Phải chăng đứa trẻ tương lai sẽ được hỏi ý kiến trước xem có muốn được sinh ra hay không? Hay phải chăng, tất cả trẻ em đều bị cưỡng ép sinh ra từ những mong muốn đơn phương của người lớn? Ngày xưa, đa số trẻ em được sinh ra là để dùng làm lao động miễn phí trong gia đình. Ngày nay, phần đông trẻ em, nhất là ở các vùng đô thị, được sinh ra là để phục vụ nhu cầu tình cảm và quyền lực của cha mẹ các em. Về mặt đạo đức, chúng ta không có bất cứ nghĩa vụ gì đối với một quyết định mà chúng ta hoàn toàn không có tiếng nói. Và do đó, trẻ em không có nghĩa vụ phải mang ơn cha mẹ chúng chỉ vì đã được sinh ra trên đời.

Vậy còn công lao nuôi nấng chăm sóc thì sao? Quan điểm của tôi là đó là nghĩa vụ đạo đức mà cha mẹ phải thực hiện, là trách nhiệm tối thiểu đối với quyết định sinh ra con cái. Nếu như bạn không có đủ thu nhập để trả tiền xăng xe bảo dưỡng thì đừng mua ô tô. Tương tự nếu như bạn không sẵn sàng dành ra lượng tài sản vật chất và năng lượng tinh thần cần thiết để nuôi nấng con cái cho đến khi chúng có thể tự lập, thì đừng có sinh con. Chúng ta hẳn đều đồng ý rằng việc sinh con ra rồi không nuôi nấng tử tế là một việc làm vô trách nhiệm. Nhưng nếu như việc nuôi con đã là nghĩa vụ chúng ta tự tạo ra cho mình, thì cớ gì chúng ta lại còn muốn bắt trẻ em phải chịu ơn khi chúng ta thực hiện nghĩa vụ đạo đức đó? Nuôi con là một quyết định có trách nhiệm hay là một sự ban ơn? Đó là chưa kể, ai dám chắc rằng cái mà chúng ta tự cho là công ơn đó có thực sự được đánh giá cao trong mắt con cái hay không?

Trước khi mọi người nhao nhao lên đấu tố tôi là kẻ vô đạo đức, vô nhân tính, vô ơn bạc nghĩa nọ kia, tôi xin giải thích thêm thế này. Thứ nhất, bài viết này tôi dành chủ yếu cho các bậc cha mẹ trẻ hay cha mẹ tương lai, để mong rằng các bạn cư xử với con cái mình một cách nhân văn và rộng lượng hơn cái cách mà chúng ta vẫn đối xử với trẻ em từ trước đến nay. Tôi không viết bài này để xúi bẩy “giai cấp trẻ em toàn thế giới đoàn kết lại” nhằm chống đối cha mẹ. Trên thực tế, một đứa trẻ dù có suy nghĩ được những điều như trên và dám nói được ra, thì cũng nhẹ là bị trách móc hay chiến tranh lạnh, nặng thì có thể bị chửi mắng hay đánh đập. Do vậy nhìn từ phía những đứa trẻ còn phụ thuộc cha mẹ, việc “thờ mẹ kính cha” thường là một lựa chọn khôn ngoan hơn, đơn giản vì nó phục vụ tốt hơn cho lợi ích lâu dài của các em.

Thứ hai, quan trọng hơn, con cái không có nghĩa vụ đạo đức đối với cha mẹ không có nghĩa là con cái sẽ không tự mình nhận trách nhiệm kính trọng và phụng dưỡng cha mẹ. Dù muốn dù không, đối với đại đa số chúng ta cha mẹ vẫn là những người gần gũi nhất và có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với bản thân. Mười mấy năm chung sống, chăm sóc, khuyên bảo và yêu thương là quá đủ để tạo nên một mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ ràng buộc con cái với cha mẹ. Con cái vẫn có thể, và tôi tin là phần đông vẫn sẽ tự lựa chọn việc “làm tròn chữ hiếu” ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, việc “có hiếu” hay không, và bằng cách nào, là hoàn toàn do những đứa con tự mình cảm nhận và quyết định, chứ không phải do sự tẩy não và áp lực từ bên ngoài. Còn nếu như sau cả chục năm mà chúng ta vẫn không thể tạo nên được một sợi dây tình cảm đủ bền chặt, thì có lẽ trước hết chúng ta nên tự nhìn lại xem mình đã xứng đáng với sự kính trọng và phụng dưỡng của con cái hay chưa.

2. Quyền làm người của trẻ em

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Hẳn người Việt Nam ai cũng biết câu nói trên nằm trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng trích dẫn. Và có lẽ khi đọc những dòng đó, ai cũng cảm thấy nó thật đúng đắn, thật chân lý, ai phản đối thì thật là kẻ vô đạo đức lắm lắm. Đúng thế, tất cả mọi người đều bình đẳng, chỉ trừ một vài ngoại lệ là bọn nô lệ, bọn da đen và bọn đàn bà. Đó là thực trạng của xã hội Mỹ sau khi giành được độc lập từ nước Anh. Đến nay, sự ngược đãi và bất công mà những giai cấp người này phải chịu phần lớn đã được công nhận và loại bỏ dần. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn bỏ sót một “ngoại lệ” khác nữa, đó là bọn trẻ con. Theo tôi, trẻ em có lẽ là giai cấp bị ngược đãi trầm trọng nhất trong xã hội loài người tự cổ chí kim. Lý do rất đơn giản: trong mỗi giai cấp bị ngược đãi hầu như bao giờ cũng có một bộ phận là trẻ em, và trẻ em thường phải chịu sự ngược đãi lớn hơn vì không có sức phản kháng.

Vậy cụ thể trong xã hội hiện nay trẻ em đang phải chịu sự ngược đãi như thế nào? Ngược đãi không nhất thiết phải là xâm phạm đến thể xác. Trẻ em ngày nay vẫn hàng ngày bị ngược đãi về tinh thần bằng việc bị tước đoạt tự do tư tưởng, bị cưỡng ép làm những việc mình không muốn, bị bôi nhọ và hạ thấp nhân phẩm,… Có bao nhiêu đứa trẻ đang hàng ngày bị người lớn áp đặt đủ thứ luật lệ tùy thích với danh nghĩa “đạo đức”, “truyền thống”, “gia phong” và “giáo dục”? Có bao nhiêu đứa trẻ bị bắt đến trường, bị bắt ngồi yên một chỗ, bị bắt học những thứ vô nghĩa, bị bắt làm những thứ vô nghĩa, dù cho các em không muốn? Có bao nhiêu đứa trẻ bị nói thẳng vào mặt là “ngu”, là “dốt”, là “hư đốn”, là “mất dạy” chỉ vì các em làm trái ý người lớn? Trong thực tế, cho đến tận ngày nay chỉ cần không đi quá đà thì mọi cha mẹ đều có thể dùng bạo lực thể chất và tinh thần để “dạy bảo” con cái mà không lo bị gắn mác “ngược đãi”.

Tại sao chúng ta có thể vừa rao giảng những điều đạo đức tốt đẹp, đồng thời lại vừa ngược đãi trẻ em? Sự mâu thuẫn đó có thể được lý giải tương tự như đối với những người nô lệ ngày trước : đó là trong đại đa số trường hợp, trẻ em không được coi là “người”, mà là một cái gì đó “dưới người” một chút. Điều đó được thể hiện qua sự phân biệt đối xử rõ ràng giữa trẻ em và người lớn: Chúng ta dễ dàng chấp nhận việc cha mẹ đánh đòn hoặc mắng mỏ con cái hơn nhiều so với việc người chồng đánh đập hay lăng mạ người vợ. Chúng ta có thể lên án một doanh nghiệp có hành vi bạo lực với người lao động, nhưng lại có thể ủng hộ hay thông cảm với việc giáo viên phạt đòn học sinh. Chúng ta chẳng ai rỗi hơi bắt một người lớn phải học nọ học kia, nhưng sẵn sàng cưỡng ép trẻ em phải đến trường để học thứ chúng ta muốn. Người lớn có thể đòi hỏi tự do và quyền lợi cho bản thân, trong khi nhiều đứa trẻ đến cả việc đáp ứng nhu cầu ăn/ngủ/mặc cũng không được theo ý mình.

Tại sao trẻ em lại không được coi “là người”? Đơn giản đó là vì các em khác chúng ta: các em yếu ớt hơn, kém hiểu biết hơn chúng ta. Và có lẽ đó cũng là lý do duy nhất cho việc chúng ta ngược đãi trẻ em: vì chúng ta có thể. Trẻ em là một trong số rất ít giai cấp người gần như hoàn toàn không có khả năng tự bảo vệ mình cả về mặt thể xác lẫn tinh thần. Các em bị vây quanh bởi những con người cao to hơn các em, khỏe mạnh hơn các em. Cuộc sống của các em phụ thuộc vào họ. Bản năng khiến các em khao khát sự yêu thương và công nhận từ họ. Và chúng ta lợi dụng điều đó. Chúng ta đánh đập, chửi mắng, cưỡng ép trẻ em vì biết rằng các em không thể, và không dám phản ứng lại, cả vì sợ hãi, cả vì bất lực, và cả vì để bảo vệ chính sự sống của mình. Chúng ta chỉ ngừng ngược đãi trẻ em khi các em trở nên khỏe mạnh hơn chúng ta, độc lập khỏi chúng ta cả về tài chính và tinh thần. Tức là chúng ta chỉ dừng lại khi chúng ta biết rằng các em không còn sợ chúng ta nữa, và ngược lại chúng ta biết sợ sự phản kháng từ phía các em.

Đó có phải là một cách suy nghĩ có đạo đức hay không? Chúng ta nên nhớ rằng, trẻ em không lựa chọn việc sinh ra trong một cơ thể và tâm hồn non nớt yếu đuối, mà là chúng ta tạo ra trẻ em như vậy. Tại sao một người bị thần kinh ngớ ngẩn thì nhận được sự cảm thương của xã hội, còn sự yếu ớt của trẻ em thì lại trở thành cái cớ để khinh thị và ngược đãi? Nếu nói rằng trẻ em không làm ra của cải và phải phụ thuộc vào xung quanh, vậy thì một người tàn tật không thể lao động có xứng được coi là con người hay không? Có thể là do tôi lười suy nghĩ hay có sẵn thiên kiến, nhưng cá nhân tôi không thể tìm ra được một lý do đạo đức nào cho việc xếp trẻ em đứng dưới người lớn trong tư cách một con người. Mọi trẻ em đều là con người, với đầy đủ quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Và chúng ta có nghĩa vụ đạo đức phải đối xử tương xứng với các em, ít ra là chừng nào chính chúng ta còn đòi hỏi cũng những quyền lợi đó cho bản thân mình.

3. Chưa biết suy nghĩ, thế thì sao?

Ở đây tôi muốn đào sâu hơn vào một trong những lý do phổ biến nhất mà người lớn, đặc biệt là các bậc cha mẹ, thường đưa ra để phớt lờ và coi thường ý kiến của trẻ em, và nhiều khi là áp đặt ý kiến của mình. Đó là vì trẻ em “chưa biết nghĩ”, “chưa đủ chín chắn” hay thậm chí là “vô tư”. Khoan nói đến chuyện trẻ em có thực sự “vô tư”, “thiếu suy nghĩ” hay không, tôi chỉ muốn hỏi một câu muôn thuở: thế thì sao? Tại sao việc trẻ em chưa đủ khả năng suy nghĩ lại trở thành lý do để tước đi quyền tự do suy nghĩ và định đoạt của các em?

Nếu chúng ta cho rằng làm như thế là vì lợi ích của trẻ em, thì điều đó cũng tương tự với việc đánh gãy chân ai đó để người đó không bước nổi ra khỏi nhà và như vậy sẽ được an toàn. Quyền tự do suy nghĩ và tự định đoạt đối với bản thân là một trong những quyền lợi cơ bản và tối thượng của mọi con người, không cứ gì là trẻ em. Hành vi tước đoạt quyền tự do tư tưởng tương đương với việc hủy hoại nhân cách và chà đạp lên quyền làm người của đối phương. Việc cảm thấy bị tước đoạt tự do có tác động tiêu cực nặng nề, trực tiếp và lâu dài về mặt tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em. Nếu một người tự cho rằng mình không cho trẻ em quyền tự định đoạt là vì lợi ích của các em, thì tôi nghĩ rằng hoặc người đó có cái nhìn lệch lạc về con người, hoặc đơn giản người đó thực chất chỉ muốn phục vụ lợi ích của bản thân mà thôi.

Nếu chúng ta cho rằng phải đợi đến khi trẻ em “biết suy nghĩ chín chắn” rồi mới nên để các em được tự mình suy nghĩ, thì chúng ta cũng nên yêu cầu tất cả mọi người phải biết nấu cỗ Tết rồi mới được vào bếp, biết may áo dài rồi mới được đụng đến kim chỉ, và biết đua xe mô tô rồi mới được tập xe đạp. Trẻ em không phải cứ đến tuổi là đùng một cái biết suy nghĩ “như người lớn”. Như mọi kỹ năng khác, việc cân nhắc, ra quyết định, và chịu trách nhiệm về quyết định của bản thân là một năng lực cần phải được xây đắp bằng kinh nghiệm thực tiễn. Trẻ em cần được để cho tự do suy nghĩ và định đoạt những vấn đề của bản thân, và vấp ngã nếu sai lầm, vì đó là cách duy nhất để xây dựng nên bản lĩnh sống của các em. Việc “bảo vệ” trẻ em bằng cách ngăn cản các em tự định đoạt những vấn đề của bản thân là một vòng xoáy tiêu cực: chúng ta càng ngăn cản các em tự quyết, các em càng thiếu kinh nghiệm và năng lực tự quyết, và chúng ta không thể bảo vệ các em cả đời được.

Và cuối cùng, tôi tin rằng không có một đứa trẻ nào thực sự “vô tư” cả. Đó chỉ là sự đánh giá một chiều từ tiêu chuẩn và góc nhìn của người lớn. Từ khi mới sinh ra cho đến khi trưởng thành, mọi đứa trẻ đều sống như một người lớn, tức là có những giây phút bông đùa vô tư lự, và có những giây phút hoàn toàn nghiêm túc. Một đứa trẻ bắt chước những động tác siêu nhân một cách vụng về không phải là đang đùa giỡn, mà thực sự tin rằng mình đang làm giống hệt trên phim, rằng trông mình đang rất “oách”. Một đứa trẻ nói rằng sau này muốn trở thành bác sĩ hay bộ đội không phải là đang mơ mộng ngây thơ, mà đó là một mong muốn có suy nghĩ, dù là có thể đơn giản so với người lớn. Những đứa trẻ đó khi lớn lên có thể sẽ thay đổi suy nghĩ, và có thể sẽ cảm thấy xấu hổ hay hối hận về những việc mình đã nói hay làm, nhưng đó là chuyện của tương lai xa xôi sau này. Tại thởi điểm quyết định, rất có thể các em hoàn toàn nghiêm túc, và điều đó nên được tôn trọng.

4. Đối xử với trẻ em thế nào?

Vậy, người lớn chúng ta nên đối xử với trẻ em như thế nào? Câu trả lời rất đơn giản: như đối với bất cứ con người nào khác, không hơn, không kém. Điều đó có nghĩa là về nguyên tắc chúng ta không được quyền ngăn cản trẻ em hưởng thụ những quyền lợi mà mọi người khác được hưởng, cũng như không nên che chở trẻ em khỏi những trách nhiệm mà mọi người khác phải gánh vác. Đứng trên phương diện cá nhân, về cơ bản điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải tôn trọng nhân phẩm và quyền tự quyết của trẻ em trong mọi hoàn cảnh, và để cho trẻ em chịu trách nhiệm nhiều hơn về cuộc sống của bản thân, từ những việc nhỏ nhặt như ăn/mặc/ngủ, cho đến việc học tập, lao động, và nhất là khắc phục những sai lầm của bản thân.

Có thể sẽ có người lo lắng rằng tôn trọng tự do của trẻ em là nuông chiều thái quá. Tôi không nghĩ là như vậy. Tôn trọng tự do của trẻ em không có nghĩa là chúng ta phải làm theo mọi điều trẻ em muốn. Chúng ta cũng là con người và có quyền tự do của chúng ta, và do đó chúng ta có quyền không làm những gì mình không muốn, miễn là điều đó không đi ngược lại với nghĩa vụ đạo đức của bản thân. Đối với các bậc cha mẹ, nghĩa vụ đạo đức đó là việc đảm bảo những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu để đứa con có thể sống và trưởng thành một cách khỏe mạnh. Những nhu cầu tối thiểu đó bao gồm một chỗ ở, các nhu yếu phẩm, sự bảo vệ trước đe dọa bên ngoài, và một tình yêu thường xuyên và vô điều kiện. Chúng ta không cần phải mua cho trẻ em những thiết bị hay đồ chơi đắt tiền nếu không muốn. Nhưng ngược lại chúng ta cũng không có quyền ngăn cấm trẻ em tự mình có được những thứ đó chỉ vì chúng ta không muốn cho các em sở hữu chúng.

Vậy khi nào thì người lớn “được quyền” có hành vi cưỡng chế đối với trẻ em? Cá nhân tôi cho rằng một hành vi như vậy chỉ được chấp nhận trong trường hợp an toàn tính mạng và sức khỏe của đứa trẻ hoặc của một ai đó khác đang bị đe dọa một cách trực tiếp và rõ ràng, ví dụ như khi đứa trẻ đùa nghịch với điện hay dao kéo. Điều đó có nghĩa là việc một đứa trẻ không chịu ăn hết khẩu phần hay thậm chí là nhịn đói một vài bữa không phải là lý do chính đáng để chúng ta bắt ép đứa trẻ đó phải ăn dù nó không muốn. Thêm vào đó, kể cả khi chúng ta có lý do chính đáng để cưỡng chế trẻ em, chúng ta cũng nên ý thức được rằng đó là một hành vi tuy cần phải làm, nhưng vẫn là vi phạm đến nhân phẩm và tự do của các em, và do đó nên được thực hiện với một sự giải thích rõ ràng và thái độ cảm thông. Tất cả những điều này cũng là cách mà chúng ta nên ứng xử với bất kỳ con người nào khác, chứ không phải là một sự đối xử đặc biệt dành cho trẻ em.


Nếu như có ai cảm thấy những điều tôi viết ra ở đây tước đi quá nhiều, nếu không phải là toàn bộ, quyền lực của cha mẹ với con cái, thì tôi xin nhắc lại một lần nữa: trẻ em không có bất kỳ một nghĩa vụ đạo đức nào đối với bất kỳ ai chỉ vì mình đã được sinh ra trên đời, và do đó ít nhất là trên phương diện đạo đức, cha mẹ hay xã hội đều không hề có một quyền lực nào đối với trẻ em cả. Nói rộng ra, không ai có nghĩa vụ đạo đức phải tuân thủ theo bất kỳ một sự áp đặt nào từ bên ngoài, trừ khi là do sự lựa chọn tự do của chính người đó, bất kể sự áp đặt đó có là “truyền thống”, “thuần phong mỹ tục”, hay thậm chí là cả pháp luật. Tất nhiên điều đó cũng có nghĩa là các bạn hoàn toàn có quyền phớt lờ những điều tôi viết và đối xử với con cái theo cách mà các bạn muốn. Vì xét cho cùng, tôi chẳng thể chịu trách nhiệm thay cho các bạn về cuộc sống của các con bạn sau này được.

Bố và con trai: Chuyện con chó (2)

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Câu chuyện về bố và con trai trong bài viết trước do tôi nghĩ ra sau khi đọc một mẩu chuyện trên mạng về việc một số đứa trẻ thích trêu ghẹo, thậm chí là đánh đập chó mèo. Việc trêu ghẹo chó mèo hay vật nuôi khác có thể dẫn đến nhiều vấn đề. Do đó, tôi đã nghĩ xem làm thế nào để có thể dạy con không làm điều đó trong một tình huống tưởng tượng cụ thể.

Tuy nhiên nếu dừng lại ở đó thì hẳn nhiều người sẽ chỉ cảm thấy đó là một “câu chuyện đẹp” ở một thế giới xa vời chứ không thể áp dụng được cho bản thân. Do đó trong bài viết này tôi sẽ phân tích ngọn ngành suy nghĩ của mình trong câu chuyện để các bạn tham khảo.


1. Xác định tiền đề

Theo như tôi cảm nhận, nhiều bậc cha mẹ khá lúng túng với việc làm sao để dạy con cho “tốt”. Như tôi đã trình bày trong một bài viết khác, mọi sự vật sự việc đều có tính tương đối và do đó cần được đánh giá dựa trên một số tiêu chuẩn đánh giá nhất định (tiền đề). Trong việc hành xử của con người, tôi cho rằng hai tiền đề quan trọng nhất là mục đíchnguyên tắc sống. Một phương pháp dạy con chỉ được coi là “tốt” nếu như nó giúp bạn đạt được đúng mục đích đề ra, đồng thời tuân thủ theo những nguyên tắc sống cơ bản của cá nhân bạn.

Mọi hành động của con người đều có mục đích, dù là vô thức hay hữu ý. Nếu bạn không ý thức được một mục đích rõ ràng mà hành động theo cảm tính, thì não bộ của bạn sẽ tự chọn cho bạn một mục đích dựa vào bản năng và tiềm thức của bạn, dù mục đích đó đi ngược lại mong muốn có ý thức của bạn. Do đó, nếu bạn muốn bản thân có hành động “tốt”, thì bạn phải luôn ý thức được một mục đích “tốt”, hoặc cao hơn là rèn luyện cho mình một tiềm thức “tốt”. Thế nào là “tốt” thì là tự do của bạn. Nếu mục đích của bạn là khiến cho con sợ hãi bạn một phép, thì việc thường xuyên mắng mỏ, quát tháo và dùng đòn roi cũng là một phương pháp “tốt”. Ở đây tôi chỉ xin nói về ý kiến của cá nhân tôi.

Mục đích cao nhất trong việc dạy con của tôi (mặc dù tôi chưa có con) là giúp con trở thành một cá nhân có thể 1) tự mình suy nghĩ, đánh giáquyết định dựa trên các giá trị tự thân, và 2) tự chịu trách nhiệm về mọi quyết định cũng như hạnh phúc của bản thân. Dựa vào đó, đối với tình huống cụ thể là chuyện con chó, mục đích của tôi sẽ là giúp cho con hình thành được 1) các lý do và 2) khả năng suy nghĩ để từ đó có thể tự quyết định không đá chó mèo vô cớ, cũng như không đánh người khác vô cớ. Chú ý ở đây mục đích của tôi không đơn thuần chỉ là “khiến cho con không đá chó nữa”.

Nếu như mục đích là cơ sở để quyết định bạn sẽ làm gì, thì nguyên tắc sống là cơ sở để quyết định bạn sẽ làm hay không làm một việc cụ thể nào đó trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó. Giống như với mục đích, tất cả mọi người đều có những nguyên tắc sống nhất định, dù là vô thức hay hữu ý, từ đơn giản nhất như “làm mọi việc để đạt mục đích” cho đến các hệ thống giá trị đạo đức phức tạp. Nguyên tắc sống thuộc nhiều về tiềm thức hơn ý thức, do đó cần được ý thức lâu dài để có thể thực sự bám rễ một cách vững chắc.

Cá nhân tôi có một số nguyên tắc sống khác nhau, nhưng nguyên tắc sống cao nhất là không làm với người khác cái mình không muốn phải chịu. Tôi là một người ham thích sự tự chủ trong suy nghĩ và hành động, do đó tôi không muốn làm những việc có thể dẫn đến tước đi sự tự chủ trong suy nghĩ và hành động của con. Tự chủ ở đây được hiểu là “tự đặt ra cho bản thân những luật lệ của bản thân”. Nguyên tắc này đã góp phần định hình nên mục đích cho việc dạy con mà tôi đã trình bày ở trên.

Sau khi đã xác định được các tiền đề quan trọng, tiếp theo tôi sẽ đi vào từng quyết định cụ thể trong câu chuyện giữa bố và con trai về con chó.

2. Tạo môi trường hòa bình

Một trong những quyết định đầu tiên của tôi là sẽ dạy bảo con trong môi trường “hòa bình” thay vì “chiến tranh”. “Hòa bình” ở đây được hiểu là con không cảm thấy có mối đe dọa nào về mặt tinh thần hay thể xác trong quá trình dạy bảo. Đó là lý do cho việc tôi nói chuyện với con bằng một thái độ bình thản và một giọng nói từ tốn trong hầu hết câu chuyện. Tôi chuyển tâm trạng từ giận dữ sang bình tĩnh bằng cách hít thở hai hơi dài trước khi tát con. Việc hít thở một hơi dài có tác dụng làm thay đổi nhịp thở và từ đó làm gián đoạn luồng cảm xúc tiêu cực. Bạn có thể tìm hiểu thêm về cách chế ngự cảm xúc giận dữ qua một bài viết trước của tôi.

Bạn có thể thấy điều này hơi chéo nghoe, nhưng việc tát con khi còn đang tức giận, và việc tát con khi đã bình tĩnh có ý nghĩa rất khác nhau. Việc bình tĩnh lại rồi mới tát con đảm bảo rằng cái tát đó là có ý thức và mang mục đích giáo dục, với độ mạnh vừa phải và có tính đến nhiều yếu tố khác, trong đó có sự an toàn của con. Nếu tôi tát con trong khi còn đang giận dữ, cái tát đó rất có thể sẽ mang một mục đích khác: thống trị và bắt đối tượng phục tùng bằng vũ lực, một trong các bản năng của con người. Chưa kể lực tát rất có thể sẽ khiến con ngã hay gây thương tích khác dẫn đến làm gián đoạn việc dạy bảo. Một mở đầu lệch lạc sẽ gây khó khăn rất lớn trong việc đạt được mục đích như mong muốn.

Bên cạnh việc xua tan cơn giận của bản thân, tôi còn có một số cử chỉ khác để trấn an con và tạo môi trường hòa bình: quỳ xuống để đặt mắt ngang hàng với mắt con thay vì đứng thẳng và nhìn từ trên xuống, hai tay đặt ở các vị trí không mang tính thù địch hay đe dọa mà là mời gọi, và nói rõ cam kết không đánh cũng như khẳng định mình không giận. Tất cả những điều đó giúp cho con cảm thấy không có mối đe dọa hiện hữu. Hành động vuốt má con thể hiện sự yêu thương bình thường, giúp cắt đứt sự liên hệ cuối cùng giữa cái tát lúc trước và câu chuyện với bố sau đó.

Việc dạy bảo trong hòa bình có ý nghĩa rất quan trọng, bởi khi cảm thấy bị đe dọa về thể xác và tinh thần, suy nghĩ của con sẽ dễ bị rối loạn do sợ hãi. Khi đó, hoặc những gì bạn nói sẽ trôi tuột khỏi trí nhớ của con, hoặc tệ hơn là con sẽ “cắm lệch” nguyên nhân nọ vào kết quả kia (vd. bị đánh là vì đá chó), dẫn đến tiếp thu sai lệch bài học. Đó là chưa kể những câu trả lời của con khi đó sẽ không thành thực mà tập trung vào mục đích xoa dịu nguồn gốc của sự đe dọa, ở đây là cơn giận của bố. Kể cả khi con có gật đầu khi nghe dạy bảo, đó cũng sẽ là vì áp lực từ bên ngoài chứ không phải vì một lý do bên trong. Điều đó không phục vụ mục đích đã đặt ra, cũng như đi ngược lại nguyên tắc sống của tôi.

3. Cung cấp lý do

Để thuyết phục con không đá chó vô cớ, tôi cần đưa ra cho con một số lý do mà con cảm thấy thuyết phục. Lý do càng thuộc về tự thân thì càng mạnh mẽ và lâu dài. Tính tự thân mất dần theo thứ tự từ bản năng, đến tiềm thức, đạo đức cá nhân, lợi ích cá nhân, áp lực nội tại, và cuối cùng là các áp lực bên ngoài. Lý do tự thân ở mức cao nhất tôi có thể nghĩ ra là tình yêu thú vật. Lý do này sẽ khiến con không bao giờ nghĩ đến việc đánh đập thú vật dù vô cớ hay có cớ, nhưng rõ ràng trong con chưa có cái đó, và tôi cũng không thể tạo nên cái đó trong một chốc một lát.

Lý do ở mức tiếp theo sẽ là một lý do tuy không ngăn con nghĩ đến việc đá chó cho vui, nhưng sẽ khiến con lựa chọn việc không đá chó vì nó phù hợp với đạo đức của bản thân. Cụ thể ở đây tôi lựa chọn sự thấu cảm, tức việc hiểu được cái người khác đang cảm nhận. Tôi đặt hy vọng vào việc khi hiểu được nỗi đau của con chó và sự bất công mà bản thân đang gây ra cho nó, con sẽ tự đặt mình vào vị trí của con chó, thấy rằng những hành động của mình là sai trái, và tự quyết định từ bỏ những hành động đó. Bạn cũng có thể tìm những lý do khác tương đương như sự công bằng (ko áp bức vô cớ), sự thương cảm (thương xót kẻ hoạn nạn), lòng tự tôn (ko áp bức kẻ yếu).

Thẳng thắn mà nói, tôi đã khá bân vân trong việc có dùng hay không dùng vũ lực (tát) đối với con. Tuy nhiên tôi cảm thấy rằng nếu không cho con cảm nhận trực tiếp nỗi đau khi bị người lớn hơn mình đánh, cũng như sự sợ hãi và uất ức khi bị đánh vô cớ, thì bài học của tôi sẽ không để lại ấn tượng thực sự và lâu dài đối với con. Mặc dù vậy, việc đánh con tiến rất gần đến vi phạm nguyên tắc và có thể khiến con hiểu nhầm mục đích hoặc cho là tôi tự mâu thuẫn bản thân, nên tôi đặc biệt chú ý đến việc giúp con hiểu rằng cái tát đó không phải là do con hư, không phải là do tôi muốn áp chế con, càng không phải do tôi thích thế, mà là có mục đích rõ ràng, và chỉ giới hạn trong đúng mục đích đó mà thôi.

Khi thấy con chưa thực sự sẵn sàng chấp nhận lý do trên, tôi “bồi” thêm một lý do thứ hai. Tuy mức độ tự thân không cao bằng lý do trước, nhưng lý do này có khả năng thuyết phục tại chỗ mạnh mẽ hơn: nếu muốn đánh người vô cớ thì cũng phải chấp nhận bị đánh vô cớ. Đây đồng thời cũng là một sự mở rộng của nguyên tắc sống của cá nhân tôi. Lý do này có thể không thuộc về đạo đức của bản thân con, nhưng nó phù hợp với lợi ích của con: hẳn con sẽ không muốn sống trong một thế giới mà ai cũng có thể đánh mình bất cứ lúc nào, nhất là sau khi vừa ăn cái tát làm ví dụ của bố.

4. Cung cấp suy nghĩ

Chỉ cung cấp lý do thôi là chưa đủ để thực sự thuyết phục con. Tôi cũng cần phải giúp con kết nối từ lý do đến kết luận mà tôi mong muốn, tức tôi cần giúp con suy nghĩ. Nếu không có sự suy nghĩ của bản thân con, thì sợi dây liên kết giữa lý do và kết luận trong trí óc của con sẽ không được thiết lập. Con sẽ không cảm thấy lý lẽ của tôi là có lý, và do đó sẽ không chấp nhận nó làm của mình. Một điều tôi hay thấy ở các bậc cha mẹ là do quá nóng vội muốn con nghe lời mình mà thể hiện sự hối thúc hay thậm chí là ép buộc con chấp nhận lý lẽ của mình. Có thể con sẽ gật đầu lúc đó, nhưng trong tâm trí con lý lẽ đó sẽ đúng vì “bố/mẹ bảo thế”, chứ không phải vì con thấy thế. Điều này vẫn đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trong trường lớp.

Để giúp con tự suy nghĩ thì việc tạo ra một môi trường “hòa bình”, như tôi đã trình bày ở trên, là một điều kiện rất quan trọng. Khi đã có một môi trường hòa bình, tôi đã đưa ra một loạt câu hỏi để dẫn dắt con từng bước đi đến kết luận. Chú ý rằng ở đây tôi không đơn thuần chỉ nói ra các suy nghĩ cụ thể, mà dùng các câu hỏi và để cho con tự trả lời. Nếu chỉ là nghe lại suy nghĩ từ bố, con sẽ tiếp thu trong tư thế bị động, đầu óc con sẽ không được kích thích tự suy nghĩ, và con sẽ không cảm thấy có trách nhiệm cá nhân với những suy nghĩ đó.

Nếu con đã lớn và có thể tự nói ra suy nghĩ của mình, tôi có thể sử dụng các câu hỏi dạng mở (cái gì, tại sao, thế nào, …) để gợi ý cho con tự suy nghĩ. Tuy nhiên khi con còn nhỏ, các câu hỏi mở có thể khiến con không nghĩ ra câu trả lời, hoặc không biết diễn tả câu trả lời thế nào và dẫn đến bế tắc. Do vậy ở đây tôi đã dùng các câu hỏi dạng có/không để con có thể dễ dàng lựa chọn câu trả lời. Tuy có vẻ như tôi đang “mớm lời” cho con, nhưng chỉ cần con được tự do và thoải mái suy nghĩ trước khi trả lời, thì các câu trả lời đó là của chính bản thân con. Tôi cũng không hề đưa ra đánh giá là câu trả lời của con “đúng” hay “sai”, để tránh khiến con đi tìm câu trả lời “đúng với bố”.

5. Làm gì khi thất bại

Hiển nhiên, khi đi vào thực tiễn rất có thể con sẽ không trả lời như tôi mong muốn, việc dạy bảo không đạt kết quả như tôi dự tính, nói tóm lại là rất có thể tôi sẽ thất bại. Khi đó tôi nên làm gì? Để trả lời câu hỏi đó, tôi cần nhìn lại các tiền đề của mình. Việc dạy bảo của tôi chỉ có thể được coi là thành công nếu như tôi đạt được đúng mục đích đặt ra ban đầu, cũng như giữ toàn vẹn được các nguyên tắc sống của mình. Trong đó, việc tuân thủ các nguyên tắc sống cần được ưu tiên hơn, vì chúng là các giá trị xuyên suốt cuộc sống của tôi.

Thực tế, một phương pháp “tốt” không có nghĩa là nó đảm bảo thành công 100%. Dù tôi có nhận mọi trách nhiệm về mình, có suy nghĩ kỹ càng và hành động cẩn thận đến đâu, thì vẫn có vô vàn yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của tôi, trong đó suy nghĩ của con là yếu tố lớn nhất. Nếu như tôi cứ chăm chăm vào việc muốn con không đá chó, rất có thể tôi sẽ có hành động bắt ép, ra lệnh hay dọa nạt con, và như vậy tôi sẽ phá vỡ nguyên tắc sống của mình, đồng thời đi lệch khỏi mục đích đặt ra ban đầu là giúp con tự quyết định không đá chó. Do đó, nếu con từ chối chấp nhận suy nghĩ của tôi, tôi sẽ chấp nhận quyết định đó của con, tức là tôi sẽ chấp nhận thất bại. Ít ra là tôi đã nỗ lực hết sức trong giới hạn nguyên tắc của mình.

Nghĩ một cách sâu xa hơn, mục đích cao nhất của tôi không phải là khiến cho con nghe lời tôi, mà là giúp con biết tự suy nghĩ và chịu trách nhiệm về mọi quyết định của bản thân. Nếu tôi có thể thấy rằng con đã tự đưa ra quyết định của mình, kể cả khi quyết định đó trái với mong muốn của tôi, thì coi như tôi đã đạt được phần nào mục đích cao hơn của mình, mặc dù thất bại trong mục đích trước măt. Vấn đề còn lại là đảm bảo rằng con biết chịu trách nhiệm về quyết định đó.


Qua bài viết này, các bạn có thể thấy rằng nếu muốn có một phương pháp dạy con “tốt”, bạn nên xác định được cho mình một mục đích “tốt”, suy nghĩ hướng tới việc đạt được mục đích đó, đồng thời xác định và tuân thủ theo các nguyên tắc sống của bản thân. Khi đó, bạn sẽ thấy các câu chuyện dạy con nói riêng và các câu chuyện đạo đức khác không tự dưng từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của một quá trình suy nghĩ dựa trên những tiền đề cụ thể.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải một bài viết về một phương pháp dạy con cụ thể. Đây là một bài viết về cách để mỗi người có thể tìm ra phương pháp dạy con “tốt” của riêng mình. Bản thân tôi chưa có con, do đó tôi cũng không thể kiểm chứng thực tế được những gì tôi viết ở đây về cách dạy con và tâm lý trẻ nhỏ. Nhưng tôi tin chỉ cần nắm được phương pháp suy nghĩ cốt lõi, thì mọi người đều có thể tự tìm ra hoặc xác định được cách dạy con mà mình mong muốn.

Bố và con trai: Chuyện con chó

Chú ý: Câu chuyện chỉ mang tính ví dụ.

Bố mới vào khoảng đầu ba mươi, còn con trai mới khoảng ba bốn tuổi. Một ngày, cả gia đình đến nhà một người thân để tụ tập họ hàng nhân dịp Tết Nguyên đán. Bố đang ngồi nói chuyện với những người lớn khác, bỗng nhìn ra ngoài sân và thấy cảnh con trai đá vào bụng con chó nuôi trong nhà. Con chó chỉ cao ngang đầu gối của con trai, và cũng không phải chó giữ nhà, nên nó chỉ kêu ăng ẳng một cách đau đớn và tìm cách chạy trốn chứ không cắn lại.

Bố đứng bật dậy gọi to tên con trai và đi tới chỗ con trai đang đứng. Con trai nghe tiếng bố gọi thì quay lại, mặt vẫn còn nguyên một nụ cười khoái chí. Bằng một giọng nói có vẻ bình tĩnh nhưng đi kèm là đôi lông mày nheo lại tỏ rõ sự không vừa lòng, bố hỏi con trai.

Bố: Tại sao con lại đá con chó?

Con trai: (không trả lời, và nở một nụ cười cầu hòa)

Bố thở ra một hơi dài, và hỏi lại bằng giọng điềm đạm hơn.

Bố: Con không có lý do gì à?

Con trai: (lắc đầu)

Bố: Bố hỏi lại nhé, như vậy có phải là con đã vô cớ đá con chó không?

Con trai: (ngập ngừng một lúc rồi gật đầu)

Bố thở ra thêm một hơi dài nữa, nhìn con trai, rồi bỗng giơ tay lên tát con trai một cái khá đau, khiến con trai hơi loạng choạng, và đương nhiên là òa lên khóc. Một vài người lớn trong nhà nghe thấy thì chạy ra hỏi han và dỗ dành con trai.

Bố: (nói với người thân) Chị cứ để em dạy cháu.

Bố quỳ đầu gối xuống đất, ngồi trên gót chân, người hơi nghiêng về phía trước, một tay đặt lên đầu gối, một tay ngửa ra và đưa về phía con trai, nói bằng giọng từ tốn.

Bố: Con lại đây. Bố có chuyện muốn nói với con.

Con trai vẫn có vẻ sợ hãi, ngập ngừng không dám đến bên bố. Bố vẫn đưa tay ra và kiên nhẫn chờ.

Bố: Bố không đánh nữa đâu. Bố không giận nữa đâu. Lại đây nào.

Người thân xung quanh cũng dỗ dành và động viên. Con trai bắt đầu bước về phía bố. Khi đến nơi, bố đưa tay lên vuốt má chỗ vừa tát và vuốt nước mắt của con trai, rồi nhìn thẳng vào mắt con.

Bố: Con có biết tại sao bố đánh con không?

Con trai: (lắc đầu)

Bố: Bố đánh con thế con có thấy đau không?

Con trai: (gật đầu)

Bố: Thế con có thấy tức, thấy sợ không?

Con trai: (gật đầu)

Bố: Thế con nghĩ con chó bị con đá có thấy đau không?

Con trai: (ngập ngừng rồi gật đầu)

Bố: Nó bị con đá vô cớ như thế, con nghĩ nó có tức, có sợ không?

Con trai: (gật đầu)

Bố: Vậy con nghĩ con có nên vô cớ đá nó không?

Con trai: (lắc đầu có vẻ miễn cưỡng)

Bố: Thế lúc đó vì sao con lại đá nó?

Con trai: (lý nhí) Vì con thấy thích.

Bố: Nếu chỉ vì thấy thích mà con đá con chó, thì từ nay về sau ai thấy thích cũng có thể đánh con như bố đã làm. Con có muốn như vậy không?

Con trai: (lắc đầu quầy quậy)

Bố: Bố đánh con không phải vì con hư, mà để con thấy bị người lớn hơn đánh thì sẽ thế nào. Con chó nó cũng biết đau, biết sợ như con. Nếu con không muốn bị người khác đánh vô cớ, thì con không nên đánh người khác vô cớ. Con có đồng ý như vậy không?

Con trai: (cúi mặt xuống và gật đầu)

Bố: Nếu con đồng ý là không nên đánh người khác vô cớ, thì bố xin lỗi vì đã đánh con vô cớ. Con có tha lỗi cho bố không?

Con trai: (gật đầu)

Bố: Bố xin lỗi con rồi. Vậy bây giờ con có muốn xin lỗi con chó không?

Con trai: (lý nhí) Có ạ.

Bố dắt con trai đến chỗ con chó. Nó nhìn thấy con trai thì tỏ vẻ sợ hãi và chạy đi chỗ khác. Bố lại quỳ đầu gối xuống, đặt tay lên vai con trai và chỉ về phía con chó, mắt vẫn nhìn con.

Bố: Đấy, con thấy con chó sợ con thế nào chưa?

Con trai: (cúi mặt)

Bố: Con có thấy nó đáng thương không?

Con trai: (lý nhí) Có ạ.

Bố: Vậy bây giờ con sẽ xin lỗi nó như thế nào?

Con trai: Con không biết ạ.

Bố: Thế con có nhớ lúc nãy bố xin lỗi con thì bố làm thế nào không?

Con trai: Không ạ.

Bố: Vậy bây giờ bố làm thêm một lần nữa nhé.

Bố rời khỏi chỗ con trai, đi đến phía con chó. Con chó có vẻ cảnh giác, nhưng không đến mức sợ hãi. Bố quỳ xuống, nghiêng người về phía trước và đưa tay ra như lúc nãy đã làm với con trai. Con chó, sau một hồi ngập ngừng, bước từng bước về phía bố, đầu cúi thấp nhưng mắt liếc nhìn lên. Nó hít ngửi tay bố, rồi liếm láp vài lần. Bố với tay gãi phía dưới cằm nó, rồi đưa tay lên xoa đầu. Con chó díp mắt lại có vẻ sảng khoái. Bố vẫy gọi con trai. Thấy con trai lại gần, con chó bỗng hơi giật mình, thay đổi tư thế chuẩn bị bỏ chạy, nhưng nhờ bố xoa đầu mà nó vẫn đứng yên tại chỗ.

Con trai quỳ đầu gối xuống, giơ tay ra bắt chước cử chỉ của bố. Con chó tuy vẫn cảnh giác nhưng sau một chốc cũng bắt đầu hít ngửi và liếm láp tay con trai. Con trai xoa đầu con chó một lúc, rồi bỗng đưa tay xuống xoa chỗ bụng con chó mà con trai đá lúc nãy. Bố mỉm cười, nhìn khung cảnh đó một lúc, rồi hít một hơi dài, đứng dậy và nói với con trai.

Bố: Thôi vào nhà chuẩn bị ăn cơm đi con.

Con trai: (vui vẻ) Vâng ạ.

Hết.