Chuyện học Tin của tôi

Tôi thích dùng máy tính từ nhỏ, nếu như việc “chơi game trên máy tính” cũng được xếp là “dùng máy tính”. Khi còn bé, nhà không có máy tính, tôi rất thích được đến nhà các bác để được chơi ké trên máy tính của anh chị họ. Đến khi StarCraft bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam một thời gian thì nhà tôi mới mua cái máy tính đầu tiên. Ban đầu đối với tôi máy tính chỉ là đồ chơi, nhưng đến khi vào cấp 2, tôi bắt đầu biết đến và học lập trình Pascal. Cho đến khi vào cấp 3, tôi đã thuộc vào loại “giỏi trên trung bình” trong lớp về khoản lập trình, dẫn đến việc tréo ngoe là dù đỗ và học lớp chuyên Toán nhưng tôi lại đi học đội tuyển Tin để thi học sinh giỏi (dù chẳng được giải gì), trong khi đó điểm Toán thì luôn bét lớp. Và đến thời điểm hiện tại, sau 5 năm làm kỹ sư hệ thống thông tin tại Nhật, có thể nói trong nhiều mặt máy tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi.

Nói đến học lập trình Pascal, tôi còn nhớ rằng cấp 2 có một thời gian tôi học thêm Pascal dưới trướng anh họ cùng với một hai người bạn cùng lớp. Họ là những người rất giỏi Toán ở trên lớp, và cái sự giỏi đó lan sang của việc lập trình. Những lúc anh tôi giải thích một thuật toán hay kiến thức lập trình nào đó, trong khi tôi còn đang ù ù cạc cạc thì các bạn ấy đã có thể nhanh chóng nắm bắt được, và điều đó nhiều khi khiến cho tôi không khỏi nản chí. Có những thứ tôi không hiểu nhưng không hỏi, hay thậm chí nói dối rằng mình đã hiểu, phần vì sợ bị lộ là dốt, phần vì không muốn làm mất thời gian của anh và các bạn.

Điều đó tiếp diễn cho đến khi tôi bắt đầu được học một thầy một trò. Khi đó, cái sự dốt của tôi không còn chỗ nào để mà giấu, mà cũng chẳng còn ai để mà phải giấu nữa, và tôi cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Từ đó tôi rút ra rằng: trong một số trường hợp, việc trộn lẫn cùng lúc các học sinh có năng lực và tốc độ tiếp thu khác nhau sẽ vô tình tạo nên một hiệu ứng tâm lý đè bẹp và đẩy những học sinh yếu kém hơn “ra ngoài vòng”, mặc dù bản thân các em có thể không phải không có tiềm năng. Chúng ta hay nói với các em rằng “đừng sợ dốt/đừng giấu dốt”, nhưng chúng ta đâu có phải đứng vào vị trí các em để mà hứng chịu áp lực tinh thần từ bên ngoài lẫn bên trong, cả có thực lẫn tưởng tượng? Những lời nói như vậy chẳng khác nào một ông tướng ngồi trong lô cốt an toàn vừa đẩy binh lính ra trước làn đạn vừa hô hào “đừng sợ chết”. Cái chúng ta nên làm là để ý quan sát tâm lý cá nhân từng em, và tạo nên môi trường để mỗi em có thể cảm thấy yên tâm mà phát triển theo nhịp độ và thang bậc của riêng mình, dù có thể nó không vừa ý chúng ta, bởi một cái cây lớn chậm không có nghĩa là nó không thể lớn lên thật cao trong tương lai.

Một điều đáng nói nữa về việc học máy tính của tôi, đó là tôi chỉ bắt đầu thực sự làm chủ máy tính khi được có một cái máy của riêng mình. Trong suốt mấy năm đầu, một chiếc máy tính vừa là công cụ để mẹ tôi soạn bài giảng lên lớp, vừa là đồ chơi và công cụ học của tôi và thằng em trai. Máy hỏng đồng nghĩa với mẹ tôi không thể làm việc được. Điều này dẫn đến việc tôi không dám tò mò nghịch dại, mà thường phải đưa ra cửa hàng máy tính mỗi khi có vấn đề. Và kết quả là sau mấy năm dùng máy tính tôi vẫn hầu như mù tịt không biết gì ngoài trò chơi điện tử và Pascal. Tuy nhiên, một khi tôi đã có máy riêng, thì tình hình hoàn toàn khác hẳn. Tôi có thể tự mình ngồi mày mò thử nghiệm, tự format ổ rồi tự cài được Windows, dù không hề được bất cứ ai dạy cả. Sở dĩ tôi dám làm, là vì tôi biết rằng máy có hỏng thì cũng sẽ không gây ra vấn đề gì mà tôi không thể hay không dám nhận trách nhiệm, tức là tôi cảm thấy “an toàn” để có thể mày mò khám phá.

Từ những điều trên, có thể thấy rằng việc tạo môi trường an toàn cho việc khám phá, thử nghiệm cũng như thất bại là một tiền đề quan trọng của việc học, hay ít ra là tự học. Sự an toàn mà tôi nói đến ở đây không phải chỉ là an toàn thân thể, tuy rằng cái đó cũng rất quan trọng, mà là an toàn về mặt tinh thần. Đó là việc được che chở khỏi những áp lực, đe dọa, sợ hãi, và nói chung là bất cứ yếu tố tâm lý tiêu cực nào có thể ngăn cản việc học hỏi. Đáng tiếc rằng những yếu tố tâm lý tiêu cực này lại xuất hiện rất nhiều trong môi trường học đường ngày nay, mà đại diện tiêu biểu nhất là việc đánh giá học sinh bằng điểm số và hạnh kiểm, cũng như sự cai quản bằng quyền lực từ phía nhà trường và giáo viên.

Quay trở lại chuyện học Tin, có thể nói rằng hầu hết các thành tựu mà tôi đạt được trên con đường học và sử dụng Tin học đều gắn liền với việc tự mày mò. Trong đó phải kể đến việc những năm đầu cấp 3 tôi đã tự mình lập trình trò chơi bằng Pascal. Sự việc bắt đầu khi anh họ tôi giao cho tôi đề bài “viết trò dò mìn”. Khi đó tôi đã hăm hở viết một chương trình mô phỏng lại trò dò mìn của Windows bằng đồ họa dòng lệnh và các ký tự ASCII. Tuy rằng sản phẩm của tôi bị gạt đi vì cái anh tôi muốn tôi làm lại là một thuật toán để giải trò dò mìn, nhưng niềm hứng thú với việc tự mình viết nên một trò chơi, dù là viết lại ý tưởng có sẵn, thì đã được nhen nhóm. Từ đó, chỉ bằng một cuốn sách Pascal cơ bản có giải thích qua về thư viện đồ họa và một bài báo PC World, tôi đã viết lại ba trò chơi Line, Minesweeper (dò mìn) và Tetris (xếp hình) mà không cần sự chỉ dẫn thêm của bất cứ ai.

Đến tận bây giờ, sau khi đã trải qua hơn 15 năm lập trình, với đủ các chương trình phần mềm lớn nhỏ, từ những đề bài được giao trên lớp cho đến hệ thống cho hàng trăm người dùng của công ty, ba trò chơi bằng Pascal đó vẫn là một trong những thành tựu mà tôi tự hào nhất. Sau khi hoàn thành, tôi đã chơi đi chơi lại những trò chơi ấy đến cả tháng liền, mặc dù bản thân chúng không có gì mới mẻ hay đặc sắc hơn so với các phiên bản có sẵn trong máy hay băng điện tử. Thậm chí lúc đi phỏng vấn tuyển dụng ở hai công ty Nhật, trong đó một công ty tôi đang làm hiện nay, và một công ty khác chuyên về lập trình phần mềm, khi được hỏi về kinh nghiệm hay thành quả chuyên môn đã có trong quá khứ, thứ hiện ra trong đầu tôi trước tiên vẫn là ba trò chơi kia, và tôi đã không do dự gì mà trình bày một cách hết sức sôi nổi và tự hào về việc một đứa nhóc cấp 3 đã lập trình ra mấy trò ghẻ như thế nào (và kết quả là tôi đã đỗ cả hai nơi).

Tất nhiên, những trò chơi ấy rất đơn giản, và thậm chí có phần trẻ con. Nhưng điểm quan trọng ở đây là không hề có ai yêu cầu tôi viết ra chúng, và hoàn toàn cũng chẳng có ai đốc thúc và chỉ bảo tôi trong quá trình làm cả. Do vậy, có thể nói một cách hơi khoa trương rằng chúng là hiện thân của ý chí tự do và năng lực tự xoay sở của cá nhân tôi. Tôi biết chắc chắn rằng thành tựu ấy là do tự tay mình làm ra, và hoàn toàn có thể lặp lại lần nữa, chứ không phải là một thành tựu do vận may, càng chẳng phải là do một ai đó khác chỉ thị hay làm hộ. Nói cách khác, đó là một sự tự hào đối với chính mình, chứ không phải về những thứ mơ hồ xa xôi ngoài tầm tay như truyền thống dân tộc, chiến công cha anh, hay thành tựu của những bạn A bạn B nào ở tận Âu tận Mỹ.

Niềm tự hào đó có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên sự tự tin và đôi khi là táo bạo (táo tợn?) trong nhân cách của tôi ngày nay. Nó cũng là thứ mà tôi nghĩ rằng nhiều trẻ em hiện nay cần nhưng lại đang thiếu trong quá trình trưởng thành của mình. Phần đông các em đến trường vì bố mẹ bảo thế. Phần đông các em học hành vì muốn làm vui lòng bố mẹ thầy cô, hay nói toẹt ra là vì sợ điểm xấu. Những điều các em làm trên lớp đều đã được lên kế hoạch và quyết định từ trước bởi người lớn. Nội dung của những điều đó nhiều khi là rất vô nghĩa nhìn từ quan điểm của các em. Và những chuyện như bị trừ điểm chỉ vì làm bài “không đúng ý thầy/cô”, dù cho kết quả cuối cùng vẫn đúng hoặc không thể dễ dàng phán định đúng sai một cách khách quan, là chuyện vẫn còn phổ biến.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu có được bao nhiêu em sẽ cảm thấy thực sự tự hào về những thành tích học tập của bản thân, như tôi đã tự hào về ba trò chơi của mình? Có ai lại tự hào về một việc mình bị bắt buộc phải làm, hay bản thân không hiểu rõ ý nghĩa, hay bị buộc phải làm theo tiêu chuẩn của người khác cho đến từng chi tiết nhỏ nhặt mà không được một chút tự do nào? Nếu như trẻ em không có được một khoảng không tự do đủ lớn, cả về vật chất lẫn tinh thần, để có được những thành tựu do bản thân tự nhận trách nhiệm và tự mày mò thực hiện theo cách của mình, thì các em lấy đâu ra sự tự hào về chính mình để mà có tự tin trong cuộc sống? Nếu như các em không có chỗ nào khác để thể hiện nhân cách tự do của bản thân, thì việc các em đem “cái tôi” ấy thể hiện ra ở những hành vi mà chúng ta vẫn hay chụp mũ là “sự nổi loạn của tuổi dậy thì” cũng đâu có gì là khó hiểu?

Tất nhiên, nếu như nhân cách của một đứa trẻ đủ mạnh mẽ, thì dù trong hoàn cảnh bó buộc thiếu tự do hay phải chịu áp lực và đe dọa, em đó vẫn có thể mạnh dạn học hỏi, đồng thời tự nhận trách nhiệm về cuộc đời mình, qua đó có được tự do về tư tưởng, để từ đấy tìm thấy được những khoảnh khắc tự hào cho bản thân. Thế nhưng đó là chuyện của những đứa trẻ, không phải chuyện của người lớn chúng ta. Với tư cách là những người có nghĩa vụ nuôi nấng và giáo dục các em, thì chúng ta nên tự mình suy nghĩ tìm cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự trưởng thành của các em, hay là chỉ đơn thuần trông đợi nhân cách còn non yếu của các em có thể làm được một việc mà đến nhiều người lớn vẫn còn chưa làm được?

Chuyện học Văn của tôi

Kỷ niệm đầu tiên tôi còn lưu giữ với môn Văn là từ những năm cấp 1. Lúc đó tôi được cho đi học thêm môn Văn của cô hiệu phó trường cùng với hầu hết các bạn khác trong lớp. Thuở đó tôi cũng khá thích đọc các loại sách báo, trong số đó có các tờ báo nhiều mục hài hước như Tuổi Trẻ Cười hay Hoa Học Trò. Một ngày nọ chúng tôi được giao đề bài tả người thân hay ai đó, và tôi quyết định tả thằng em trai. Tôi liền sử dụng ngay một đoạn văn mình mới đọc được trên báo và thấy rất thích thú vào bài làm, mà nếu tôi nhớ ko nhầm thì là “giọng nó the thé như nước mười quả chanh pha với mười lít giấm đặc, còn mắt thì chớp chớp như máy đếm tiền”, hay đại khái như vậy.

Tôi không nhớ rõ rằng cô giáo đã phản ứng thế nào với tôi khi đọc được bài văn ấy, nhưng sau đó mẹ tôi nói với tôi rằng cô nhận xét với mẹ là tôi bị “ảnh hưởng quá nhiều bởi truyện Đôrêmon”. Cũng phải nói thêm rằng thời kỳ đó đang có trào lưu cho rằng truyện tranh với toàn những “ối á bốp hự” sẽ làm thui chột năng lực tiếng Việt của trẻ em. Thế là vì tôi mà truyện Đôrêmon mang thêm một nỗi oan nhỏ đến giờ vẫn chưa được gột rửa. Và cũng từ đó tôi bắt đầu lờ mờ cảm nhận được một điều là: viết văn cũng có thứ văn “đúng” và thứ văn “sai”, và những gì mà người lớn viết đầy rẫy xung quanh tôi chưa chắc đã là văn “đúng”, còn văn “đúng” là cái gì thì đến giờ tôi vẫn chịu không trả lời được.

Tình trạng đó kéo dài trong suốt cả 4 năm cấp 2. Trong những năm đó môn Văn luôn là môn khiến tôi cảm thấy khó hiểu nhất. Đối với các môn khác, con đường để đi đến điểm tốt đều rất rõ ràng: môn tự nhiên thì chỉ cần tìm ra lời giải đúng theo những nguyên tắc logic nhất định, còn các môn xã hội thì chỉ cần học thuộc lòng. Riêng đối với môn Văn, tôi không thể tìm ra được căn cứ rõ ràng để biết được một bài viết của mình sẽ được điểm tốt hay kém, ngoại trừ một số yêu cầu tối thiểu như phải có mở bài kết bài nọ kia. Điều này đặc biệt đúng đối với những đề bài phân tích tác phẩm văn học: tôi thậm chí còn chẳng hiểu “phân tích” tức là làm gì. Những sách văn mẫu cũng chẳng giúp ích gì được cho tôi, vì từ nhỏ tôi đã rất ghét viết những thứ không phải của mình nghĩ ra. Kết quả là đối với môn Văn, tôi luôn ở trong tư thế một người đánh cược: viết bừa và cầu trời được điểm tốt.

Đó là chưa kể, tôi đã cảm thấy môn Văn, như rất nhiều môn học khác, chẳng hề liên quan gì đến thực tế cuộc sống của bản thân, cũng tức là với tôi nó vô nghĩa. Vì trong mắt tôi lúc đó nếu xét theo những chuẩn mực viết văn mà tôi được dạy và yêu cầu phải đáp ứng (phải có dàn bài, phải có mở bài kết bài,…), thì tất cả những gì viết trên sách báo, thậm chí là kể các tác phẩm văn học trong SGK, đều đáng bị đánh trượt hết. Thế thì những cái tôi được dạy mới là “đúng”, hay là những cái tôi thấy ngoài đời mới là “đúng”? Ở đây phải nói rằng tôi không hề ghét văn học: lúc đó tôi rất thích đọc các tác phẩm văn học như của Tô Hoài, Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Tôi đã khấp khởi đợi đến khi được học các tác phẩm đó trên lớp, để được khoe cái sự đọc rộng của mình, và cũng để biết nhiều hơn về những gì mình thích. Nhưng những giờ học Văn trên lớp luôn khiến tôi thất vọng, vì những gì tôi muốn nói thì lại không có cơ hội để nói, và những gì tôi muốn biết thêm thì lại không được dạy.

Mọi thứ thay đổi khi tôi bước vào cấp 3. Cô giáo dạy Văn cấp 3 của tôi (mà rất tiếc là tôi không nhớ tên) có phong cách dạy khá đặc biệt: trước khi bước vào học một tác phẩm mới, cô cho cả lớp viết một bài văn một hay hai tiết với đề bài thường rất đơn giản: nêu cảm nghĩ của em về tác phẩm. Cô không hề dạy trước các ý phân tích bài như tôi vẫn được dạy hồi cấp 2. Cô cũng không yêu cầu chúng tôi phải viết đúng theo một chuẩn mực nào cả, mà yêu cầu của cô rất đơn giản: 1. viết những gì các em nghĩ, và 2. không được chép văn mẫu. Chỉ sau khi đã chấm, trả bài và dành hẳn nửa tiết đến cả tiết để nhận xét và trao đổi về từng bài viết, cô mới cho cả lớp chép qua loa các ý theo chương trình. Và trong suốt 3 năm cấp 3 đó, điểm Văn của tôi luôn rất tốt: 8 9 là chuyện thường xuyên, một sự khác biệt lớn so với những điểm 6 7 chật vật trước đó.

Tất nhiên điểm số không phải là một thước đo khách quan, và điểm Văn của tôi tốt lên không có nghĩa là tôi viết văn “giỏi” hay “hay” hơn. Nhưng đấy không phải là vấn đề quan trọng, mà quan trọng là giờ đây tôi đã có một phương hướng rõ ràng cho việc viết văn trên lớp. Thay vì cố gắng tìm kiếm ra một tiêu chuẩn bên ngoài nào đó và uốn mình theo nó để mong làm vừa lòng một người khác, tôi chỉ cần tập trung vào chính mình, ý thức xem bản thân cảm thấy gì, suy nghĩ gì đối với một tác phẩm văn học, và viết nó ra thành lời. Bản thân cô tôi không phải không có tiêu chuẩn riêng, và không phải mọi thứ tôi hay bạn bè viết ra đều được cô đánh giá cao. Tuy nhiên cách cô cho điểm và nhận xét khiến cho tôi có một niềm tin vô tư rằng chỉ cần tôi viết ra những gì mình thực sự nghĩ, thì dù ý tưởng của tôi có quái đản, khả năng của tôi có yếu kém đi nữa, thì thành phẩm của tôi cũng sẽ không bị dẫm đạp một cách tàn bạo bằng lời lẽ hay điểm số. Nói ngắn gọn, tôi cảm thấy “an toàn”.

Và đó là lý do sau một khoảng thời gian rất dài vật lộn và ghét bỏ việc học Văn, lần đầu tiên tôi mới lại mong chờ đến tiết học Văn. Tôi muốn được viết, và muốn được nghe những lời nhận xét và gợi ý cụ thể, nhiệt tình, nghiêm túc và hoàn toàn không áp đặt về những gì mình viết. Tôi vẫn còn nhớ rõ chi tiết tôi viết về bài Qua đèo Ngang, rằng “hình ảnh Bà Huyện Thanh Quan đứng một mình trên đèo lúc chiều tà khiến tôi nghĩ đến việc sau này khi tôi già đi, khi những người biết tôi từ lúc nhỏ đều chết đi, thì có lẽ tôi sẽ cảm thấy cô đơn lắm”. Chi tiết đó được cô đánh giá rất cao, chỉ vì nó “thể hiện được cảm xúc thật của riêng em”. Hơn thế nữa, có lẽ do thấy ngượng về độ sến của mình nên sau chi tiết đó tôi đã thòng thêm một đoạn đại ý rằng “và sau đó tôi sẽ lại trở về với truyện tranh và điện tử như chưa từng có gì xảy ra”. Một câu văn như vậy trong một bài kiểm tra có thể bị xem là “đùa cợt giáo viên” hay ít ra là ăn gạch thẳng thừng, nhưng cô lại chỉ nhận xét là “hơi đáng tiếc, giá mà cố giữ mạch văn thêm một chút nữa”. Tôi cũng chỉ việc cười cầu hòa mà thôi.

Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu đậm nhất mà cô để lại là việc cô nói rằng mình “thích đọc văn của Trung” vì nó “có cá tính” trước cả lớp. Trước đó, từ bé tôi đã ý thức rằng mình hơi “khác người”, bắt đầu từ những vụ việc như “bị ảnh hưởng bởi Đôrêmon”. Bạn bè đồng trang lứa cũng thi thoảng đùa rằng tôi “lập dị”, và sau này lớn lên được kể lại thì tôi mới biết là mình khá nổi bật trong lớp theo một nghĩa không biết có nên tự hào hay không. Tuy nhiên cô có lẽ là người giáo viên đầu tiên công khai đón nhận sự “khác biệt” của tôi và coi nó là một điều tích cực và đáng khuyến khích. Điều đó đem lại cho tôi một sự tự tin không hề nhỏ, giúp cho tôi hình thành nên một nhân cách (mà tôi cho là) độc đáo của riêng mình như ngày nay. Tôi nghĩ rằng mọi đứa trẻ, mọi em học sinh đều nên được đối xử bằng một thái độ tôn trọng và chấp nhận như vậy.

Đến nay, sau khi đã đọc và viết một lượng chữ khá lớn, tôi cũng đã dần tự hiểu được ý nghĩa của những thứ như lập dàn bài hay viết kết luận. Nhưng quan trọng hơn, tôi đã rũ bỏ được cái suy nghĩ rằng viết văn là phải theo một chuẩn mực nào đó bên ngoài mới là “đúng”, là “hay”. Bây giờ khi viết bất cứ cái gì, tôi chỉ cần quan tâm xem những gì tôi viết có nói lên được những gì tôi nghĩ hay không, có đáp ứng được những chuẩn mực của riêng tôi hay không, hay nói cách khác, là nó có khiến bản thân tôi cảm thấy hài lòng hay không. Người đọc chỉ là củ khoai lang. Sự ưng ý của họ có thể khiến tôi thấy thích thú, nhưng nó không được phép xếp trên sự thỏa mãn mà cá nhân tôi cảm thấy đối với việc viết lách. Và tôi cố gắng áp dụng điều tương tự vào cách sống của mình hàng ngày: quan tòa cao nhất không phải là xã hội hay pháp luật, mà là tôi, tôi, tôi, và chỉ tôi mà thôi. Cá nhân tôi cho rằng đó là cách sống có trách nhiệm nhất mà một người có thể lựa chọn trên đời này.

Xoay quanh câu chuyện học Sử

Trong suốt thời gian vừa rồi, báo chí và dư luận (mạng) xã hội bàn tán rất sôi nổi và nóng hổi xung quanh vấn đề học sinh chán học Sử, không biết Sử nước nhà và đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác. Cá nhân tôi đây đó cũng có một số suy nghĩ của riêng mình sau khi đọc một số bài báo và bài viết trên mạng, tuy nhiên do chúng quá vụn vặt và cảm tính nên chưa viết gì cụ thể cả. Đến nay, sau một thời gian quan sát và tích lũy, tôi xin viết ra những suy nghĩ của mình dưới đây để những ai có hứng thú có thể tham khảo.

Tuy nhiên trước hết, tôi phải nói rõ rằng tôi không phải một nhà chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục, cũng như có hiểu biết cụ thể về vấn đề lần này. Tôi mới chỉ đọc một vài bài báo, một vài bài bình luận, và một tá comment facebook, do đó những gì tôi viết ra ở đây là dựa trên cách hiểu nông cạn của riêng tôi, và không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Nếu bạn nào muốn đọc những bài viết phân tích cụ thể, sâu sắc và có căn cứ chắc chắn hơn, thì tôi xin giới thiệu facebook của anh Nguyễn Quốc Vương, một nghiên cứu sinh ngành giáo dục tại Nhật Bản. Còn sau đây, tôi xin trình bày những suy nghĩ của cá nhân mình.


1. Học sinh xé đề cương Sử, thế thì sao?

Cá nhân tôi rất thích câu hỏi “thế thì sao?” (so what?), tuy rằng trong thực tế cuộc sống tôi rất ít khi dùng vì thường sẽ bị cho là khiêu khích. Tôi thích câu hỏi đó vì mặc dù rất đơn giản, nhưng nó khiến cho người được hỏi phải nhìn nhận rõ hơn những quan điểm, lòng tin và định kiến (gọi chung là tiền đề) của bản thân mà bình thường ít người ý thức đến. Khi đưa ra một quyết định hay một phán xét nào đó, chúng ta thường có xu hướng dựa vào cảm tính của mình để đưa ra kết luận chớp nhoáng dựa trên một số tiền đề nhất định, sau đó mới bắt đầu lục tục dùng đến lý trí để cố nặn ra những lý do củng cố cho kết luận của mình. Một trong những hệ quả của việc “suy nghĩ nhanh” kể trên là chúng ta thường bỏ qua một công đoạn rất quan trọng, đó là xác định rõ ràng vấn đề và tiền đề. Xác định sai vấn đề hay tiền đề đều sẽ dẫn đến việc đưa ra những quyết định và phán xét “sai lệch” và không đem lại kết quả như mong muốn.

Quay trở lại câu chuyện học Sử, nếu tôi nhớ không nhầm thì mọi chuyện bắt đầu nóng lên sau khi có việc các em học sinh ở một trường nọ xé đề cương Sử vứt trắng sân trường sau khi biết không phải thi môn này. Báo chí vào cuộc, dư luận sôi sục, mọi người tranh nhau nói. Tôi thì chỉ ngứa mồm muốn hỏi một câu “thế thì sao?”. Trong ký ức thời học sinh của tôi “đề cương Sử” chỉ là một tờ giấy ghi lại tất cả những nội dung cần phải học thuộc lòng để thi và kiểm tra. Nó đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho một mục đích là thi cử, không hơn, không kém. Khi mục đích không còn, thì công cụ cũng là đồ bỏ. Chuyện chỉ đơn giản có thế. Là tôi tôi cũng sẽ vứt ngay vào sọt rác. Không xé, không vứt thì giữ lại làm gì? Có ai ngây thơ nghĩ rằng kể cả không thi học sinh cũng nên/cần/phải ngồi ôn đề cương Sử không? Nếu không, vậy học sinh xé đề cương Sử thì có làm sao? Chuyện này thì liên quan gì đến việc “học” Sử? Tại sao chúng ta lại nhảy từ việc “thi” sang việc “học” như vậy? Vấn đề ở đây nằm ở việc “học” hay việc “thi”? Việc nhầm lẫn giữa “thi” với “học” chẳng phải cũng là một vấn đề hay sao?

Tôi không nói rằng việc học Sử ở trường lớp không có vấn đề. Tôi không nói rằng mọi người không nên bàn luận về giáo dục chỉ vì học sinh xé đề cương. Cái tôi muốn nói ở đây là chúng ta cần nhìn rõ hiện tượng đang diễn ra thực sự nói lên cái gì. Trong mắt tôi, học sinh xé đề cương Sử rõ ràng là phản ứng lại đối với việc “thi” Sử, chứ không phải việc “học” Sử. Do đó cái chúng ta cần chú ý đến trước hết là việc “thi”, chứ không phải việc “học”. Chừng nào “thi” còn được xem là mục đích cuối cùng và thậm chí là bị nhầm lẫn với việc “học”, thì chúng ta có tranh luận, sửa đổi việc “học” chán chê cũng chẳng đem lại kết quả nào lâu dài. Đơn giản là vì mục đích quyết định hành động. Thầy cô giáo có muốn sáng tạo, thử nghiệm cách dạy mới, cuối cùng vẫn sẽ phải dành thời gian để “luyện thi” cho học sinh vì thành tích của mình. Học sinh học có vui vẻ thích thú đến mấy, cuối cùng vẫn phải đối diện với thực tế “thi cử” phũ phàng nếu muốn tốt nghiệp. Cái trước mắt chúng ta cần là 1. sửa đổi cách “thi”, hoặc/và 2. tách việc “thi” ra khỏi việc “học”, khiến việc “thi” trở nên không bắt buộc và không phải là mục đích của việc “học”.

Cũng nói thêm rằng, tôi ủng hộ việc xé đề cương Sử, ủng hộ nhiệt liệt. Vì sao? Vì trong mắt tôi đó là một hành vi khẳng định nhân cách, khẳng định “tính người” của các em học sinh. Nó chân thực và có tính nhân văn, “tính người” hơn nhiều những lời lẽ và lý luận cao siêu mà tôi thấy xuất hiện la liệt khắp nơi xoay quanh hành động đó. Đối với tôi, thời học sinh việc ngồi dành cả một tiết học để chép đề cương Sử là một cực hình. Đúng hơn, đó là một sự sỉ nhục nhân cách, sỉ nhục “tính người”, phủ nhận quyền tự do “làm người” của tôi. Việc chép những gì đã viết trong sách ra một tờ giấy theo mệnh lệnh, học thuộc lòng nó để rồi quên ngay sau 5 phút ra khỏi phòng thi là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa. Tôi sinh ra trên đời không phải để làm những việc vô nghĩa ấy theo lệnh của người khác. Xét trên một khía cạnh nào đó, những người bắt ép tôi chép đề cương Sử cũng giống như những kẻ thực dân đế quốc đè đầu cưỡi cổ dân ta ngày xưa vậy.

Tương tự, câu hỏi “thế thì sao” cũng có thể được áp dụng cho một vụ “xì căng đan” được báo chí đưa tin sau đó ít lâu. Đó là việc một số em học sinh nhầm lẫn một vài nhân vật lịch sử. Cụ thể thế nào tôi không nhớ nữa, vì nó quá nhạt nhẽo và quá vô nghĩa. Các em nhầm lẫn, thế thì sao? Việc biết về những nhân vật lịch sử đó có nói lên được thực chất năng lực và kiến thức sử học của các em không? Nó có nói lên được sự thông minh, năng lực tiềm tàng, giá trị con người của các em không? Nó có giúp ích được gì cho các em không, có ý nghĩa gì đối với các em không? Nó có giúp ích được gì cho xã hội không? Nếu những kiến thức lịch sử đó là “thường thức”, là việc ai cũng phải biết, không biết là một tội, thì ai là người đã quyết định điều đó, dựa vào quyền hạn gì? Nếu chưa suy nghĩ thấu đáo đến những điều như vậy mà đã nhao nhao lên, thì chúng ta chỉ lãng phí thời gian và nước bọt mà thôi. Toàn bộ đoạn phỏng vấn các em học sinh chỉ để lại trong tôi một ấn tượng duy nhất: nhỏ nhen, nếu không muốn nói là tiểu nhân. Tôi chỉ ước gì các em đã có thể trả lời thẳng vào mặt phóng viên rằng “Tôi không biết, thế thì sao?“.

2. Họ đang muốn giữ lại cái gì thế?

Tiếp sau hai vụ lùm xùm của các em học sinh, là đến đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác để làm thành môn gì gì đó, và đưa môn này trở thành môn tự chọn thay vì bắt buộc. Nói thực tôi chưa đọc một bài viết cụ thể nào về đề án kia, nên cũng chẳng biết cái “tích hợp” mọi người đang nói đến là cái gì. Tôi chỉ mường tượng ra đại khái nó là một môn tổng hợp các kiến thức về xã hội, trong đó có các kiến thức lịch sử. Nếu như vậy thì tôi thấy cũng bình thường, tích hợp hay không cũng thế. Vì xét cho cùng lịch sử vẫn xuất hiện trong chương trình học, vấn đề là lượng thế nào và cách truyền đạt ra sao. Và việc đưa môn Sử thành tự chọn cũng là một việc tốt, vì nó tôn trọng tự do của học sinh. Thế nhưng rất nhiều người lại lên tiếng phản đối kịch liệt đề án này. Tôi cũng chỉ đọc qua loa một vài ý kiến, nhưng cảm nhận của tôi là đa số những ý kiến này không thuyết phục, dựa trên những định kiến và quan điểm lệch lạc (với quan điểm của tôi).

Nhiều người muốn giữ Sử làm một môn độc lập, thậm chí đưa ra những ý kiến như “tích hợp/tự chọn là khai tử môn Sử”. Nhưng kiến thức lịch sử đâu có biến mất khỏi chương trình sau khi được tích hợp? Học sinh đâu có bị cấm học Sử sau khi Sử thành môn tự chọn? Tại sao hầu hết mọi người không mấy quan tâm xem kiến thức Sử sẽ có những nội dung gì, được học thế nào? Tại sao họ cứ nhất mực chú tâm đến cái từ “độc lập” với “bắt buộc”? Cái mà họ thực sự quan tâm là cái gì vậy? Trong mắt tôi, cái hầu hết những người đó muốn giữ chỉ là một cái mẽ. Họ chỉ muốn giữ lại một khái niệm, một biểu tượng, một “môn Sử” trên giấy tờ và danh nghĩa. Đối với họ, một “môn Sử” “độc lập” và “bắt buộc” là một cái gì đó linh thiêng, tuyệt đối, không ai được chạm tới. Đối với họ, đây là vấn đề “sĩ diện” của “môn Sử”, của chính họ, chứ không còn là vấn đề giáo dục nữa. Họ không quan tâm xem học sinh muốn học gì, học như thế nào, có thích học hay không. Họ không quan tâm đến Sử học, đến học sinh, họ chỉ muốn bắt học sinh học “môn Sử” của họ, học những gì họ cho là học sinh phải học, đơn giản là vì họ muốn thế.

Sử học vốn không phải là một “môn học”. Sử học vốn là một môn khoa học, nghiên cứu về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Trước khi Sử bị biến tướng thành một môn giáo khoa, người ta nghiên cứu lịch sử bằng cách tìm hiểu các tài liệu lịch sử, các di tích, các nhân chứng vật chứng. Vì không ai có thể kiểm chứng được quá khứ trong hiện tại, nên lịch sử luôn mang tính chủ quan. Bởi vậy những người muốn biết được “sự thật” lịch sử chỉ có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn, đối chiếu và tự rút ra “sự thật” lịch sử của riêng mình. Khi có thêm những thông tin mới xung đột với “sự thật” hiện tại, thì “sự thật” đó cần được xem xét và điều chỉnh nếu cần thiết. Đó là khoa học. Khoa học không phải chân lý bất biến. Khoa học đơn giản chỉ là một trong những cách lý giải thế giới tự nhiên và con người, và khoa học luôn sẵn sàng thay đổi để phù hợp với những gì quan sát được từ thế giới xung quanh. Nếu chiếu theo cách hiểu đó, thì cái gọi là “môn Sử” hiện nay không phải là Sử học, càng không phải một môn khoa học. Cái mà đa số những người phản đối tích hợp và tự chọn môn Sử muốn giữ lại chỉ một công cụ tẩy não mà thôi.

Tôi không ủng hộ cũng không phản đối việc “tích hợp” môn Sử, trước hết vì tôi cũng chưa hiểu cái “tích hợp” mà người ta đang nói đến là cái gì. Tuy nhiên tôi ủng hộ quyền tự do lựa chọn. Và đọc những ý kiến đưa ra bảo vệ cho cái sự “độc lập” và “bắt buộc” của môn Sử thì tôi thấy ghê sợ. Ghê sợ vì đằng sau những ý kiến đó là những quan điểm, chuẩn mực, định kiến nguy hiểm cho giáo dục và bản thân các em học sinh. Trong những ý kiến đó, các em học sinh “phải” biết cái này, “phải” có phẩm chất kia, như thể các em không phải là những con người tự chủ mà là những công cụ phục vụ cho giấc mơ của người khác vậy. Chúng ta ngày ngày tâng bốc các em học sinh, trường trường căng biểu ngữ “tất cả vì các em học sinh thân yêu”, nhưng có được bao nhiêu người thực sự coi các em, từng em, là những con người, với đầy đủ những cảm xúc, suy nghĩ, lý tưởng, ham muốn và tự do như tất cả những “người lớn” khác? Giáo dục là cái lò luyện công cụ hay là nơi phát triển con người?

3. Lịch sử không phải để giáo dục lòng yêu nước

Một trong những lý do được đưa ra để ủng hộ môn Sử hiện nay là để “giáo dục lòng yêu nước”. Tôi rất ghét lòng yêu nước. Hay nói đúng hơn tôi rất ghét cái mà nhiều người tự cho là “lòng yêu nước”. Tôi ghét “lòng yêu nước” hơn cả “thuần phong mỹ tục”, “chuẩn mực đạo đức” hay “truyền thống văn hóa”, vì những thứ đó thường chỉ dùng để khinh bỉ, đả kích, bắt ép người khác, còn “lòng yêu nước” có thể dùng làm cái cớ để đàn áp và giết chóc. Tôi không tin vào giá trị của “lòng yêu nước”. Cái tôi tin là một cảm xúc tự nhiên và chân thành đối với gia đình, bạn bè, cộng đồng, những người nói cùng ngôn ngữ, có cùng văn hóa với mình, mong muốn cho họ được sống hạnh phúc hơn, no đủ hơn, tự do hơn. Cảm xúc đó không cần đến cái gọi là “môn Sử” hiện nay, mà hình thành thông qua sự tiếp xúc va chạm với xung quanh trong suốt quá trình trưởng thành và sinh sống của mỗi người. Nếu không có cảm xúc đó, thì cái gọi là “lòng yêu nước” chỉ là một thứ tín ngưỡng mù quáng, một công cụ để kìm kẹp và áp chế người khác, và “giáo dục” nó là một việc làm nguy hiểm.

Từ trước đến nay, người ta nghiên cứu về lịch sử (không phải “học” Sử) để làm gì? Có thể vì họ muốn dùng lịch sử để lý giải tình trạng hiện tại, lý giải những mối quan hệ đang tồn tại, dựa trên những ân nghĩa, thù oán, nhân duyên trong quá khứ, để từ đó có thể đưa ra được những hành động phù hợp, mang đến kết quả họ mong muốn. Có thể đơn giản họ chỉ muốn biết về những “sự thật” đã xảy ra. Có thể những thông tin lịch sử thu hút họ, khiến họ hứng thú lao vào tìm hiểu. Dù thế nào đi nữa, con người ta tìm đến với lịch sử là vì những động cơ và mục đích thực tiễn và tự thân, như đối với tất cả các môn khoa học khác. “Môn Sử”, nếu muốn thu hút được học sinh, cần phải phục vụ được một nhu cầu nào đó của bản thân các em học sinh, chứ không phải mục đích ích kỷ của những người xung quanh. Nói cách khác, bắt học sinh “học” lịch sử để “giáo dục” “lòng yêu nước” là một trong những nguyên nhân khiến môn Sử thất bại thảm hại như ngày nay.

Bên cạnh “lòng yêu nước”, tôi còn nghe thấy nhiều lý do khác được dùng làm căn cớ cho cái sự “bắt buộc” của môn Sử như “biết sử để tự hào dân tộc”, “không biết sử là mất gốc”, “không biết sử làm sao viết tiếp được lịch sử dân tộc”. Cảm nhận của tôi là những câu nói đó tuy hoa mỹ mà trống rỗng và vô nghĩa. “Tự hào” để làm gì? “Mất gốc” là thế nào? “Mất gốc” thì làm sao? “Viết tiếp lịch sử” là cái quái gì? Trong suy nghĩ của tôi, chỉ có những người chưa hình thành nên một “cái tôi” vững vàng, chưa thực sự tự chủ được suy nghĩ, biết mình là ai, muốn làm gì, mới cần phải bám vào những “cái phao” mang những cái tên mỹ miều như “tự hào dân tộc” hay “gốc gác cội nguồn” mà thôi. Đó là chưa kể, những điều đó không thể dùng làm lý do để bắt ép học sinh học Sử. Nếu em học sinh nào muốn học Sử để được tự hào về dân tộc, để “có gốc”, thì tốt thôi, đó là tự do của em đó. Nhưng chúng ta không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho các em” mà bắt các em phải học. Chúng ta càng không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho đất nước/dân tộc” (thực chất là để thỏa mãn bản thân chúng ta) mà bắt các em phải học. Vì đó là hành vi vi phạm tự do của các em học sinh.

Thêm vào đó, một điều làm tôi thấy ngạc nhiên, hay đúng hơn là thất vọng, là gần như 100% những ý kiến tranh luận về việc học Sử, kể cả từ học sinh, phụ huynh, giáo viên, cho đến chuyên gia, chính trị gia, có vẻ như đều chỉ chăm chăm vào lịch sử chính trị và quân sự Việt Nam. Hầu như tôi không thấy có mấy ý kiến động chạm một cách nghiêm túc đến các mảng khác của lịch sử. Lịch sử thế giới thì sao? Lịch sử văn hóa thì sao? Lịch sử theo chủ đề thì sao? Trừ một vài người tỉnh táo và có cái nhìn rộng, còn lại không ai bàn đến những cái đó cả. Điều này càng nói lên rằng trong nhận thức của hầu hết những người đang sôi sục phát ngôn ngoài kia, lịch sử không phải một môn khoa học, không phải là tìm kiếm và mở rộng hiểu biết, mà đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho động cơ chính trị của bản thân mà thôi. Và nếu chúng ta còn giữ cái nhìn đó, thì còn lâu môn Sử nói riêng và giáo dục nói chung mới khá lên được.

4. 80% học sinh thích bắt nạt bạn học

Trước hết tôi xin nhận tội: tiêu đề trên là để câu khách, kẻo oan cho các em học sinh. Con số 80% tôi lấy từ một bài báo, trong đó có thông tin rằng trong một cuộc khảo sát, 80% các em học sinh cho biết ủng hộ việc bắt buộc học môn Sử. Ở đây tôi tạm thời dừng nói về bản thân môn Sử, mà muốn nói đến cái chuyện “ủng hộ bắt buộc” kia. Nghe qua câu chuyện, chúng ta sẽ có cảm giác rằng dường như đa số các em học sinh thích Sử, đồng ý bắt buộc môn Sử, và do đó môn Sử nên được làm môn bắt buộc. Nhưng nếu suy nghĩ một cách tường tận hơn, ta có thể thấy rằng, những em ủng hộ việc bắt buộc môn Sử hẳn là thích môn Sử. Do đó nếu Sử là môn bắt buộc, các em hẳn vẫn sẽ vui vẻ học. Kể cả nếu Sử là môn tự chọn, các em vẫn có thể lựa chọn môn Sử. Như vậy thì môn Sử có bắt buộc hay không, đối với bản thân các em ấy cũng không có mấy sự khác biệt. Trong cả hai trường hợp các em đó đều có quyền lợi “được học Sử”. Nói cách khác, chọn thế nào các em ấy cũng chẳng mất gì.

Ngược lại, số 20% các em còn lại thì có lẽ là không thích môn Sử cho lắm. Và một khi môn Sử trở nên bắt buộc thì các em sẽ mất đi quyền lợi “không phải học Sử”. Tất nhiên 80% các em kia cũng mất đi quyền lợi này, nhưng vì các em ấy thích môn Sử nên khả năng cao là quyền lợi này không có giá trị lắm. Như vậy, nhìn theo một cách nào đó, 80% các em học sinh trong cuộc khảo sát kia mong muốn tước đi quyền lợi của 20% bạn học trong khi bản thân mình thì không mất gì. Và đó là cái mà tôi gọi là “bắt nạt”. Tất nhiên, tôi không nghĩ rằng bản thân các em có chủ ý như thế, hay thậm chí là suy nghĩ được đến mức như thế, và các em hoàn toàn có quyền nói lên chủ kiến của bản thân. Nhưng tôi thấy lo ngại khi các em sẵn sàng ủng hộ việc hy sinh quyền lợi của bản thân, và quan trọng hơn, là hy sinh quyền lợi của người khác như vậy. Trong mắt tôi, đó là một trong những tác hại của cái gọi là “lòng yêu nước” với “tinh thần dân tộc” đang được “giáo dục” ở trường lớp.

Nói rộng ra, tâm lý trên cũng xuất hiện rất phổ biến ở con người nói chung. Khi chúng ta có cảm tình với một cái gì đó, chúng ta thường đề cao lợi ích và coi nhẹ tác hại mà nó mang lại. Sự thiên vị này càng nặng nề hơn khi cân nhắc lợi ích cho bản thân và tác hại với người khác. Điều này dẫn đến trong nhiều trường hợp chúng ta sẵn sàng áp đặt, bắt ép, cấm đoán, hay nhẹ hơn là lên án, đả kích người khác theo ý thích của mình, miễn là bản thân không bị ảnh hưởng gì. Điều đó có thể thấy rõ trong những “phong trào” như phản đối ăn thịt chó, dẹp lễ hội mổ lợn, cấm hôn nhân đồng giới, và bây giờ là bắt buộc học môn Sử. Tôi phản đối những “phong trào” đó, không phải vì tôi thích thịt chó, hay tôi đồng tính, mà vì tôi lo sợ rằng chúng sẽ tạo nên những tiền lệ xấu, tạo nên một xã hội ngột ngạt, trong đó con người sẵn sàng siết cổ nhau chỉ vì sở thích bản thân, miễn là cổ mình không (chưa) bị siết. Tôi không muốn nói điều đó là “sai”, vì nó là một phần tâm lý tự nhiên của con người. Tôi cũng không muốn nói số đông phải nhượng bộ số ít. Tôi chỉ muốn nhắn nhủ rằng: gieo gió thì gặt bão. Sẽ có ngày những người từng hùa theo đám đông đi siết cổ người khác, lại bị một đám đông khác hùa vào siết cổ với danh nghĩa “sở thích của số đông”.

5. Tôi ghét “học” Sử, và tôi thích lịch sử

Nếu bạn nào đủ kiên nhẫn đọc được đến đây, có lẽ sẽ có ấn tượng rằng tôi là một người ghét Sử. Thẳng thắn mà nói tôi rất chán ghét “học” Sử, nhất là sau khi đã trải qua thời cấp 2 với một cô giáo dạy Sử thường xuyên cho điểm dưới 5 và được coi là nỗi sợ hãi của học sinh cả trường. Tôi chán “học” Sử vì những cái tôi muốn biết, muốn tìm hiểu kỹ hơn thì lại không có hoặc không được chú ý, mà những cái tôi chẳng hề có hứng thú thì lại được viết tràng giang đại hải. Tôi ghét “học” Sử vì cái gọi là “học” ở trường gắn liền với “kiểm tra” và “thi cử”. Mà “kiểm tra” với “thi cử” của “môn Sử” là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa, vô bổ và vô căn cứ, làm lãng phí thời gian, lãng phí trí lực của con người.

Nhưng thế không có nghĩa là tôi ghét lịch sử. Tôi thích lịch sử là đằng khác. Thời sinh viên tôi có thể dành ra hàng tiếng đồng hồ đọc về các giai đoạn, các sự kiện lịch sử trên Wikipedia. Tôi có thể say sưa tìm hiểu về cách tổ chức của các quân đoàn lê dương La Mã, cách chiến đấu của những chiến binh pha lăng Hy Lạp, những lãnh chúa Nhật Bản của thời kỳ Chiến Quốc, cuộc binh biến của đội quân Janissary, số phận của đế chế hậu duệ La Mã Byzantine, “quân đội sở hữu quốc gia” của xứ Phổ,… Trong những nội dung tôi đã từng tìm hiểu có cả hệ thống cung cấp nước bằng ống tre của thành Edo, cách con người ta “đi ngoài” từ cổ chí kim, cách chế tạo và sử dụng súng hỏa mai, thuyền dài của người Viking, vai trò của nước chanh trong thời đại hải hành… Một số không ít những nội dung đó tôi được truyền cảm hứng từ trò chơi, truyện tranh, phim ảnh. Một số khác là do có kết nối với các nội dung tôi đang tìm hiểu. Và một số đơn giản là vì một ngày đẹp trời tự dưng tôi nổi hứng.

Đoạn văn trên tôi viết không hẳn chỉ để khoe. Mà qua đó, tôi muốn nhấn mạnh vào hai điều: 1. lịch sử rất thú vị, và 2. lịch sử không hề và không thể biệt lập một mình. Về điểm thứ nhất, tôi không thể giải thích một cách rõ ràng tại sao tôi lại thấy lịch sử thú vị, tôi càng không thể “thuyết phục” bất kỳ ai rằng lịch sử thú vị chỉ bằng lời nói. Tôi chỉ có thể nói đơn giản rằng việc phát hiện ra những gì con người đã từng làm trong quá khứ, lý giải được tại sao họ lại làm như vậy, và nhìn thấy sự liên hệ giữa quá khứ với hiện tại đem lại cho tôi một niềm thích thú. Ý nghĩa của mọi vật nằm trong mối quan hệ giữa vật đó với xung quanh. Việc phát hiện ra những mối quan hệ đó khiến cho tôi thấy thế giới xung quanh có ý nghĩa hơn, chứ không hoàn toàn hỗn loạn và ngẫu nhiên. Tuy nhiên, cái sự thích thú đó đến từ trong bản thân tôi, do tự tôi tìm ra. Tôi không cho rằng vì tôi thấy lịch sử thú vị nên tất cả mọi người khác cũng thấy vậy, hay tất cả mọi người khác đều nên/cần/phải “học” lịch sử như tôi.

Về điểm thứ hai, nhiều người cho rằng “môn Sử” là một “môn khoa học” “độc lập”. Tôi không rõ họ muốn nói gì thông qua từ “khoa học” và “độc lập”, nhưng qua những gì tôi đã tìm hiểu, thì tôi tin rằng lịch sử không thể tách rời ra khỏi rất nhiều các lĩnh vực khác, từ to tát như chính trị, quân sự, văn hóa, đến cụ thể như dinh dưỡng, tâm lý, y học, vật liệu, ngôn ngữ,… Người nghiên cứu lịch sử cần đến, và sẽ buộc phải tiếp xúc với những lĩnh vực đó để hiểu được những gì đã xảy ra trong quá khứ, hiểu được tại sao lịch sử lại diễn ra như vậy. Hơn nữa, chính sự liên kết với các mặt, các lĩnh vực thực tiễn của cuộc sống hiện tại đem lại ý nghĩa cho lịch sử, khiến người ta tự tìm đến với lịch sử. Một thứ lịch sử “chỉ có lịch sử” sẽ là một thứ lịch sử rỗng tuếch, nhàm chán, vô dụng và vô nghĩa.

Cuối cùng, tôi có một lời khuyên cho những người muốn các em học sinh nói riêng và mọi người nói chung “thích” lịch sử: nếu muốn thuyết phục ai đó, hãy tìm cách phục vụ người đó, thay vì phục vụ bản thân. Cá nhân tôi rất thích chơi trò chơi điện tử. Khi chơi Rome: Total War, tôi có hứng tìm hiểu về đế chế La Mã và Carthage. Khi chơi Mount & Blade Warband: Viking Conquest, tôi có hứng tìm hiểu về nước Anh thời kỳ tiền Norman. Tôi có hứng thú tìm hiểu lịch sử từ trò chơi, vì một khi đã bắt gặp trong trò chơi, những vùng đất, những quốc gia, những dân tộc đó không còn là xa lạ đối với tôi nữa. Tôi biết thành Carthage ở đâu trên bản đồ thế giới, vì tôi đã xuất phát từ đó mà chinh phục gần hết Địa Trung Hải. Tôi biết từng đường biển, từng vùng đất, từng hòn đảo mà tôi đã đi qua trên bước đường “chinh chiến”. Và do đó đối với tôi chúng “có ý nghĩa”. Cứ thế mỗi trò chơi có bối cảnh lịch sử lại mở ra cho tôi một chương khác của lịch sử thế giới.

Điểm quan trọng ở đây là những trò chơi đó không được tạo ra để “học lịch sử”. Chúng được tạo ra để phục vụ đúng mục đích của một trò chơi: giải trí. Và vì chúng phục vụ tốt mục đích đó của tôi, nên tôi sẵn sàng tiếp nhận chúng. Cảm hứng với lịch sử đơn thuần chỉ là tác dụng phụ, nhưng hiệu quả hơn nhiều so với hàng tá những lý lẽ cao siêu và “cao cả” mà mọi người đang ra rả rao giảng hiện nay. Tôi nói vậy không phải để muốn nói rằng môn Sử phải được biến thành trò chơi, hay lên phim, hay tìm đủ cách “sinh động hóa”, “lý thú hóa”. Tôi muốn nhắc lại rằng lịch sử, hay phương tiện truyền tải lịch sử, trước hết phải phục vụ được, và phục vụ tốt, một nhu cầu thực tiễn và tự thân của học sinh nói chung và mọi người nói riêng, nếu muốn được đón nhận và tiếp thu có hiệu quả. Mọi sự cưỡng ép truyền tải lịch sử nhằm phục vụ mục đích bên ngoài đối tượng được truyền tải đều sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. Hay ít nhất, đó không phải là lịch sử, mà là “môn Sử”.


Bài viết lần này khá dài, do nó tổng hợp những suy nghĩ lẻ tẻ rời rạc của tôi xung quanh câu chuyện “học” Sử. Tôi xin tóm tắt lại những ý chính mà mình muốn truyền tải như sau: 1. hãy tôn trọng tự do của các em học sinh, của từng em học sinh, 2. hãy suy nghĩ từ góc nhìn của các em học sinh, 3. hãy để lịch sử là một môn khoa học, là sự tìm hiểu và khám phá tri thức, 4. đừng lợi dụng lịch sử cho mục đích của bản thân, 5. nếu muốn ai đó thích lịch sử, hãy tìm cách để lịch sử phục vụ được mục đích nào đó của họ. Những suy nghĩ này không bó hẹp trong phạm vi lịch sử hay giáo dục, mà có thể và nên được áp dụng cho mọi mặt của xã hội con người. Tôi tin rằng chỉ có như vậy mọi việc chúng ta làm mới có thể có hiệu quả cao, đạt mục đích mong đợi, và dẫn đến một thế giới hòa bình hơn.

Trong bài viết này, tôi chủ yếu đưa ra các nhận định các góc nhìn của cá nhân, chứ không tập trung vào các giải pháp cụ thể. Vấn đề tìm giải pháp tôi xin nhường lại cho những người trong cuộc và có hiểu biết hơn. Tuy nhiên theo tôi những giải pháp đó cần dựa trên cơ sở là những điểm tôi đã liệt ra ở trên nếu muốn đạt được sự thay đổi thực chất và tích cực. Bạn nào có hứng thú có thể tham khảo thêm các bài viết khác của tôi như “Bàn về cái sự ‘học'”, “Tôi học tiếng Nhật ‘vui’ thế nào”“Bàn về ‘tự do'”.

Bàn về cái sự “học”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “How children fail” và “How children learn” của John Holt, “Thinking Fast and Slow” của Daniel Kahneman.

1. Mô hình thế giới thu nhỏ

Có khi nào chúng ta tự hỏi: chúng ta ghi nhớ tri thức như thế nào? Tri thức tồn tại trong trí não chúng ta dưới dạng gì? Nhìn vào cung cách dạy và học ở trong hệ thống trường lớp chính quy hiện nay, dường như phần đông chúng ta, hay ít nhất là phần đông những người làm giáo dục, tin rằng tri thức tồn tại dưới dạng các câu trả lời, các “chân lý” và “sự thật” được diễn giải bằng ngôn từ và ghi nhớ nguyên xi trong trí não. Tuy nhiên tôi không nghĩ vậy. Nhiều nhà giáo dục và tâm lý học đã nhắc đến việc tri thức tồn tại trong trí não của con người dưới dạng một mô hình đơn giản hóa của thế giới xung quanh. Theo cách hiểu của tôi, mô hình đó bao gồm những khái niệm, những tính chất, những quan hệ, và những quy luật mà mỗi chúng ta quan sát được từ thế giới xung quanh và được diễn giải bằng suy nghĩ của bản thân mà không cần phải có ngôn từ.

Mô hình đó mô tả lại thế giới xung quanh nhưng không nhất thiết phản ánh đúng toàn bộ bản chất thế giới xung quanh, mà nó chỉ phản ánh cách chúng ta quan sát và lý giải thế giới tại một thời điểm nhất định, với những giới hạn về năng lực, kinh nghiệm và môi trường tại thời điểm đó. Mô hình này trống rỗng khi chúng ta mới sinh ra, và được bồi đắp thêm, sửa chữa lại, bỏ bớt đi theo quá trình trường thành của chúng ta. Cấu trúc của nó có thể giống như một tập hợp các trang wikipedia, nhưng được viết bằng suy nghĩ, hình ảnh và cảm giác chứ không phải ngôn từ. Mỗi trang viết về một đề tài tương đương với một khái niệm được lưu giữ trong trí não. Nội dung của trang sẽ chứa những tính chất, quy luật, ký ức,… của chúng ta về khái niệm đó. Đồng thời trong mỗi trang sẽ có những đường link đến các trang khác, thể hiện cho các mối dây liên kết giữa các khái niệm với nhau. Chỉ có điều số lượng khái niệm và quan hệ cũng như lượng thông tin mà chúng ta lưu giữ sẽ lớn hơn rất nhiều một trang wikipedia thông thường, trong khi đó công cụ tìm kiếm lại thường là thiếu tin cậy.

2. Việc “học” diễn ra thế nào

Việc “học” là việc tiếp thu thông tin mới. Khi tiếp thu một thông tin nào đó, chúng ta sẽ sử dụng mô hình thế giới mà mình đang có để diễn dịch thông tin đó thành suy nghĩ của bản thân, đồng thời tìm cách lý giải và phân loại thông tin đó, để xác định xem nó nói về cái gì trong mô hình của chúng ta, và nó có “hợp lý” hay không. Nếu thông tin đó chứa những khái niệm mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những khái niệm đó trong mô hình. Nếu thông tin đó chỉ ra những mối quan hệ mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những kết nối mới giữa các khái niệm trong mô hình với nhau. Những tính chất, quy luật mới sẽ được ghi chú lại vào những khái niệm tương ứng. Tóm lại, việc học không đơn giản chỉ là ghi nhớ tri thức, mà là một quá trình diễn dịch, lý giải tri thức và sau đó kết nối, hòa nhập tri thức vào mô hình thế giới của cá nhân, tương tự như quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể vậy.

Tuy nhiên, cùng một tri thức không phải bao giờ cũng sẽ được tiếp thu như nhau. Một đứa trẻ chưa có khái niệm gì về ký hiệu toán học hay tổng, tích, bằng sẽ chỉ thấy “3×3=9” là mấy đường kẻ ngoằn ngoèo vô nghĩa. Một đứa trẻ mới chỉ học thuộc bảng cửu chương mà chưa thực sự nắm được khái niệm tính nhân rất có thể sẽ chỉ nhớ rằng “3×3=9” và “3×4=12” mà sẽ không hiểu được rằng “3×4=3×3+3”, và nếu có được dạy điều đó cũng rất có thể sẽ chỉ coi đó là một tri thức mới mà không nhận ra đó là một quan hệ có thể suy ra từ tri thức đã có. Khi tri thức mới không tạo được kết nối với mô hình thế giới đã có bên trong trí não chúng ta, và không thể được kiểm chứng bằng mô hình đó, thì đối với trí não chúng ta lúc đó tri thức ấy chưa được “chứng minh”, không có tính “hợp lý”, không mang theo “ý nghĩa”, mà đơn giản chỉ là một “dữ liệu” xa lạ. Nếu bị bắt buộc chúng ta vẫn có thể ghi nhớ một cách gượng ép, nhưng khi đó tri thức ấy sẽ chỉ được “neo tạm” với mục đích đối phó mà sẽ không được tin tưởng dùng đến trong cuộc sống, trừ khi bị kiểm tra.

Nhìn vào cách học và dạy học thường thấy trong trường lớp, tôi có cảm tưởng là chúng ta nghĩ rằng việc “học” tri thức là việc “nuốt trôi” tri thức, như đổ nước vào bình vậy. Chúng ta nghĩ rằng cứ truyền tải được, nhớ được là đã học được, nên chúng ta mặc định rằng dạy học hiệu quả là truyền tải được thật nhiều tri thức, và đánh đồng việc dạy học với việc học. Thêm vào đó, chúng ta cũng không mấy quan tâm xem từng người học có sẵn sàng và mong muốn đón nhận tri thức hay không, mà cứ nhắm mắt dạy theo một giáo trình và thời gian biểu khuôn mẫu. Kết quả là các nhà giáo dục nước ta chỉ thấy bàn về việc cải tiến phương pháp dạy, dạy cái gì vào lớp mấy, làm thế nào để dạy học hiệu quả hơn, chứ tuyệt không thấy mấy ai tìm hiểu xem người học học thế nào, người học muốn học cái gì, làm thế nào để người học học hiệu quả hơn. Rốt cuộc chúng ta dạy là để giúp người học học hay là dạy chỉ để dạy, để thỏa mãn mục đích ích kỷ của chúng ta?

3. “Chân lý” nằm ở đâu

Nếu hỏi một nhà khoa học đích thực xem cái gì quyết định đúng sai, thì có lẽ người đó sẽ trả lời là “thực tiễn”. Nhưng nếu hỏi một em học sinh xem ai có quyền quyết định đúng sai, thì tôi dám chắc câu trả lời sẽ là “thầy cô giáo”. Một nhà khoa học tìm kiếm chân lý bằng cách quan sát thực tiễn, đưa ra các giả thuyết, và kiểm nghiệm các giả thuyết đó bằng thực tiễn. Mỗi giả thuyết thể hiện cho một cách hiểu, một cách nhìn đối với cùng một thực tiễn, và nhiều giả thuyết khác nhau, thậm chí trái ngược, có thể song hành cùng tồn tại cho đến khi bị chứng minh là sai. Đó là khoa học. Còn ở trong trường lớp, thầy cô giáo (và SGK) là người nắm độc quyền đối với “chân lý”. Mọi “chân lý” đều xuất phát từ thầy cô giáo, muốn biết “chân lý” chỉ có thể hỏi thầy cô giáo. Mọi kết luận và kết quả mà người học đưa ra đều phải qua sự đánh giá đúng sai của thầy cô giáo. Người học không có công cụ và quyền hạn để tự đánh giá và kiểm chứng thành quả trí óc của chính mình, cũng như không được có cơ hội và sự giúp đỡ để tự do tìm kiếm chân lý của riêng mình.

Hậu quả là những thứ chúng ta đang dạy trong trường lớp, nhìn từ phía người học, đơn giản chỉ là “cách để có kết quả được thầy cô giáo chấp nhận là đúng” chứ không phải là tri thức và kỹ năng gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Người học học những quy trình, quy luật và nội dung do thầy cô giáo đưa ra, nhưng hầu như không có cách nào tự mình kiểm chứng xem những gì mình học có “đúng” hay không, có “hợp lý” hay không, có ý nghĩa gì hay không, mà chỉ có thể nộp bài cho thầy cô giáo chấm và cầu trời được điểm tốt. Ở trường lớp, người học bị buộc phải học và sống trong một thế giới khác, tách biệt với thực tiễn cuộc sống, một thế giới mà mọi chân lý đều đã ghi cứng trong sách vở và mọi luật lệ do thầy cô giáo nắm trong tay. Trong thế giới đó không có chỗ cho sự nghi ngờ và kiểm chứng, sự tìm tòi và khám phá, hay sự khác biệt và tự do, mà chỉ có sự phục tùng và chấp nhận vô điều kiện mà thôi.

Nói cách khác, những cái chúng ta đang dạy trong trường lớp, tuy hầu hết mang danh khoa học, nhưng thường xuyên được truyền tải bằng một phương pháp không hề có tính khoa học, mà giống với việc giảng đạo trong các tôn giáo cực đoan khi nói về thần quyền hơn. Chân lý thực sự phải đến từ thực tiễn, hoặc ít nhất là đến từ niềm tin của chính bản thân người học, chứ không phải do người ngoài áp đặt lên. Người học phải được nghi ngờ và kiểm chứng tri thức trong thực tiễn hoặc trong mô hình thế giới của bản thân, phải được từ chối những tri thức mình chưa sẵn sàng tiếp thu hay không cảm thấy thuyết phục, và phải được giữ những suy nghĩ, cách nhìn nhận của riêng bản thân cho đến khi tự mình nhận thấy cần sửa đổi. Tri thức ở trường lớp chỉ cần đọc sách cũng có thể biết, nhưng khả năng tự học và suy nghĩ độc lập phải được nuôi dưỡng mới có thể có được.

4. Thế nào là “tự học”

Chúng ta thường có một định kiến rằng chỉ có thầy cô giáo và trường lớp mới có tư cách và khả năng “dạy học”, rằng không có họ thì người học không thể “học” được, rằng không có sự dẫn dắt, thôi thúc, bắt ép, kiểm tra của họ thì người học sẽ ngồi không chứ không “tự học”. Thực tế một đứa bé mới sinh ra đã có khả năng tự học và tính ham học rất cao. Lượng tri thức và kỹ năng mà một đứa trẻ tự học được cho đến trước khi vào trường lớp là rất lớn, và có ý nghĩa thực tế hơn rất nhiều những gì nó bị bắt phải học suốt mười mấy năm sau đó. Những tri thức và kỹ năng đó bao gồm những khái niệm căn bản về hình dạng, mùi vị, màu sắc, về những đồ vật, con người và môi trường xung quanh, những hiểu biết căn bản về giao tiếp người với người, về tiếng mẹ đẻ, và các quy luật tự nhiên đơn giản nhất như vật buông ra thì rơi, hay vật cứng bẻ mãi thì gãy, nhưng vật mềm thì ko gãy,… Trẻ em chỉ mất đi khả năng và ham muốn tự học khi phải bước vào trường lớp mà thôi.

Vậy một đứa trẻ tự học như thế nào? Câu trả lời rất đơn giản: bằng cách lặp đi lặp lại quá trình thu thập thông tin, rút ra kết luận, rồi kiểm nghiệm kết luận đó. Một ví dụ đơn giản là khi trẻ khóc mà mẹ lập tức chạy lại chỗ trẻ, và việc này được lặp đi lặp lại, thì trẻ sẽ hiểu rằng hành động khóc của mình có thể tạo nên sự thay đổi, có thể lôi kéo sự chú ý của mẹ, tức là mình có thể “giao tiếp” được với mẹ. Quá trình này có thể diễn ra một cách vô thức, và những tri thức thu được cũng không hề cần được diễn giải bằng ngôn từ. Việc tự học ở các độ tuổi sau này cũng giống như vậy về bản chất. Thông tin có thể được thu thập qua quan sát thực tiễn hay tiếp thu các nguồn thông tin có sẵn từ sách vở hay truyền miệng. Việc kiểm nghiệm có thể được diễn ra bằng thí nghiệm thực tiễn, đối chiếu nhiều nguồn, hay đơn giản là một phép đánh giá mức độ “hợp lý” trong mô hình thế giới của cá nhân.

Tự học là hình thức học hiệu quả nhất, vì chúng ta chỉ tự học những thứ chúng ta thấy có hứng thú, có mong muốn, có nhu cầu, và đã sẵn sàng để học. Nếu ai đó có thấy quá trình tự học nói trên có phần quen thuộc, thì có lẽ là bởi toàn bộ công cuộc khám phá khoa học của con người cũng chính là một quá trình tự học. Có người có thể cho rằng việc để cho người học tự mình khám phá những tri thức đã có sẵn là việc “phát minh lại cái bánh xe”. Tôi không cho là vậy. Nhân loại đã phát minh ra cái bánh xe, nhưng đối với một đứa trẻ chưa nhìn thấy cái bánh xe bao giờ, thì cái bánh xe vẫn là một thứ mới lạ so với mô hình thế giới mà đứa trẻ đó đang mang trong mình, và do đó cần có quá trình khám phá và kết nối như mọi tri thức khác. Đứa trẻ cũng không cần phải phát minh lại cái bánh xe, mà cái bánh xe đã có sẵn ở đó, ở khắp nơi quanh nó, chỉ đợi đứa trẻ quan sát và học hỏi mà thôi.

5. Điều kiện cho việc tự học

Để có thể tự học được, chúng ta cần có một số điều kiện nhất định: 1. một môi trường tương đổi ổn định không quá hỗn loạn, 2. cơ hội và thời gian để quan sát, kết luận và kiểm nghiệm, và 3. phản hồi rõ ràng và nhanh chóng từ môi trường xung quanh. Đối với điểm 1, toàn bộ hệ thống tri thức của con người được xây dựng dựa trên tiền đề là môi trường xung quanh chúng ta hoạt động theo những quy luật nhất định, và chúng ta có thể đoán trước kết quả nếu nắm được những quy luật đó. Một môi trường quá hỗn loạn, thay đổi liên tục và đầy bất ngờ sẽ khiến cho người học không thể nhìn ra được những hình mẫu và quy luật ẩn trong đó. Hãy tưởng tưởng thế giới sẽ loạn thế nào nếu như cùng một đoạn thẳng mà mỗi lần đo lại ra một chiều dài khác nhau? Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên vì thế mà tạo một môi trường giả tạo, “nhà kính” dành riêng cho người học, mà chỉ nên hạn chế sự hỗn loạn ở một mức độ vừa phải để không che lấp đi các quy luật.

Điểm 2 là điểm yếu căn bản của hệ thống trường lớp hiện tại. Thông thường, chúng ta không ghi nhớ từng chi tiết, từng thông tin trong cuộc sống. Chỉ khi chúng ta bắt gặp một thông tin nhiều lần, hoặc thông tin đó để lại ấn tượng, gây sự hứng thú, thì chúng ta mới bắt đầu nhận ra, để ý đến, và xử lý nó một cách thực sự. Chúng ta học bằng cách tắm mình trong biển thông tin thô, và chỉ giữ lại một lượng nhỏ thông tin nguyên liệu mà chúng ta thấy có giá trị để biến thành sản phẩm hoàn thiện là tri thức. Việc thu thập thông tin diễn ra nhanh hay chậm, theo thứ tự nào, tập trung vào mảng nào phụ thuộc vào sở thích và năng khiếu của từng người. Trong khi đó hệ thống giáo dục ở trường lớp, vì nôn nóng hay vì không hiểu và không tin tưởng vào quá trình tự học, lại chỉ muốn người học chấp nhận và nuốt trôi những sản phẩm cuối cùng một cách nhanh chóng theo một thời gian biểu định trước.

Điểm 3 có lẽ là điểm ít được để ý đến. Tốc độ và mức độ rõ ràng của các phản hồi đối với những thí nghiệm của người học, dù phản hồi đó đến từ môi trường hay người hướng dẫn, đóng vai trò rất lớn đến tốc độ và chất lượng của quá trình tự học. Đó cũng chính là lý do vì sao các ngành khoa học tự nhiên thường chính xác và cụ thể hơn các ngành khoa học xã hội: trái với xã hội loài người, tự nhiên là một nguồn phản hồi nhanh chóng và chất lượng. Một ví dụ cho lĩnh vực có phản hồi tốt và do đó rất thích hợp cho tự học là công nghệ thông tin. Máy tính phản hồi tức khắc, và trong cùng một điều kiện luôn cho phản hồi giống nhau. Điều tương tự cũng có thể áp dụng vào việc đào tạo nhân viên hay bất cứ đối tượng nào khác. Việc đưa ra phản hồi thường xuyên và rõ ràng sẽ có hiệu quả tốt hơn là gom góp và chờ đợi. Điều quan trọng cần nhớ là hãy để phản hồi chỉ là phản hồi, không nên là sự uốn nắn và chỉ trích. Việc sử dụng phản hồi như thế nào nên được để cho người học tự quyết định.

6. Cần gì phải “kiểm tra”

Một trong những sự cản trở việc học tập mà hệ thống trường lớp gây ra cho người học, bên cạnh việc độc quyền chân lý và bóp chết khả năng tự học, là việc “nghiện” kiểm tra. Các kỳ kiểm tra, thi thố được thực hiện với mục đích “đánh giá kết quả học tập” của người học. Nhưng cá nhân tôi cho rằng việc kiểm tra không nói lên chính xác lượng và chất của tri thức, mà đơn thuần chỉ đánh giá khả năng làm bài kiểm tra của người học mà thôi. Có lẽ ở Việt Nam không có người nào ảo tưởng đến mức thực sự tin rằng kết quả bài thi tốt nghiệp THPT nói lên trình độ tri thức tổng quát cần có ở một học sinh THPT khi bước vào xã hội. Vì nếu quả thực như vậy, thì hãy thử cho tất cả những người đã tốt nghiệp làm lại một bài thi đột xuất xem sao. Chắc chắn quá nửa số người sẽ trượt thẳng cẳng, tức là không đủ tư cách tốt nghiệp THPT. Vậy tại sao họ lại được mang bằng THPT, được ra xã hội làm việc? Chỉ riêng sự tồn tại của khái niệm “học ôn thi” đã đủ nói lên sự vô nghĩa của các bài thi đó.

Trên thực tế, các bài kiểm tra là một hình thức phạt đòn đối với người học, là cây gậy trong chiến lược cây gậy và củ cà rốt. Mà đã là phạt đòn, thì sẽ gây ra sự sợ hãi và đối phó. Người học sẽ học để có thể đạt điểm tốt, thay vì học để thu tri thức về mình, để khám phá thế giới, để cảm nhận sự vui thú của bản thân việc học. Gần đây giới giáo dục có câu nói “cần gì, học nấy”, nhưng chừng nào còn có kiểm tra và thi cử, thì thực tiễn sẽ vẫn mãi là “thi gì, học nấy” mà thôi. Tất nhiên tôi không phủ nhận hoàn toàn vai trò của việc thi cử. Tất cả các tổ chức hoàn toàn có quyền yêu cầu một kết quả thi nhất định trước khi cấp chứng chỉ hay nhận đầu vào. Các bài kiểm tra cũng là một công cụ tốt để người học đánh giá tiến bộ, miễn là nó không mang tính bắt buộc và không có hậu quả về sau. Nếu chúng ta biến việc thi thố kiểm tra thành một phần của việc học với những hậu quả tâm lý và sự nghiệp nặng nề, thì tức là chúng đang phá hoại động lực học tập tự thân của người học.

7. “Thoát trường học”

Giải pháp mà cá nhân tôi thấy hợp lý nhất cho những hạn chế của hệ thống trường lớp hiện nay có thể được tìm thấy trong phong trào “thoát trường học” (unschooling), bắt đầu xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970. Phong trào này đề cao tính tò mò và khả năng tự học của trẻ em, và cho rằng quyền quyết định học gì, vào lúc nào và bằng cách nào nên thuộc về trẻ em. Trẻ em có thể học bằng cách quan sát xung quanh, đọc sách báo tư liệu, trải nghiệm thực tế, tiến hành thí nghiệm, thực hiện các dự án, kể cả tham gia các khóa học thông thường,… Người hướng dẫn (cha mẹ, thầy cô giáo) sẽ chỉ có vai trò giúp đỡ bằng cách cung cấp tư liệu học, dẫn trẻ đến những nơi giúp ích cho việc học, đưa ra các gợi ý, hướng dẫn và câu trả lời khi được yêu cầu, quan sát và ghi chép tiến trình học, đảm bảo an toàn cho trẻ trong quá trình học, và nói chung là hỗ trợ nhưng không điều khiển việc học.

Trong phương pháp học này, trẻ em được chịu trách nhiệm và tự do theo đuổi mơ ước, sở thích, năng khiếu và nhu cầu học của bản thân. Việc học cũng sẽ được diễn ra không theo một thời gian biểu cố định nào, mà tùy vào mức độ sẵn sàng của trẻ, vì mỗi đứa trẻ đều có con đường phát triển trí não của riêng mình. Một đứa trẻ hoàn toàn có thể đợi đến 7-8 tuổi mới bắt đầu học đọc học viết, nếu như điều đó phù hợp với sự phát triển trí não của cá nhân đứa trẻ. Điều quan trọng là trong suốt thời gian học và sinh hoạt, đứa trẻ luôn được nhìn thấy mọi người xung quanh đọc và viết, để nó có thể thấy rằng đọc và viết là những kỹ năng cần thiết và có ích, từ đó nảy sinh mong muốn học những kỹ năng đó. Mức độ tiến triển và kết quả của việc học tập sẽ không được đánh giá qua các bài kiểm tra, mà qua chính những gì đứa trẻ đã làm được trong quá trình học: những cuốn sách đã đọc, những dự án đã hoàn thành, những bài phát biểu và bài viết, và quan trọng nhất, là thông qua giao tiếp trực tiếp với đứa trẻ đó.

Chú ý rằng tôi không cho rằng “thoát trường học” là phương pháp giáo dục hoàn hảo dành cho tất cả mọi trẻ em. “Thoát trường học” cũng có một số vấn đề cần lưu ý phòng tránh như nguy cơ thiếu hụt giao tiếp xã hội và bạn bè, xung đột với hệ thống giáo dục chính quy, nguy cơ hình thành suy nghĩ một chiều cực đoan,… Một số trẻ cũng có thể cảm thấy cách thức học trong trường lớp phù hợp với bản thân hơn. Việc học qua “thoát trường học” cũng có thể được diễn ra song song với việc học tại trường lớp bằng hình thức bán thời gian. Dù gì đi nữa, tôi tin rằng, nếu như đứa trẻ thực sự có mong muốn, thì việc từ chối đến trường cũng như việc được tự do học hành theo ý thích nên được coi là một quyền lợi căn bản của trẻ em.


Bài viết này góp nhặt lại những suy nghĩ rời rạc của tôi về vấn đề học và dạy học cho trẻ em. Tôi không có ý xúc phạm các thầy cô giáo hay phủ nhận những kết quả mà hệ thống trường lớp chính quy đã đạt được kể từ khi ra đời. Nhưng tôi cũng tin rằng những vấn đề tôi nêu ra ở đây là hoàn toàn có thật và đáng suy ngẫm. Xét cho cùng chúng ta dạy học là để làm gì? Chúng ta đang giáo dục trẻ em bằng một quy trình công nghiệp không khác gì một nhà máy sản xuất hàng hóa hàng loạt, đối xử với các em không khác gì những cỗ máy chỉ cần biết làm theo hướng dẫn với một lịch trình có sẵn, vậy mà đùng một cái khi các em lớn lên chúng ta lại yêu cầu các em phải “có tính sáng tạo”, “biết tự suy nghĩ”, vậy chẳng phải nực cười lắm sao? Nên chăng chúng ta hãy dành nhiều niềm tin hơn cho các em, những người mà chúng ta vẫn thường ca tụng là mầm non tương lai của đất nước, để mầm non đó được tự do phát triển một cách tự nhiên, thay vì bị uốn nắn cắt tỉa trong chậu nuôi nhà kính.

Bàn về cái sự “dạy học”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Gần đây, ngành giáo dục Việt Nam nhận khá nhiều chỉ trích từ phía dư luận vì nhiều lý do khác nhau, và có vẻ như đang gặp bế tắc trong việc đổi mới để đáp ứng nhu cầu của người dân. Các biện pháp đổi mới và các phát biểu của người trong ngành chủ yếu đều xoay quanh việc thay đổi phương pháp dạy học và nội dung dạy học (SGK). Cá nhân tôi nghĩ rằng để giáo dục có hiệu quả thực sự thì thay vì lao vào tìm giải pháp ngay, chúng ta nên lùi lại và cùng suy ngẫm về một số vấn đề cơ bản như sau.

1. Thế nào là “học”

Nói một cách đơn giản, học là quá trình tiếp thu bất cứ cái gì mới mẻ từ thế giới bên ngoài vào bên trong trí não của con người bằng bất cứ phương tiện nào. Đứa trẻ bắt chước nói theo bố mẹ cũng là học, hiểu rằng chạm vào vật nóng sẽ bị bỏng cũng là học. Người thợ tìm hiểu cách thao tác một máy móc mới cũng là học. Thậm chí một người trẻ biết đến một dòng nhạc mới cũng là học. Chúng ta hay coi việc người học tiếp thu cái này là có ích, là “học”, còn việc tiếp thu cái kia là vô bổ, là “lông bông”. Cá nhân tôi cho rằng việc đánh giá học cái gì là có ích nên được dành cho bản thân người học chứ không phải của những người xung quanh.

Chú ý rằng ở đây tôi không muốn giới hạn việc “học” trong phạm vi hệ thống giáo dục chính thống. Nhiều người có thể nghĩ rằng hệ thống giáo dục chính thống là một cái gì đấy tuyệt đối đúng, một khuôn mẫu chuẩn cho việc học, nhưng sự thực là hệ thống giáo dục hiện nay chỉ mới bắt đầu được phổ biến trong khoảng hơn 100 năm trở lại đây so với lịch sử hàng nghìn năm văn minh của con người. Trong hàng nghìn năm đó, con người đã và vẫn đang học theo những cách rất khác với những nội dung rất khác. Bản thân việc học là một hành vi cơ bản của con người chứ không phải độc quyền của hệ thống giáo dục.

2. Tại sao lại “học”

Mọi hành động có ý thức của con người đều dựa trên một số mục đích, lý do hay điều kiện nào đó và do vậy đều cần phải được đánh giá dựa trên những mục đích, lý do hay điều kiện đó. Một hành động “hiệu quả” phải là có hiệu quả trong việc đạt được mục đích đề ra. Đối với việc học, dường như chúng ta đã quên đi mục đích của nó, hoặc gán cho nó những mục đích từ bên ngoài chứ không phải của tự thân người học. Không có một mục đích của tự thân, hiển nhiên người học sẽ không hào hứng mà cũng chẳng có động lực tự học, và “hiệu quả” mà chúng ta nói đến cũng sẽ không phải là hiệu quả của việc “học”. Cá nhân tôi nghĩ rằng có hai mục đích cho việc học.

Mục đích thứ nhất là nhằm giải quyết một vấn đề thực tiễn của bản thân người học. Mục đích này giúp cho việc học của con người diễn ra bền bỉ lâu dài, vì người học sẽ phải kiên trì cho đến khi giải quyết được vấn đề, và cuộc sống con người không thiếu gì vấn đề để giải quyết. Nhìn vào lịch sử, có thể nói đây là mục đích chính thúc đẩy việc học diễn ra ở mọi cá nhân trong mọi giai tầng xã hội. Tầng lớp lãnh đạo phải học về chính trị, ngoại giao, quân sự để thống trị và bảo vệ lãnh thổ. Người nông dân phải học về mùa vụ, đất đai, thao tác trồng trọt để có cái ăn và đóng thuế. Để ý rằng các vấn đề ở đây phải là vấn đề của cá nhân người học mà người học cảm thấy có trách nhiệm, chứ không phải của người khác đặt ra.

Mục đích thứ hai của việc học là để thỏa mãn ham muốn học hỏi của bản thân người học. Tôi không rõ nó đến từ đâu và có lý do sâu xa nào, nhưng con người dường như có một ham muốn mang tính bản năng đối với việc mở rộng hiểu biết nói riêng và việc trưởng thành của bản thân nói chung. Có người cho rằng mỗi người sinh ra đã mang trong mình những “tiếng gọi” nhất định, chỉ cần có điều kiện thích hợp là sẽ tạo nên động lực và niềm vui thích lớn lao cho việc học hỏi và hành động theo “tiếng gọi” đó. Chính ham muốn đó, “tiếng gọi” đó đã dẫn đến những phát minh khoa học, những sáng tạo nghệ thuật, những giác ngộ triết lý vĩ đại của nhân loại. Đáng tiếc rằng mục đích thứ hai này hiện tại lại không được chú ý nhiều và đôi khi là bị gạt bỏ hoàn toàn.

3. Tại sao lại “dạy học”

Vậy tại sao chúng ta lại cần/phải/muốn “dạy học”? Đó là câu hỏi mà tôi nghĩ bất kỳ ai cũng đều phải suy nghĩ kỹ nếu như có ý định “dạy học”, dù người đó là cha mẹ, thầy cô hay cấp trên của người học hay là ai đi nữa. Tôi không phủ nhận việc đặt ra một mục đích “dạy học” nào đó nhằm phục vụ cho lợi ích người “dạy học” hoặc lợi ích chung, nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng, giống như một doanh nghiệp nếu chỉ chạy theo lợi nhuận mà bỏ quên nhu cầu của khách hàng thì sẽ bị khách hàng xa lánh, nếu chúng ta chỉ tập trung vào mục đích “dạy học” mà quên đi mục đích “học” của bản thân người học, thì việc “dạy học” đó là ích kỷ và sẽ bị người học xa lánh nếu như họ có thể có lựa chọn khác.

Trong quan điểm của cá nhân tôi, nếu với tư cách là một “nhà giáo dục” thì mục đích của việc “dạy học” chỉ nên gồm hai điểm: cung cấp cho người học hiểu biết về cơ chế vận hành của cộng đồng, và truyền cho người học nguồn cảm hứng cũng như nguồn tri thức để người học có thể tự “học”. Mục đích thứ nhất là mục đích “ích kỷ”, và mục đích thứ hai là để phục vụ người học. Chúng ta không nên ép người học gia nhập vào cộng đồng theo cách của chúng ta, mà chỉ nên cung cấp cho người học công cụ để có thể hòa đồng, và dành quyền quyết định cho người học, với mong muốn người học sẽ lựa chọn “đúng”. Đồng thời chúng ta cũng không nên ép người học tiếp thu những tri thức mà chúng ta muốn, theo cách mà chúng ta muốn, mà chỉ nên giúp người học cảm nhận được niềm vui thích của việc học, và cung cấp cho người học những công cụ họ cần để có thể tự học.

Những người khác, với quan điểm khác và vị trí khác với tôi có thể có cách suy nghĩ khác về việc “dạy học”. Đó là lẽ tất nhiên và tôi cũng không nghĩ rằng quan điểm của mình là tốt nhất. Tuy nhiên việc suy nghĩ và làm rõ mục đích cũng như nguyên tắc của việc “dạy học”, hay còn gọi là “triết lý giáo dục”, là việc nhất thiết cần phải làm. Chỉ khi đó thì việc “dạy học” mới có được phương hướng rõ ràng và tính hiệu quả của việc “dạy học” mới được đánh giá chính xác. Nội dung của những “triết lý giáo dục” đó không quan trọng bằng việc có một “triết lý giáo dục” nhất quán và cụ thể. “Triết lý giáo dục” đó có được người học đón nhận hay không, có đóng góp được cho cộng đồng hay không, sẽ do người học và cộng đồng đánh giá.

4. Vai trò của người “dạy học”

Với mục đích “học” và “dạy học” như tôi đã nói ở trên, thì người dạy học không thể và không nên có quyền hành vô điều kiện đối với nội dung và phương pháp học, cũng như đối với bản thân người học. Sự tôn kính đối với người dạy học, nếu có và cần, phải đến từ thực tâm người học và dựa trên cơ sở vững chắc là nhân cách và tri thức của người dạy học, chứ không phải một “quyền lực” vô hình mang tên “truyền thống tôn sư trọng đạo”. Bản thân người “dạy học” cũng không nên bị đặt dưới một quyền hành vô điều kiện của một cấp quản lý nào đối với nội dung và phương pháp dạy học của bản thân. Nói cách khác, chúng ta cần “dân chủ hóa” việc “học” và “dạy học”, giải phóng người dạy học và nâng người học lên ngang hàng người dạy học với tư cách là đối tác của nhau trong sự “học”.

Một khi đã không còn quyền hành vô điều kiện đối với người học, người dạy học sẽ trở về với vị trí nâng đỡ và trợ giúp người học trên con đường “học”. Chúng ta có thể nhìn vào mục đích của việc “học” để suy ra những việc người dạy học có thể làm. Nếu người học đã có trong đầu một vấn đề nhất định thì người dạy học có thể đưa ra những gợi ý hay nguồn tri thức tham khảo để giúp người học tự giải quyết vấn đề. Nếu người học chưa nhận thức được một vấn đề nào rõ ràng thì người dạy học có thể đưa ra các vấn đề giả định và làm cho người học cảm thấy hứng thú với việc giải quyết các vấn đề đó. Người dạy học có thể giới thiệu người học với những lĩnh vực tri thức mới để giúp người học tìm ra thứ mình có hứng thú, tìm ra “tiếng gọi” của bản thân. Người dạy học cũng có thể truyền cho người học niềm cảm hứng về một lĩnh vực cụ thể, thông qua sự say mê của chính bản thân đối với lĩnh vực đó.

Quan trọng hơn, người dạy học có thể giúp người học phát triển khả năng suy nghĩ và đánh giá của bản thân bằng việc dành cho người học thời gian và sự tự do suy nghĩ và đánh giá mà không bị uốn nắn hay phán xét. Người dạy học có thể dẫn dắt người học bằng những câu hỏi mở và những gợi ý và để người học tự đi đến kết luận của bản thân, thay vì đưa ra câu trả lời “chuẩn” và phán xét câu trả lời của người học. Người dạy học cũng có thể đưa ra câu trả lời của riêng mình, đồng thời chỉ ra cho người học thấy cả quá trình suy nghĩ và đánh giá của bản thân, những tri thức và căn cứ, những lý do và giá trị, cũng như những lý luận để đi đến câu trả lời làm tài liệu cho người học tham khảo. Việc người học có đi đến câu trả lời “đúng” hay không không quan trọng, mà quan trọng là người học được luyện tập khả năng tự suy nghĩ và đánh giá.

5. Kết luận

Việc “học”, hay việc tiếp thu cái mới vào trong trí não, là việc của người học, nhằm phục vụ mục đích tự thân của người học. Mục đích đó có thể là nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó, hoặc là nhằm thỏa mãn ham muốn học hỏi vốn có sẵn trong mỗi người học. Người dạy học, trước khi bắt tay vào “dạy học”, cần phải xác định rõ cho mình mục đích và những nguyên tắc nhất định cho việc “dạy học” của bản thân, lấy đó làm phương hướng quyết định mọi thứ còn lại. Trong quan điểm cá nhân tôi, người dạy học cũng nên tôn trọng mục đích tự thân của người học và đóng vai trò người nâng đỡ, trợ giúp người học thay vì người ra lệnh, cai quản, phán xét người học.