Bài toán của thầy và bài toán của em

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Democracy and Education” của John Dewey.

Có điểm khác biệt gì giữa một vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống và một vấn đề mà đứa trẻ đó gặp phải trên lớp học? Vì sao những đứa trẻ ở ngoài đời thường thì luôn tò mò hiếu kỳ về đủ các loại vấn đề và luôn bỏ bom người lớn bằng đủ các loại câu hỏi, nhưng cũng những đứa trẻ ấy sau một thời gian đến trường thì một phần ko nhỏ lại trở nên thờ ơ với những kiến thức trong sách vở?

Câu trả lời rất đơn giản: hứng thú.

Bất cứ một con người nào cũng đều có những thiên hướng và hành vi đặc trưng. Những thiên hướng và hành vi đó khi va chạm với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh sẽ dẫn đến những trải nghiệm và kích thích của riêng từng người. Những trải nghiệm và kích thích đó có thể làm nảy sinh ra những vấn đề hay câu hỏi nhất định cần lời giải đáp. Và suy nghĩ của con người ko gì khác chính là một phương pháp hay công cụ để giải quyết những vấn đề đó.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó là vì vấn đề ấy nằm trên con đường đi của những thiên hướng và hành vi tự nhiên của người đó. Có thể bản thân thiên hướng của người đó dẫn họ đến vấn đề ấy, mà cũng có thể là họ bắt gặp vấn đề ấy trên con đường để đi đến lời giải đáp cho một vấn đề khác mà họ có hứng thú. Điều này giống như việc một dòng nước chảy sẽ cuốn trôi đi những vật cản trên con đường của nó vậy.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó cũng đồng nghĩa với việc người đó cảm thấy một lợi ích nào đó của bản thân phụ thuộc vào việc tìm ra lời giải đáp cho vấn đề đó. Lợi ích ấy có thể là tiền nong, sức khỏe, quan hệ, quyền lực, hay có thể đơn giản chỉ là việc thỏa mãn sự tò mò, nhưng chắc chắn một điều là nó xuất phát từ những thiên hướng tự nhiên, hay chính là nhân cách tự thân của người đó.

Khi một người có hứng thú với một vấn đề, thì người đó sẽ có động lực để giải quyết vấn đề đó, để nhằm tiến lên phía trước và đem lại lợi ích cho bản thân. Khi đó chúng ta có thể nói rằng người đó cảm thấy có trách nhiệm với vấn đề đó, hay người đó coi vấn đề đó là “của mình”. Ngược lại với thái độ có hứng thú và trách nhiệm ko gì khác chính là sự thờ ơ.

Theo như tiêu chuẩn trên, rõ ràng có thể thấy rằng những vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống bên ngoài trường học đều là những vấn đề mà nó cảm thấy hứng thú. Bởi vì nếu ko có hứng thú thì đứa trẻ đó đã chẳng coi những vấn đề ấy là vấn đề. Đó là những vấn đề nảy sinh từ việc những thiên hướng và hành vi tự nhiên của đứa trẻ va chạm với thế giới xung quanh. Nói cách khác, đó là những vấn đề mà ko sớm thì muộn, bằng cách này hay cách khác đứa trẻ đó cũng sẽ gặp phải trong quá trình sống ở môi trường hiện tại.

Ngược lại, đại đa số những vấn đề và câu hỏi mà một đứa trẻ gặp phải trong trường học lại là những vấn đề “nhân tạo”, nếu ko muốn nói là “giả tạo”. Chúng ko phải là những vấn đề nảy sinh từ những thiên hướng và hành vi tự nhiên của những đứa trẻ, mà là được “chế tạo” ra để làm công cụ cho việc truyền tải những điều mà người lớn muốn trẻ em tiếp thu. Chúng ko hề có hoặc có rất ít sự gắn kết đối với những trải nghiệm thực tế mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày. Một phần lớn trong số chúng là những câu hỏi mà nếu như ko bị bắt buộc phải đến trường thì rất có thể đứa trẻ đó sẽ ko bao giờ bắt gặp.

Ko khó gì để thấy rằng hệ thống trường học hiện tại ko phải là một môi trường tốt để cho những đứa trẻ có thể bắt gặp các vấn đề một cách tự nhiên. Trong đa số các lớp học, trẻ em hầu như chỉ ngồi im một chỗ và ko được làm gì khác ngoài việc nghe giảng, chép bài và trả lời câu hỏi của giáo viên. Nội dung và thời điểm các môn học đều được định sẵn mà ko hề có tham khảo một chút nào đến mong muốn của từng đứa trẻ. Điều đó có nghĩa là những thiên hướng và hành vi tự nhiên của một đứa trẻ, ngoài những thứ phục vụ cho việc học trên lớp, hầu như ko có cơ hội thể hiện và được chấp nhận trong trường học. Khi đó đương nhiên đứa trẻ ấy cũng sẽ khó có thể bắt gặp những vấn đề mà nó thực sự có hứng thú.

Nếu như chỉ có vậy, thì những câu hỏi trong trường học, tuy có thể là vô bổ, nhưng vẫn còn là vô hại, vì những thiên hướng tự nhiên của một đứa trẻ sẽ tự biết loại bỏ những gì nó ko thấy có hứng thú và tập trung sự chú ý vào những thứ còn lại. Vấn đề lớn nhất của giáo dục trường học là việc những đứa trẻ ko được để cho tự do lựa chọn việc có suy nghĩ tìm cách giải quyết những câu hỏi được đặt ra cho chúng hay ko, mà những vấn đề ấy được áp đặt lên đầu chúng thông qua những công cụ như điểm số hay sự đánh giá từ giáo viên và cha mẹ.

Trong một môi trường như vậy, hứng thú của những đứa trẻ sẽ ko còn nằm trực tiếp ở những câu hỏi được đưa ra nữa, mà nằm ở việc đáp ứng những tiêu chuẩn và đòi hỏi từ người lớn. Việc giải quyết các vấn đề và trả lời các câu hỏi sẽ chỉ còn là một trong những công cụ để đạt được những điểm 10, để được thầy cô khen ngợi, để ko bị cha mẹ mắng mỏ. Nói cách khác, bài toán mà thầy đưa ra là chuyện của thầy, còn bài toán của em là làm sao để ko bị thầy cho ăn điểm xấu.

Và một cách hết sức tự nhiên, khi con đường thẳng là suy nghĩ giải quyết vấn đề có vẻ như quá gập ghềnh khó khăn, thì những đứa trẻ sẽ lựa chọn những con đường khác nhẹ nhàng hơn để đến cùng một cái đích là điểm số. Rất có thể trong những con đường ấy sẽ ko hề tồn tại sự suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo mà hệ thống giáo dục luôn mong muốn diễn ra, bởi vì bản thân việc giải quyết vấn đề ko phải là mục tiêu thực sự. Trái ngược lại với điều đó, chẳng có một ai lại nghĩ đến chuyện “gian lận thi cử” khi tự mình tìm cách học nấu một món ăn mới hay học chơi một nhạc cụ mới hay học nói một ngôn ngữ mới cả.

Hẳn nhiên, những điều trên ko có nghĩa là chúng ta nên phá bỏ hệ thống trường học và để mặc cho những đứa trẻ tự phát triển. Số lượng và chất lượng những kích thích mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội xung quanh, và do vậy thường sẽ mang tính hạn chế và cục bộ nếu ko có sự can thiệp có chủ ý. Nhiệm vụ của trường học là cung cấp một môi trường mà trong đó trí não của những đứa trẻ sẽ được kích thích nhiều hơn, rộng hơn và cân bằng hơn so với những sự kích thích mà chúng nhận được ngoài đời, và để cho chúng tự mình tìm ra từ đó những vấn đề mà chúng có hứng thú.

Nhiệm vụ của trường học còn là đảm bảo rằng việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi những đứa trẻ phải tự mình quan sát, tìm tòi, suy nghĩ cũng như sáng tạo, và cung cấp cho chúng những thông tin, công cụ và chỉ dẫn cần thiết và vừa đủ để làm được điều đó. Một đứa trẻ nếu như ko nhận được sự giúp đỡ thích hợp khi đứng trước một vấn đề quá khó sẽ có khả năng bỏ cuộc và đánh mất hứng thú. Nhưng nếu sự giúp đỡ vượt quá mức cần thiết thì đứa trẻ cũng sẽ ko còn cơ hội sử dụng trí não của riêng mình để tự tìm ra lời giải, và do đó việc giải quyết vấn đề sẽ mất đi phần lớn giá trị giáo dục. Nói cách khác, trường học cần phải là vườn ươm trí não đúng nghĩa, chứ ko phải là đấu trường hoang dại hay cái lò nuôi gà công nghiệp.

Tìm tòi học hỏi và suy nghĩ tìm cách giải quyết các vấn đề là những hành vi tự nhiên, nếu ko muốn nói là cần thiết phải có, của mọi con người. Việc biến những đứa trẻ từ những cái hố chân không bám lấy và hút vào đủ mọi loại tri thức thành những em học sinh chán chường và đôi khi căm ghét việc học phải nói là một thành tựu đòi hỏi công sức ko hề nhỏ của cả một hệ thống giáo dục sai lầm. Chừng nào trường học vẫn còn đâm đầu vào việc đơn thuần truyền tải những điều người lớn muốn trẻ em tiếp thu một cách cưỡng ép, và đánh giá các em thuần túy bằng khả năng ghi nhớ kiến thức và trả lời các câu hỏi nhân tạo, thì việc thờ ơ và gian lận trong giáo dục sẽ vẫn còn là điều phổ biến.

Phụ huynh Sudbury: Giao cho con có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Trong phần trước, tôi đã viết rằng điều mà “mô hình giáo dục Sudbury” coi trọng nhất chính là việc nhìn nhận trẻ em như những con người hoàn toàn độc lập với cha mẹ. Điều đó cũng có nghĩa là “tin tưởng 100% vào trẻ em, giao toàn bộ quyền lựa chọn cho trẻ em”.

Chẳng hạn như ở trường Tokyo Sudbury School, dù cho có là một đứa bé còn chưa đi học tiểu học, thì ý chí của riêng em đó vẫn được tôn trọng trên hết. Việc nhận học sinh không phải là phía trường chấp nhận việc “phụ huynh đưa con vào trường”, mà là chấp nhận việc “học sinh lựa chọn vào trường Sudbury”.

Thêm vào đó, cả sau khi đã vào trường, do trong mô hình Sudbury không có giờ học, nên các em học sinh chỉ làm những việc mà mình thích. Các em không hề nhận được sự chỉ dẫn “làm cái này đi” hay “nên làm cái này hơn” từ bất cứ ai cả. Việc học sinh làm gì trong khoảng thời gian ở trường là hoàn toàn dựa trên ý chí tự do của các em.

Và một vấn đề luôn luôn nảy sinh ở đây là “giao toàn quyền quyết định cho con liệu có ổn không?”.

Quả thực đã là trẻ con thì thường cũng có chỗ chưa được chín chắn. Trẻ con kinh nghiệm và tri thức đều ít, và có lẽ cũng không giỏi trong việc nhìn nhận một cách khách quan và quyết định một cách tỉnh táo. Nhìn những đứa trẻ “thiếu tin cậy” ấy, thì chuyện các bậc cha mẹ lo lắng rằng  “giao hết cho con có ổn không?” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, dù cho có là như vậy đi nữa thì tôi vẫn muốn tin vào con trẻ. Tôi cho rằng trẻ con có đầy đủ năng lực đánh giá và tự lựa chọn con đường đi cho riêng mình ngang bằng với người lớn.

Vì sao tôi lại có thể nghĩ như vậy? Đó là vì tôi nghĩ rằng chính việc chúng ta “đối xử như trẻ con” lại đang “giam cầm trẻ con trong cái vỏ bọc trẻ con”.

Tôi cho rằng trẻ con vốn ngay từ khi còn bé đã có năng lực phán đoán sự việc và lựa chọn cuộc đời mình. Cái đang cướp đi năng lực ấy, cái đang kìm hãm trẻ con trong hình ảnh “thiếu tin cậy” ấy chính là cách mà người lớn xung quanh đối xử với chúng “như trẻ con”.

Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được điều đó nếu nhìn vào những cô nhi ở Nhật Bản sau chiến tranh, hay những em bé ở các nước đang phát triển. Khi bị cuộc sống thúc bách, trẻ con có thể phát huy được năng lực vô cùng lớn, để sinh tồn một cách kiên cường với một sức sống còn vượt xa cả người lớn.

Lại nói, nếu nhìn vào những vận động viên đã đạt thành tích từ tuổi mười mấy như tuyển thủ golf Ishikawa Ryo, tuyển thủ trượt băng Asada Mao, hay tuyển thủ tennis Nishikori Kei, thì có thể rằng họ hoàn toàn không cho thấy một ấn tượng trẻ con nào. Vì sao mà phát ngôn của họ lại có thể chững chạc như người lớn đến vậy? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ ở trong một thế giới cạnh tranh nghiêm túc và do đó chẳng bao giờ được (bị) những người lớn xung quanh “đối xử như trẻ con” cả.

Hãy thử nghĩ về Nhật Bản ngày xưa mà xem. Trẻ em vừa tốt nghiệp tiểu học là đã lập tức ra xã hội làm việc. Ngay từ cái tuổi đầu mười những đứa trẻ ấy đã hoàn toàn đủ tư cách được coi là những thành viên có ích của xã hội.

Thêm vào đó, lễ “nguyên phục” (lễ trưởng thành) ngày xưa thường được tiến hành vào “khoảng từ 11 đến 17 tuổi”. Tuổi kết hôn đối với nam là từ 17 đến 20 tuổi, nữ là từ 13 đến 15 tuổi. Thế tức là trong xã hội ngày xưa chỉ cần trên 10 tuổi là được đối xử như người lớn rồi.

Nhưng đến ngày nay thì sao? Tuổi tương ứng với lễ nguyên phục là 20 tuổi. Cho đến khi ra khỏi trường đại học và bắt đầu đi làm, thì ngay đến cả một thanh niên râu ria xồm xoàm cũng vẫn bị xã hội “đối xử như trẻ con”.

Vì vậy mà tôi mới nghĩ rằng, cái đang cướp đi năng lực tiềm tàng của trẻ em chẳng phải chính là cha mẹ và trường học hay sao? Chúng ta đang dùng những lý lẽ như “vì các con vẫn còn là trẻ con”, “trẻ con thì im lặng mà nghe lời đi”, “cái đấy đợi đến khi nào con lớn rồi hẵng nghĩ tới” để mà cướp đoạt đi từ các con “năng lực tự mình suy nghĩ và lựa chọn”. Ấy thế nhưng mà trong lúc đó trẻ con vẫn bị người lớn nói những câu như “giới trẻ bây giờ chẳng biết tự lập là gì”, “toàn chỉ biết đợi lệnh chứ chẳng chịu tự suy nghĩ gì cả”. Đối với những đứa trẻ, thì quả đó là một điều bất công.

Ở trường Tokyo Sudbury School, học sinh không bao giờ bị những người xung quanh bắt ép phải học hành cả. Trường cũng chẳng có giờ học thể dục hay âm nhạc gì hết. Các em học sinh được có “tự do” làm những điều mình thích.

Thế nhưng, cái “tự do” ấy rất khác với cái “tự do” mà các em học sinh ở những trường học bình thường có được trong giờ nghỉ giải lao. Cái “tự do” ấy là cái “tự do” có kèm theo “trách nhiệm”, cũng tức là thứ “tự do” của người lớn.

Trong trường Sudbury không hề có giờ học toán hay quốc ngữ. Do đó, những học sinh không học thì dù có lớn đến đâu cũng không biết tính toán hay đọc viết.

Nếu các em cảm thấy “không biết tính toán thì không được”, thì các em có thể bắt đầu học toán. Nếu các em cảm thấy “muốn đọc sách”, thì các em có thể bắt đầu học đọc học viết. Đó là cách suy nghĩ theo phong cách Sudbury. Nó có nghĩa là các em phải tự suy nghĩ xem việc học có thực sự cần thiết cho mình hay không.

Nếu chỉ nhìn qua thì việc “làm gì cũng được” có vẻ như là đang nuông chiều các em, nhưng thực tế nhìn từ góc độ mỗi em đều phải tự chịu hoàn toàn trách nhiệm về tương lai của bản thân, thì có thể nói rằng đó là một phương pháp giáo dục hết sức “nghiêm khắc”.

Và cá nhân tôi muốn tin tưởng vào năng lực mà con tôi sẽ có được trong một môi trường như vậy. Đó chính là “năng lực phân biệt” được đâu là cái cần thiết cho mình và đâu là không, là “năng lực chịu trách nhiệm” đối với những lựa chọn dựa trên sự đánh giá của bản thân.

Trong xã hội ngày càng biến chuyển mạnh mẽ sắp tới, tôi tin rằng chính cái “năng lực tự mình đánh giá và quyết định mọi việc” ấy mới là điều quan trọng nhất.

Việc trẻ em tự lựa chọn con đường đời cho riêng mình dựa trên sự đánh giá của bản thân sẽ dẫn tới một tương lai như thế nào cho các em, ấy là điều chẳng ai có thể biết được.

Thế nhưng, một điều có thể chắc chắn nói được, đó là dù tương lai đang chờ đợi các em có là như thế nào chăng nữa, thì đó cũng là thứ mà chính bản thân các em đã lựa chọn. Và những đứa trẻ của chúng ta chắc chắn sẽ giang rộng vai đón nhận trách nhiệm đối với kết quả của sự lựa chọn ấy.

Từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, tôi đã tự mình đưa ra một quyết tâm. Ấy là việc ngừng suy nghĩ xem “cái gì mới là hạnh phúc cho con”. Và kèm theo đó là việc giao toàn bộ cuộc đời của con cho bản thân con. Làm như vậy, chắc chắn con sẽ có thể xây dựng nên được một “năng lực tự mình đánh giá, tự mình quyết định cuộc đời” và trưởng thành đến mức khiến cho bản thân tôi cũng không nhận ra được nữa.

Có dũng khí để mà chấp nhận cho con có một cuộc sống tự lập. Tôi nghĩ đó chính là “mô hình giáo dục Sudbury”.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【子どもにまかせて大丈夫?】

「サドベリー教育」が最も大切にしていることは、子どもを親とは独立した一個の人間として認めることであるということを前回書きました。それはつまり「子どもを100%信頼し、すべての選択を子どもの判断に委ねる」ということです。

たとえば東京サドベリースクールに入学するときは、たとえ小学校に上がる前の子でも、その子の意志がなにより尊重されます。親は子を「サドベリースクールに入れる」のではなく、「子がサドベリースクールを選んで入る」のを承認する形になるのです。 

また、スクールに通うようになってからも、サドベリーには授業がないので、子どもたちは自分の好きなことだけをします。誰からも「こうしなさい」とか「こうした方がいいよ」と指図されることはありません。学校で何をして過ごすかは、すべて子どもたちの自由意志に委ねられます。

そして、ここで常に問題になるのが、「子どもにすべての選択を任せて大丈夫か」ということです。

確かに子どもには未熟なところがあります。経験や知識も少ないし、客観的な視野に立って物事を冷静に判断することは苦手かもしれません。そんな“頼りない”子どもに、「すべての選択を任せて大丈夫?」と心配になる親の気持ちはよく分かります。

でも、それでも、私はあえて子どもの力を信じたいと思います。彼らには大人と同等の判断力があり、自分の人生を自分で選び取る能力があると思います。

なぜそう思えるのか。それは、大人が「子ども扱いすること」が、かえって「子どもを子どもの中に閉じ込めている」のではないかと考えるからです。

子どもは本来、小さなうちから物事を判断し自分の人生を選び取ってく力を有していると思います。その力を奪い、子どもをいつまでも“頼りない”存在にしているのは、周囲にいる大人たちの「子ども扱い」なのではないでしょうか。

たとえば、戦後の日本の孤児たちや、途上国の子どもたちを見ていると分かります。必要に迫られると、子どもはとてつもない能力を発揮し、大人顔負けの生命力で、逞しく生き抜いていくものです。

また、ゴルフの石川遼やスケートの浅田真央、テニスの錦織圭など、10代で活躍した選手たちを見ていると、まったく子供っぽい印象がありません。なぜ彼らの発言は大人びていて、立派なのでしょう。それはたぶん周囲にいる大人が勝負の世界に生きる彼らを「子ども扱い」しないからだと思います。

そして、もうひとつ「子どもを子どもの中に閉じ込めている」ものが現代にはあります。それは学校教育です。学校が子どもを必要以上に「子ども扱い」するために、卒業して社会に出るまで、子どもは大人になることを自らやめてしまうのです。

昔の日本を考えてみてください。子どもは小学校を出たら、すぐに社会に出て働いていました。10代で彼らは十分に実社会で役立つ即戦力になっていたのです。

また、かつての「元服」の年齢は「11歳から17歳の間」だったそうです。結婚する年齢も、平安時代は男性で17歳~20歳ぐらい、女性で13歳~15歳ぐらい。10歳を超えれば、昔の社会ではすっかり大人扱いされていたわけです。

それが今ではどうでしょう。元服にあたる成人式は20歳。大学を出て会社に就職するまでは、ヒゲの生えた立派な青年でも社会は「子ども扱い」をします。

私は思います。子どもの潜在能力を奪っているのは、むしろ親や学校なのではないかと。「あなたはまだ子どもだから」「子どもは黙って聞いていなさい」「それは大人になってから考えることよ」などと言い、子どもから「自ら考え、選択する力」を奪っているのです。それでいて、「今の子は自立していない」「指示待ちばかりで自分で考える力がない」などと言われるのですから、子どもにとってはいい迷惑です。

東京サドベリースクールでは、周囲から強制的に勉強させられることはありません。体育や音楽の授業もありません。子どもには好きなことをやっていい「自由」が与えられます。

でも、この「自由」は一般の学校にある休み時間の「自由」とは違います。それは自らに「責任」が伴う大人としての「自由」なのです。

スクールには算数や国語の授業がありません。なので、勉強しない子はいくつになっても計算や読み書きができません。

「計算できないのはいやだ」と思えば算数を勉強すればいい。「本が読みたい」と思えば読み書きを勉強すればいい。これがサドベリー流の考え方です。勉強が自分にとって必要かどうかは自分で考えなさいということです。

一見「何をやってもいい」と甘やかしているように見えますが、自分の将来に完全に責任を負わなければいけないという点において、非常に「厳しい」教育といえるのです。

このような環境で子どもに身につく力を、私は信じたいと思います。それは自分にとって必要なものとそうでないものを「見分ける力」であり、自分の判断において選んだことに対して「責任を持つ力」です。

変化の激しいこれからの社会においては、まさにこのような「自分で物事を判断し、決めていける力」がものを言うようになってくると思います。

自分の判断において子どもが自ら選択し、歩んでいった人生の先に、どのような未来が待っているのか、それは誰にも分かりません。

でも、ひとつ言えるのは、どんな未来が待っていようと、それは子ども自身が選び取ったものだということ。その結果に対して、子どもは胸を張って責任を取ることでしょう。

息子が東京サドベリースクールに通うようになって、私はひとつの決断をしました。それは「子どもにとって何が幸せか」を考えることをやめること。そして、息子の人生をそっくり彼に手渡してあげること。そうすることで、子どもは見違えるほど、「自分で判断」し、「自らの人生を決めていく力」を獲得していくはずです。

勇気をもって、子どもの独立した人生を認めること、それが「サドベリー教育」だと私は思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Phụ huynh Sudbury: Không học có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Kể từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, trong trí óc của tôi “giáo dục là gì” đã trở thành một đề tài suy nghĩ thường xuyên.

“Tại sao trẻ con lại phải đến trường?”. “Tại sao lại phải học hành?”.

Đó là những vấn đề quá sức cơ bản, đến mức tôi chưa từng bao giờ suy nghĩ tới trước đó.

Và tôi cũng bắt đầu suy nghĩ thực sự nghiêm túc về câu hỏi rằng liệu con mình “không học có ổn không?”. Việc vứt bỏ nền “giáo dục nghĩa vụ” để vào một ngôi trường không có giờ học cũng không có giáo viên liệu có phải là một sự đánh cược quá liều lĩnh hay không?

Chắc hẳn rất nhiều bậc phu huynh Sudbury trước khi cho con đến trường cũng đều đã rất trăn trở với vấn đề này. “Vào trường Sudbury để được tự do cũng tốt thôi, nhưng nhỡ mà con lại ham mê điện tử thì biết làm sao đây…”. “Trường Sudbury chưa được Bộ Văn Giáo công nhận, nên chỉ có thể lấy đưPreviewợc bằng tốt nghiệp cấp 2. Chỉ có bằng cấp 2 thôi thì có sống nổi trong xã hội không…”.

Tất nhiên không chỉ có những điều tiêu cực, mà cũng xuất hiện cả những suy nghĩ tích cực nữa. “Nếu như có thể trải qua thời gian học đường một cách thoải mái trong môi trường tự do của Sudbury, thì chắc chắn con trai mình sẽ có thể tìm thấy điều nó thích làm và theo đuổi mơ ước của bản thân…”. “Chắc chắn con sẽ có được những kinh nghiệm không thể có được ở những trường bình thường khác, và trở nên một đứa trẻ tuyệt vời có suy nghĩ tự lập…”. Rất nhiều suy nghĩ khác nhau đã được sinh ra từ một câu hỏi “không học có ổn không?”. Và tôi đã tưởng tượng ra đủ mọi kịch bản khác nhau về tương lai của con để mà lo lắng, để mà yên tâm.

Thế nhưng, đến một lúc nào đó, bỗng nhiên tôi nhận ra một điều. Vốn dĩ việc suy nghĩ những chuyện như vậy, bản thân nó đã chẳng phải là vô nghĩa lắm sao? Cái chuyện “không học có ổn không?” ấy, có suy nghĩ bao nhiêu cũng sẽ chẳng bao giờ biết được. Nếu có ai đó lo lắng rằng “không học có ổn không?”, thì ta cũng có thể hỏi một câu ngược lại rằng “cứ học là sẽ ổn ư?”. Chỉ cần học giỏi ở trường, vào được một trường đại học danh tiếng, vào được một công ty danh tiếng, như vậy là cuộc đời sẽ ổn ư?

Khi suy nghĩ như vậy ta có thể thấy được phần nào bản chất của sự việc. Dù có vào trường Sudbury hay không, thì chuyện tương lai có ổn hay không vẫn là điều chẳng ai biết được.

Đến đây, trong đầu tôi lại hiện lên một câu hỏi khác. “Ơ? Thế bản thân mình cuối cùng là đang kỳ vọng điều gì ở trường Sudbury vậy?”. Phải chăng ở đâu đó trong tâm, tôi đang nghĩ rằng “nếu con vào trường Sudbury thì biết đâu đấy sẽ có thể trở thành một con người tuyệt vời”?

Một ngôi trường tự do, một ngôi trường có thể được sống như mình vốn thế. Nếu được ở trong một ngôi trường như vậy, biết đâu đấy con sẽ trở thành một con người có cá tính và phóng khoáng hơn những đứa trẻ đi học ở những ngôi trường bình thường với những giáo trình buồn chán khác…

Nhưng tôi cho là những suy nghĩ như vậy vẫn có phần sai lầm. Nó là lối tư duy có phần giống với cách suy nghĩ “học ở trường tư lập danh tiếng thì sẽ vào được trường đại học tốt” vậy.

Trường học không phải là một cái lò vi sóng. Không có chuyện cho trẻ con vào, bấm nút một cái là ra một đứa trẻ tuyệt vời. Bất cứ trường học nào cũng vậy mà thôi. Trường Sudbury cũng vậy mà trường học thường cũng vậy, đứa trẻ nào phát triển thì sẽ phát triển, mà đứa trẻ nào không phát triển thì sẽ không phát triển.

Mà không, chính ngay cái sự trông đợi rằng trẻ con sẽ “phát triển” cũng rất có thể đã là một sai lầm.

Tại sao chúng ta lại không được trông đợi vào con cái? Như tôi đã viết trong lần trước, đó là vì “con cái và cha mẹ nên có một mối quan hệ bình đẳng”. Việc trông đợi sự đáp ứng kỳ vọng từ một con người bình đẳng với mình, dù cho có là giữa cha mẹ và con cái đi nữa, chẳng phải là một việc hơi thiếu tôn trọng sao?

Chẳng hạn nếu như chúng ta bị con cái kỳ vọng rằng “con muốn bố trở thành một người hoàn hảo hơn chút nữa”, hay “bố mà thành người giàu có thì có phải thích không”, thì chúng ta sẽ cảm thấy thế nào? Việc bị người khác đặt kỳ vọng có thực là một việc đáng vui mừng không? Cá nhân tôi thì thấy đó là một hành vi gây phiền phức.

Điều đó cũng đúng trong trường hợp của trẻ con. Những kỳ vọng của cha mẹ như “muốn con thành người cứng cáp”, “muốn con thành người có cá tính”, “muốn con theo đuổi ước mơ” chẳng phải cũng đều là những việc không cần thiết hay sao? Nhìn từ phía con cái, việc chúng cảm thấy “bố mẹ ồn ào quá, để cho con được yên” cũng là chuyện dễ hiểu mà thôi.

Cứ như vậy mà tôi trở nên suy nghĩ rằng “không được kỳ vọng điều gì ở trường học cả”, “không được kỳ vọng điều gì ở con cái cả”, mặc dù cách nói đó có phần hơi cực đoan.

Con cái không phải là vật sở hữu của cha mẹ. Chúng là những con người độc lập. Và cuộc đời của con cái là của riêng chúng. Tuyệt nhiên đó không phải là thứ của cha mẹ.

Vậy cho nên, việc cha mẹ tự tiện kỳ vọng và lo lắng là việc làm gây phiền phức cho con cái. Chuyện “không học có ổn không” không phải là việc của cha mẹ, mà phải là vấn đề để cho con cái tự suy nghĩ lấy.

Nghĩ đến đó, tôi bỗng chợt nhận ra một điều. “À ra vậy, chân túy của giáo dục Sudbury chính là nằm ở đây chăng”.

Ấy chính là việc chấp nhận con cái như một con người độc lập hoàn toàn tách khỏi cha mẹ. Ấy chính là việc giao toàn quyền quyết định cuộc đời của con cái cho các con. Cái sự “giác ngộ tinh thần” ấy chẳng phải là điều rất quan trọng đối với một phụ huynh trường Sudbury hay sao?

Việc giao toàn quyền cho con cái cũng chính là việc “tin tưởng 100% ở con cái”. Việc có học hay không, có chơi điện tử hay không, có đọc sách hay không không phải là việc cha mẹ suy nghĩ, mà là việc để cho con cái quyết định.

Nói đến đây xong, trong hầu hết trường hợp sẽ có một câu hỏi quay ngược trở lại. “Trẻ con có khả năng quyết định đến mức ấy không?”. “Giao toàn quyền cho trẻ con liệu có ổn không?”.

Tôi thì nghĩ là sẽ ổn. Không chỉ thế mà thậm chí tôi còn nghĩ rằng chúng ta nên giao quyền quyết định cho con cái càng sớm càng tốt.

Lý do cho điều đó tôi xin được viết ra trong phần sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【勉強しなくて大丈夫?】

息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、私自身の中で、「教育とは何か」ということが一つのテーマとなりました。

「子どもはなぜ学校に通わなければならないのか?」「なぜ学ばなければならないのか?」

あまりにも基本的すぎて、一度も考えたことのなかった問題です。

そしてまた、自分の子が「勉強しなくて大丈夫か?」ということについても、真剣に考えるようになりました。「義務教育」を放棄して、授業もない、先生もいない学校に通うのは、あまりにもギャンブルすぎやしないかと。

恐らく多くのサドベリーの保護者が、スクールに子どもを入れる前に、この問題で悩まれたことでしょう。「サドベリーに入って、自由になるのはいいけれど、子どもがゲームにはまったらどうしよう……」「サドベリーは文科省から認可されていないので、中学卒業資格しか得られない。中卒の資格で社会に出て生きて行けるのだろうか……」

ネガティブなことばかりではなく、ポジティブなことも頭に浮かびます。「サドベリーの自由な環境の中でのびのび過ごせば、息子は自分の好きなことを見つけ、夢に向かって進んでくれるはずだ……」「普通の学校では得られない経験をして、自立した考えを持った素敵な子に育ってくれるに違いない……」「勉強しなくて大丈夫?」という問いからは、それはもういろんな考えが頭に浮かびました。子どもの将来についてさまざまなケースを想定し、心配してみたり、安心してみたりしたものです。

ところが、ある時、ふと気づいたのです。そもそも、こういうことを考えること自体、ナンセンスではないかと。「勉強しなくて大丈夫?」なんて、そんなことはいくら考えても分かりっこありません。「勉強しなくて大丈夫?」という心配があるのなら、逆に「勉強すれば大丈夫?」という反問もできます。学校で勉強して、一流の大学に行って、一流の会社に就職できれば、それで人生は大丈夫なのか……と。

こう考えると物事の本質が少し見えてきました。サドベリーに通おうが、普通の学校に通おうが、大丈夫か否かなんて誰にも分からないのです。

そう思ったところで、私の頭に疑問が浮かびました。「あれ? 自分は一体サドベリーに何を期待しているのだろう」と。心のどこかで、「子どもがサドベリーに通えばすばらしい人間に育つのでは」と思っていたのではないかと。

自由に、あるがままに生きられる学校。そんな学校で過ごせたら、退屈なカリキュラムのある普通の学校に通う子より、個性的で、のびやかな人間に育つのではないか……。

でも、こう考えるのも、たぶんちょっと違うのだと思います。それは「有名私立に通えれば、いい大学に入れる」と考えることと似たりよったりの思考回路かもしれません。

学校は電子レンジではありません。子どもを中に入れ、スイッチを押せば、立派な子に育つなんてことはありえません。どんな学校でも同じです。サドベリーだろうが、普通の学校だろうが、伸びる子は伸びるし、伸びない子は伸びないのです。

いや、そもそも子どもに“伸びる”ことを期待すること自体、間違っているかもしれない。

なぜ子どもに期待してはいけないか? それは前にも書きましたが、「子と親は対等な関係であるべきだ」と思うからです。対等な人間に対して何かを期待するなんて、親子の間でも少し失礼ではないでしょうか。

たとえば子どもから「パパはもう少し立派な人間になってほしいな」とか「お金持ちになってくれたら嬉しいな」なんて期待されたらどう思います? 人から期待を寄せられることってありがたいことですか? 私は迷惑なんじゃないかと思います。

子に対しても同じです。「逞しい子になってほしい」「個性的な子になってほしい」「夢に向かって生きてほしい」などと親が期待するのは、余計なことではないか。子どもとしては、「うるさい、ほっといてくれ」となって当然でしょう。

こうして私は、少々極端な言い方ですが、「学校に何かを期待してはいけない」「子どもに何かを期待してはいけない」と思うようになったのです。

子どもは親の所有物ではありません。独立した一個の人間です。そして、子どもの人生は子どものもの。決して親のものではありません。

だから、親が勝手に期待したり、心配したりするのは、子どもにとっていい迷惑なのです。「勉強しなくて大丈夫?」ということは、親ではなく、子ども自身が自分で考えるべき問題なのです。

そう思ったとき、ハッと気づきました。「なるほど、ここにサドベリー教育の真髄があるのか」と。

子どもを、親とは独立した一個の人間として認めること。子どもの人生を、子どもに完全に委ねること。その「覚悟」を持つことが、サドベリースクールの保護者にとって大切なことではないでしょうか。

子どもにすべてを委ねることは、「子どもを100%信じる」こと。勉強するかしないか、ゲームをするかしないか、本を読むか読まないかは、親が考えることではなく、子どもが考えることなのです。

と、このように言うと、たいていの場合、次のような質問が返ってきます。「子どもにそんな判断力があるのか?」「子どもにすべてを任せて大丈夫なのか?」

私は大丈夫だと思っています。というよりむしろ、なるべく早い時期から、すべての判断を子どもに任せた方がいいと思っています。

その理由については次回書くことにします。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Phụ huynh Sudbury: Giá trị dành cho các bậc cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bản dịch tiếng Việt

“Ở trường Tokyo Sudbury School không có giáo viên, cũng không có giờ học. Các em học sinh dành cả ngày ở trường để làm những điều mình thích”.

Các bậc phụ huynh tham gia vào buổi thuyết trình về trường trước khi cho con nhập học sẽ được nhân viên của trường giải thích những điều trên. Và hầu hết các bậc cha mẹ nghe đến đó đều lấy làm ngạc nhiên. Cả tôi và vợ cũng đều đã rất ngạc nhiên. Đến mức tôi đã thốt lên rằng “Trên đời này lại có trường học không giáo viên lẫn giờ học như thế này ư!”.

Và rồi tiếp sau sự kinh ngạc ấy là một suy nghĩ xuất hiện trong đầu, ấy là câu hỏi “trẻ con không học liệu có ổn không?”. Câu hỏi ấy là điều cho tới trước khi đó tôi vẫn chưa từng một lần nghĩ tới. Ấy là vì tôi vẫn luôn đinh ninh rằng “trẻ con là phải đến trường đi học” là một điều gì đó rất đương nhiên.

Cái sự mới mẻ ấy, cái sự đi trước thời đại ấy, hay cũng có thể nói là cái sự quá khích ấy, cái phương châm giáo dục phá tan mọi thường thức cố hữu ấy của mô hình giáo dục Sudbury đã khiến cho tôi hoàn toàn bị bất ngờ.

Và từ đó bắt đầu chuỗi ngày vắt óc suy tư của một người cha. Tôi đã suy nghĩ một cách hết sức nghiêm túc và tha thiết về câu hỏi liệu rằng đứa con của mình “không học có làm sao không? có thực sự sẽ ổn không?”.

Nhân viên của trường đều hết sức nhiệt tình giải thích về “triết lý giáo dục” của mô hình trường Sudbury. Trong sách của Daniel, người sáng lập ra trường Sudbury gốc ở Boston cũng có viết rất nhiều điều tuyệt vời.

Chẳng hạn như việc “dìm trẻ em vào biển buồn chán”.

Người ta nói rằng những đứa trẻ sau khi vào trường Sudbury và có được tự do, ban đầu thường lao vào trò chơi điện tử hay những trò chơi khác, nhưng dần dần chúng trở nên buồn chán, và bắt đầu quay lại đối diện với chính mình. Từ đó, chúng tìm ra điều mà mình thực sự muốn làm, và bước một bước đầu tiên trên con đường đời của bản thân.

Khi nghe lời thuyết trình ấy, một mặt tôi vừa gật gù “à ra thế, thật là tuyệt diệu”, nhưng một mặt tôi cũng không khỏi đặt ra nghi vấn rằng “liệu con của mình có trở nên được như thế hay không?”.

Phía trường thì đưa ra nhiều câu chuyện thực tế để thuyết trình. Trong đó có câu chuyện về một cô bé ham thích nấu ăn, suốt ngày chỉ đứng ở trong bếp, và sau khi tốt nghiệp đã đi làm tại một hiệu bánh. Lại có cả câu chuyện về một cậu bé sau một thời gian tự mình mày mò với máy vi tính đã trở nên thông thạo hơn cả người lớn… Rồi trên trang chủ của một trường Sudbury khác lại có câu chuyện về “một em học sinh đã tự học và hoàn thành nội dung học tập của trường cấp 2 cấp 3 trong một thời gian ngắn”. Thêm vào đó, những em học sinh xuất hiện trong buổi thuyết trình dường như cũng chững chạc hơn nhiều so với tuổi và đều có những suy nghĩ của riêng mình.

Những “ví dụ thành công” ấy đều rất tuyệt vời, và trong đầu tôi cũng hiểu được “cái tốt” mà chúng nói đến, nhưng nếu hỏi rằng tôi có thực sự tán thành được từ tận đáy lòng hay không, thì lại không hề đơn giản như vậy. “Có thực sự là tất cả mọi đứa trẻ đều sẽ được như vậy không?”. “Có khi nào phía trường chỉ đem những trường hợp thành công ra để giới thiệu chăng?”. “Biết đâu trong số đó lại chẳng có những đứa trẻ thất bại?”. Những nghi vấn như vậy vẫn tiếp tục xuất hiện trong tôi.

Đến bây giờ thì tôi đã nhận ra rằng chính bản thân việc suy nghĩ về “kết quả trong tương lai” ấy là một sự sai lầm. Nhưng tại thời điểm đó, nỗi bất an rằng “cho con vào trường này rồi sẽ ra sao” đã vượt lên trên hết và khiến cho tôi cứ luôn chỉ nghĩ đến những chuyện xa xôi ấy.

Ấy nhưng cũng phải nói rằng, đấy chẳng phải là chuyện đương nhiên đối với những người làm cha làm mẹ hay sao? Đã là cha mẹ thì chuyện yêu thương con là điều hiển nhiên. Học sinh có thành người thế nào đi nữa thì trường học cũng chẳng chịu trách nhiệm, nhưng cha mẹ thì lại phải gánh vác 100% trách nhiệm đối với đứa con của mình.

Trường học và cha mẹ vốn dĩ lập trường đã khác nhau. Trường học chỉ nói chuyện một cách chung chung. Còn cha mẹ thì lại nghĩ về một trường hợp cụ thể là “con mình”. Bởi vậy nên dù phía trường có đem bao nhiêu “ví dụ thành công” ra đi nữa, thì đứng từ phía các bậc cha mẹ việc không thể dễ dàng chấp nhận những điều ấy cũng là chuyện đương nhiên.

Câu hỏi “không học có sao không” vẫn theo đuổi tôi kể cả sau khi con đã bắt đầu đến trường Sudbury. Nó trở thành vấn đề được quan tâm nhiều nhất giữa vợ chồng tôi, và tôi cũng đã không biết bao nhiêu lần bàn bạc với vợ về đề tài này (đôi khi là cả cãi cọ nữa).

Và rồi, phải mãi về sau tôi mới nhận ra rằng, việc vợ chồng chúng tôi hướng về tương lai của con, suy nghĩ và trao đổi một nghiêm túc, thực ra cũng chính là một trong những “giá trị của mô hình giáo dục Sudbury” đối với các bậc phụ huynh.

Nếu giả như con trai tôi đi học một trường công lập hay tư lập nào đó, thì liệu vợ chồng tôi có suy nghĩ về con một cách nghiêm túc đến mức này không? Liệu chúng tôi có trăn trở về tương lai của con hay không? Chính câu hỏi “không học có sao không” bắt nguồn từ sự lạ đời của mô hình giáo dục “không giờ học, không giáo viên” đã khiến cho chúng tôi mở to mắt mà hướng đến đứa con của mình.

Thực tế khi nói chuyện với những phụ huynh khác của trường Sudbury School, tôi phải nhận thấy rằng rất nhiều người trong số họ suy nghĩ hết sức nghiêm túc về con cái mình. Đó có lẽ là vì họ cần phải suy nghĩ sâu sắc về cả những điều mà các bậc cha mẹ có con đi học trường bình thường chẳng bao giờ cần nghĩ tới.

Einstein đã từng nói rằng, “thường thức là tập hợp những thiên kiến mà con người thu thập được cho đến tuổi 18”. Thường thức là thứ cũng có mặt quan trọng đối với xã hội, nhưng cũng có khi nó lại dồn trí não con người ta đến mức tê liệt tư duy. Chính cái sự “phi thường thức” của mô hình giáo dục Sudbury đã giúp cho chúng tôi phá bỏ được gông xích của thường thức mình tự mang lên người, và đẩy chúng tôi ra với tự do của tư tưởng.

Để trăn trở, suy nghĩ, và tự tìm ra câu trả lời của chính mình trong tự do.

Không chỉ đối với học sinh, mà cả đối với các bậc phụ huynh, mô hình giáo dục Sudbury cũng cho chúng ta cơ hội để đối diện với chính mình.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【保護者にとっての価値】

「東京サドベリースクールには、先生いません。授業がありません。生徒たちは一日中、学校で好きなことをやって過ごしています」

入学する前、スクールの説明会に参加すると、保護者はスタッフからこのような話を聞かされます。そして、ここでたいていの親御さんが驚かれます。私と家内も驚きました。「先生も授業もない、こんな学校が世にあるのか!」とびっくり仰天したものです。

そして、驚きの次に頭に浮かんだのが、「子どもが勉強しなくて大丈夫か?」という疑問でした。こんなことは、それまで一度も考えたことがありません。なぜなら、「子どもは学校に行って勉強するもの」と当たり前のように思っていたからです。

サドベリー教育の斬新さというか、先見性というか、あるいは過激さというか、いままでの常識をすべて覆してしまうような教育方針に、まったくもって面食らいました。

そして、ここから親としての苦悩が始まりました。真剣に、切に、自分の子が「勉強しなくていいのか? 本当に大丈夫か?」と考えるようになったのです。

スクールのスタッフは熱心にサドベリースクールの「教育理念」を語ります。ボストンサドベリーを立ち上げたダニエルさんの本にもすばらしいことがいっぱい書いてあります。

たとえば、子どもをどっぷりと「退屈の海」に浸けるという話。

サドベリースクールに入って自由を得た子たちは、はじめは嬉しくてゲームをしたり、遊んだりするのですが、やがて退屈するようになり、自分と向き合うようになるそうです。そして、自分のやりたいことを見つけ、人生の第一歩を踏み出すというのです。

この説明に「なるほど、すばらしい!」と頷く一方で、どこかに「我が子は果たしてそうなるのか?」と疑っている自分がいました。

学校はいろんな事例を挙げて説明してくれます。お料理をするのが好きで、いつもキッチンに立っていた女の子が、卒業後にケーキ屋さんに就職したという話。自分でパソコンをいじりだすうちに、大人顔負けにパソコンに詳しくなった子の話……。そして、別のサドベリースクールのホームページには「自ら勉強し、中学・高校の数学の学習を短期間で終えてしまった子」の話が載っていました。また、説明会に出てくる子たちも年齢の割にしっかりしていて、自分の意見を持っているように見えました。

こういった「成功例」はどれもすばらしく、頭では“良さ”が理解できるのですが、しかし心の底から頷けるかというと、そう簡単にはいきません。「本当にみんなそうなるの?」「学校はうまく行ったケースだけを選んで紹介しているんじゃないの?」「中にはダメになった子もいるのでは?」という疑念が湧いてしまうのです。

今となってはこのように「先の結果」を考えること自体が間違いだということに気づいていますが、しかし、当初は「この学校に子どもを入れてどうなるんだ」という不安が先行し、どうしても先のことばかりを考えてしまいました。

いや、しかし、人の親としてこれは当然のことではないでしょうか。親であれば子が可愛いのは当たり前。学校は子どもがどうなっても責任を負いませんが、親は自分の子に100%責任を負わねばなりません。

学校と親とではそもそも立場が違います。学校はあくまでも一般論でしか物事を語りまませんが、親は「我が子」という個別のケースで物事を考えます。だから、学校がいくら「成功例」を出してきても、親としてそれを鵜呑みにできないのは当然の話です。

この「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけは、子どもがサドベリーに通うようになってからも、しばらく私の中で続きました。この問題は私たち夫婦の間で最大の関心事となり、何度も妻と話し合いました(ときには口論にもなりました)。

そして、これはかなり後になって気づいたことですが、このように夫婦で子どもの将来と向き合い、真剣に話し、考えること自体が、実は保護者にとっての「サドベリー教育の価値」のひとつだったのです。

もし仮に息子が公立の学校に通っていたら、あるいは私立の中学に通っていたら、私たち夫婦はこんなにも真剣に子どものことを考えたでしょうか。彼の将来について悩んだでしょうか。「授業がない、先生がいない」という教育の非常識から生まれた「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけが、私たちの目をグッと見開かせ、子どもの方に向けさせたのです。

実際にサドベリースクールの保護者たちと話してみると、多くの方がとても真剣に子どものことについて考えていることに気づかされます。普通の学校の保護者であれば考える必要のないことにまで、深く考えを及ばせる必要が出てくるからでしょう。

アインシュタインがこんなことを言っています。「常識とは18才までに身に付けた偏見のコレクションのことをいう」と。常識は社会にとって大切な面もありますが、ときとして人間の頭を思考停止に追い込みます。サドベリー教育の「非常識」は、私たちをがんじがらめにしている常識の鎖を裁ち切り、自由な思考の中へと解き放ってくれるのです。

自由の中で、悩み、考え、自分なりの答えを見いだしていく。

生徒だけでなく、保護者にとっても、サドベリー教育は自分と向き合う機会を提供してくれるのです。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Phụ huynh Sudbury: Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Tiếp tục mạch bài viết của một bậc phụ huynh người Nhật có con theo học mô hình giáo dục tự do Sudbury, trong lần này tôi xin được đăng nội dung phần thứ ba trong chuỗi bài này (phần 2 đã đăng, phần 1 xin bỏ qua). Tuy rằng lý luận của người viết dùng để nói lên việc cha mẹ không còn quyền uy với con cái chưa hẳn là đã đủ sự chặt chẽ và tính thuyết phục, nhưng bản thân đề tài cha mẹ có thực sự có quyền uy và quyền hạn đối với con cái hay không vẫn là một đề tài đáng để suy ngẫm.


Bản dịch tiếng Việt

Trong lần trước, ở bài phát biểu thứ hai, tôi đã viết rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ”. Lý do cho điều ấy là vì cha mẹ cũng giống như con cái, đều là những người còn thiếu hiểu biết. Nhưng thực ra tôi nghĩ trong thời đại ngày nay còn có một lý do nữa cho việc cha mẹ và con cái cần phải có mối quan hệ bình đẳng với nhau. Đó là “sự đánh mất quyền uy của cha mẹ”.

Cái từ “đánh mất” viết ra thì nghe có vẻ như một điều gì đó tiêu cực, nhưng thực sự thì cũng không hẳn là như vậy, mà nó chỉ là một phần trong dòng chảy hoàn toàn tự nhiên của thời đại mà thôi. Vấn đề này sẽ hơi có vẻ lý luận cao siêu, nhưng tôi vẫn muốn sắp xếp lại suy nghĩ của mình cho mạch lạc và viết ra ở đây.

Trước hết tôi sẽ nói về bản chất của cái gọi là “quyền uy”. Khi thử tra cứu trong từ điển, thì tôi thấy rằng từ “quyền uy” có hai ý nghĩa. Đó là “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng”, và “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó”. Quả không hổ danh từ điển, nói rất trúng cái cốt lõi.

Hình tượng lý tưởng về “bậc phụ mẫu” thời xưa đúng là có đầy đủ cả hai yếu tố này. Cha mẹ là những người cái gì cũng biết, vừa tài giỏi đáng kính, lại vừa có đôi chút đáng sợ, và phận con cái là nhất mực phải làm theo những lời nói của cha mẹ.

Điểm quan trọng ở đây nằm ở cụm từ “được công nhận rộng rãi”. Đúng vậy, “quyền uy” là thứ chỉ tồn tại khi có được sự công nhận của số đông. Một người có tự một mình tỏ ra oai vệ thì cũng không thể coi là có “quyền uy” được.

Và quả thực trong xã hội Nhật Bản thời xưa đã từng tồn tại một “không khí” chung là công nhận “quyền uy” của cha mẹ. Toàn thể xã hội khi đó đều công nhận rằng cha mẹ là những người “tài giỏi” “đáng kính”, và điều đó làm nên cột chống cho cái “quyền uy” của các bậc cha mẹ. Chính vì thế mà cha mẹ đã từng có thể chi phối, ra lệnh và mắng mỏ con cái.

Ấy thế nhưng, cái “quyền uy” ấy của cha mẹ trong thời đại ngày nay lại đang bị lung lay một cách mạnh mẽ. Lý do rất đơn giản, đó là vì xã hội đã không còn cần thiết phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa.

Tại sao lại không cần phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa? Ấy là vì xã hội đã mất đi “tính kế thừa”. “Tính kế thừa” ở đây là sự tiếp nối và truyền lại những gì có từ xa xưa. Đó là việc tiếp thu văn hóa, phong tục, trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm, kỹ thuật, giá trị quan từ thế hệ trước và lưu truyền lại cho các thế hệ đi sau.

Trong những thời đại mà tính kế thừa vẫn còn được duy trì đầy đủ, thì đối với con cái mà nói cha mẹ là đối tượng cần phải tôn kính. Chẳng hạn chúng ta hãy thử tưởng tượng về một gia đình nông dân ngày trước. Khi đó, trong mắt con cái cha mẹ là người được kính trọng một cách vô điều kiện. Đó là vì cha mẹ là người nắm giữ tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ, tri thức cần thiết cho việc nông gia. Do đó, đối với con cái thì cha mẹ là đối tượng cần phải học hỏi, và do đó là những nhân vật xứng đáng nhận được sự tôn kính.

Nói cách khác, các bậc cha mẹ ngày xưa là những người xứng với mô tả “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó” trong định nghĩa về “quyền uy” của từ điển. Và vì thế “quyền uy” của cha mẹ là điều tất nhiên sẽ được đảm bảo.

Ngược lại, hãy thử nhìn xem xã hội ngày nay thì sao? Liệu đó có phải là một xã hội mà những trí tuệ và kinh nghiệm cổ xưa vẫn còn được truyền lại hay không? Thời đại ngày nay là thời đại mà điện thoại bàn thì biến thành điện thoại di động, điện thoại di động lại biến thành điện thoại thông minh, thư viết tay thì trở thành thư điện tử, rồi thư điện tử lại phát triển thành tin nhắn. Trong một thời đại mà những kỹ thuật mới liên tiếp được sinh ra, cơ chế cũng thay đổi, chế độ cũng thay đổi, các thường thức và giá trị quan cũng không ngừng đảo lộn, thì việc nắm giữ những trí tuệ và kinh nghiệm của môt thời xa xưa có thực sự là thứ đáng được “tôn kính” nữa hay không?

Câu trả lời là “không”. Trong một xã hội đã mất đi “tính kế thừa”, thì con người ta sẽ rất khó có thể duy trì được “quyền uy” chỉ dựa vào tuổi tác. Thời đại ngày nay đã không còn là thời đại mà chỉ cần có kinh nghiệm sống trước đã là “tài giỏi”.

Ở đây tôi tuyệt không có ý nói rằng chúng ta có quyền coi thường cha mẹ hay những người cao tuổi. Tôi chỉ nói rằng việc duy trì “quyền uy” thuần túy bằng tuổi tác là điều khó khăn mà thôi.

Nếu một người đã mất đi quyền uy mà vẫn cứ tỏ ra khệnh khạng thì sẽ như thế nào? Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về một vị lãnh đạo đã bị sa thải.

Giả dụ ở một công ty kia có một vị lãnh đạo rất mực quyền uy và hổ báo. Mỗi khi có việc gì không vừa ý ông ta đều sẵn sàng nổi trận lôi đình, nên cấp dưới ai cũng sợ hãi mà không dám trái lời.

Tại sao lại không dám trái lời? Ấy là vì tổ chức, mà cụ thể ở đây là công ty, đã trao “quyền uy” cho ông ta. Vì vậy mà dù cho những gì ông ta nói ra có đôi chút vô lý, thì cũng không có ai dám phản đối cả.

Tuy nhiên, giả sử rằng vào một ngày đẹp giời vì một lý do nào đó mà vị lãnh đạo kia bị đuổi việc. Khi đó, sẽ chẳng cần bất cứ thứ gì chống đỡ cho “quyền uy”  của ông ta nữa. Vậy thì vị lãnh đạo ấy sẽ trở nên thế nào đây? Liệu ông ta còn có thể lên mặt ra oai với cấp dưới như trước nữa không?

Hiển nhiên là không. Một người một khi đã đánh mất “quyền uy”, thì cũng tức là đã đánh mất cái “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng“. Đây là điểm rất quan trọng khi suy nghĩ về hình tượng cha mẹ lý tưởng trong thời đại ngày nay. Việc các bậc cha mẹ đã mất đi “quyền uy” mà lại cứ muốn ra lệnh và chi phối con cái chẳng khác nào việc một vị lãnh đạo đã bị công ty sa thải mà lại muốn ra lệnh cho những người từng là cấp dưới của mình. Những người như vậy sẽ chẳng có ai buồn nghe theo cả.

Lý do thứ hai khiến tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng” chính là những điều đã viết ở trên.

Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa như đã nói ở trên, thì vai trò của cha mẹ cũng thay đổi rất nhiều so với trước. Việc truyền thụ lại kinh nghiệm và trí tuệ của bản thân cho con cái đã không còn là việc của cha mẹ nữa. Còn việc áp đặt giá trị quan và suy nghĩ của mình lên con thì tôi cho là càng không thể chấp nhận được.

Tất nhiên, cha mẹ là người có kinh nghiệm hơn con cái, nên việc đưa ra lời khuyên là hoàn toàn có thể. Việc chỉ ra điều gì là tốt nhất và luyện tập các thói quen cho con cũng là điều quan trọng. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng kể cả khi đó, dù cho cha mẹ có thể nói với con rằng “con nên làm thế này hơn”, thì cũng không thể ra lệnh cho con rằng “con phải làm cái này đi”. Đó là vì cha mẹ không phải là người nắm quyền chi phối con cái. “Vai trò của cha mẹ” ngày nay đã thay đổi so với trước đây. Việc ý thức được sự biến đổi ấy rất có thể là điều quan trọng nhất đối với các bậc cha mẹ ở thời điểm hiện tại.

Con cái là một thực thể độc lập tách biệt khỏi cha mẹ, và không còn cần phải tiếp nhận kinh nghiệm và tri thức từ cha mẹ để sống như thời xưa nữa. Trong xã hội biến đổi đến chóng mặt như ngày nay, con cái cần phải tự mở ra cuộc đời mình bằng chính sức của bản thân và bước đi trên một con đường khác biệt với cha mẹ.

Và ở thời đại đổi thay nhanh chóng này, tôi cho rằng vai trò của trường học cũng đang có sự biến đổi. Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa, những trường học cố bám lấy các giáo trình cũ kỹ “vững như bàn thạch” để giáo dục học sinh cũng đang dần mất đi “quyền uy” tương tự như các bậc cha mẹ.

Trường học cũng cần phải ý thức được sự đổi thay của thời đại và xã hội.  Đó cũng chính là lý do mà gia đình tôi đã cùng ngồi lại bàn bạc với con và cuối cùng quyết định lựa chọn mô hình “giáo dục Sudbury”.

Trong phần tới, tôi sẽ thử viết ra những “lợi ích đối với các bậc phụ huynh” mà mô hình giáo dục Sudbury mang lại.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

 Nguyên gốc tiếng Nhật

【 親の権威の失墜 】

 前回、2回目の投稿で、私は「親と子の関係は対等であるべきだ」と書きました。それは人間として親も子と同じように未熟者だからという理由でした。しかし、実はもうひとつ、親と子の関係が対等であるべき理由が現代にはあると思うのです。それは「親の権威の失墜」です。

「失墜」などと書くと悪いことのように思えますが、実はそうでもありません。これはごく自然な時代の流れなのです。このことについて、少々理屈っぽくなりますが、頭を整理して書いていきたいと思います。

まず「権威」というものの本質についてです。「権威」を辞書で引くと2つの意味が載っていました。「他を支配し服従させる力」と「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」です。さすがは辞書です。なかなか核心をついていますね。

昔の古い“親像”には、確かにこの2つの要素が備わっていました。親は何でも知っていて、偉くて、尊敬できる存在で、ちょっぴり恐くて、子どもたちは親の言うことに従わねばならないのです。

ここでのポイントは「一般に認められている」ということです。そう、「権威」は一般の人に認められて初めて成立するもの。自分ひとりが偉そうにしていても、それは「権威」にはなりません。

そして、昔の日本の社会には、確かに親の「権威」を認める“空気”がありました。親は「偉い」「尊敬できる」ということを社会全体で認め、親の「権威」を支えていたのです。だから親は子どもを支配し、命令し、叱ることができたのです。

ところが、この親の「権威」が、現代においては大きく揺らいでいます。理由は簡単で、社会に親の「権威」を認める必要がなくなったからです。

なぜ、親の「権威」を認める必要がなくなったか。それは社会が「伝承性」を失ったからです。「伝承性」とは古くからあるものを受け継ぎ、継承していくこと。文化、風習、知恵、知識、経験、技術、価値観などを受け継ぎ、後生に伝えていくことです。

伝承性が十分に保たれていた時代には、親は子にとって尊敬すべき対象でした。たとえばひと昔前の農家を想像してみましょう。この場合、親は子にとって無条件で尊敬される存在でした。なぜなら、農業にとっての大切な経験、知恵、知識を全て親が有していたからです。子にとって親は学ぶべき対象であり、尊敬に値する人物でした。

つまり当時の親は、辞書の「権威」の項目にある「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」に値する人物だったのです。ですから必然的に親の「権威」は保たれていたのです。

ひるがえって、今の社会はどうでしょう。古くからある知恵や経験が伝承される社会でしょうか。電話が携帯に変わり、携帯がスマホに変わり、手紙がメールになり、メールがSNSに発展していく時代。次々と新しい技術が生まれ、仕組みが変わり、制度が変わり、常識や価値観が覆っていく社会において、昔の知恵や経験を有していることが、果たして「尊敬」の対象になるのでしょうか。

答えは「ノー」です。「伝承性」を失った社会では、年長者というだけでは「権威」を保つことは難しい。もはや先に生きているだけで「偉い」という時代ではないのです。

私は決して親や年長者をないがしろにしていいと言っているのではありません。伝承性が失われた社会では、年上というだけで「権威」を保つことは難しいと言っているのです。

権威を失った人間がいつまでも偉そうにしているとどうなるか。たとえば会社を解雇された上司のことを考えてみましょう。

非常に権威的で、威圧的な上司が会社にいたとします。彼は気に入らないことがあるとすぐに怒り、雷を落とすので、部下は恐くて逆らうことができません。

なぜ逆らえないのか。それは会社という組織が彼に「権威」を与えていたからです。だから、彼が少々理不尽なことを言っても、誰も逆らえなかったのです。

ところが、何らかの理由でこの上司が解雇されたとします。もはや彼の「権威」を支えるものはどこにもありません。この上司はどうなるでしょうか。以前のように部下の前で偉そうにできるでしょうか。

もちろんできません。「権威」を失った人間は、辞書にあった「他を支配し服従させる力」を失うからです。これは現代の“親像”を考える上で重要なポイントだと思います。「権威」を失った親が子どもに命令し、支配しようとするのは、会社を解雇された上司がかつての部下に命令することに似ています。誰もそんな人の言うことは聞いてくれません。

「親と子の関係は対等であるべきだ」と私が考えるようになったふたつ目の理由は、上記のようなことにあります。

このように伝承性を失った社会において、親の役割は、かつての親の役割と大きく変わってきています。自分の経験や知恵を子どもに授けることは、もはや親の役割ではありません。ましてや自分の価値観や思いを子に押しつけるなど、言語道断だと思います。

もちろん、親は子より経験を積んでいるので、アドバイスをすることは可能でしょう。善悪の基準を教え、躾けることも大切です。でも、こうした場合でも「こうするといいよ」とは言えても、「こうしなさい」とは言えないと思います。親は子どもの支配者ではないからです。昔と今とでは「親の役割」が変わってきている。この変化に気づくことが、いま、親として最も大切なことなのかもしれません。

子どもは親から独立した別の存在であり、昔のように、親の経験や知識を受け継いで生きていくものではありません。めまぐるしく変化する社会において、子どもは自分の人生を、自分の力で切り開き、親とは別の道を歩んでいかねばならないのです。

そして、このように急速に変化する現代にあっては、学校の役割もまた変わってきていると思います。伝承性が失われた社会において、旧態依然としたカリキュラムで子どもを教育しようとする学校は、親と同じように「権威」を失いつつあります。

学校もまた時代の変化、社会の変化に気づくべきなのです。私の家族が子どもと一緒になって考え、最終的に「サドベリー教育」を選んだ理由はここにあります。

次回はサドベリー教育がもたらす「保護者にとっての価値」について考えてみたいと思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Chuyện học Tin của tôi

Tôi thích dùng máy tính từ nhỏ, nếu như việc “chơi game trên máy tính” cũng được xếp là “dùng máy tính”. Khi còn bé, nhà không có máy tính, tôi rất thích được đến nhà các bác để được chơi ké trên máy tính của anh chị họ. Đến khi StarCraft bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam một thời gian thì nhà tôi mới mua cái máy tính đầu tiên. Ban đầu đối với tôi máy tính chỉ là đồ chơi, nhưng đến khi vào cấp 2, tôi bắt đầu biết đến và học lập trình Pascal. Cho đến khi vào cấp 3, tôi đã thuộc vào loại “giỏi trên trung bình” trong lớp về khoản lập trình, dẫn đến việc tréo ngoe là dù đỗ và học lớp chuyên Toán nhưng tôi lại đi học đội tuyển Tin để thi học sinh giỏi (dù chẳng được giải gì), trong khi đó điểm Toán thì luôn bét lớp. Và đến thời điểm hiện tại, sau 5 năm làm kỹ sư hệ thống thông tin tại Nhật, có thể nói trong nhiều mặt máy tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi.

Nói đến học lập trình Pascal, tôi còn nhớ rằng cấp 2 có một thời gian tôi học thêm Pascal dưới trướng anh họ cùng với một hai người bạn cùng lớp. Họ là những người rất giỏi Toán ở trên lớp, và cái sự giỏi đó lan sang của việc lập trình. Những lúc anh tôi giải thích một thuật toán hay kiến thức lập trình nào đó, trong khi tôi còn đang ù ù cạc cạc thì các bạn ấy đã có thể nhanh chóng nắm bắt được, và điều đó nhiều khi khiến cho tôi không khỏi nản chí. Có những thứ tôi không hiểu nhưng không hỏi, hay thậm chí nói dối rằng mình đã hiểu, phần vì sợ bị lộ là dốt, phần vì không muốn làm mất thời gian của anh và các bạn.

Điều đó tiếp diễn cho đến khi tôi bắt đầu được học một thầy một trò. Khi đó, cái sự dốt của tôi không còn chỗ nào để mà giấu, mà cũng chẳng còn ai để mà phải giấu nữa, và tôi cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Từ đó tôi rút ra rằng: trong một số trường hợp, việc trộn lẫn cùng lúc các học sinh có năng lực và tốc độ tiếp thu khác nhau sẽ vô tình tạo nên một hiệu ứng tâm lý đè bẹp và đẩy những học sinh yếu kém hơn “ra ngoài vòng”, mặc dù bản thân các em có thể không phải không có tiềm năng. Chúng ta hay nói với các em rằng “đừng sợ dốt/đừng giấu dốt”, nhưng chúng ta đâu có phải đứng vào vị trí các em để mà hứng chịu áp lực tinh thần từ bên ngoài lẫn bên trong, cả có thực lẫn tưởng tượng? Những lời nói như vậy chẳng khác nào một ông tướng ngồi trong lô cốt an toàn vừa đẩy binh lính ra trước làn đạn vừa hô hào “đừng sợ chết”. Cái chúng ta nên làm là để ý quan sát tâm lý cá nhân từng em, và tạo nên môi trường để mỗi em có thể cảm thấy yên tâm mà phát triển theo nhịp độ và thang bậc của riêng mình, dù có thể nó không vừa ý chúng ta, bởi một cái cây lớn chậm không có nghĩa là nó không thể lớn lên thật cao trong tương lai.

Một điều đáng nói nữa về việc học máy tính của tôi, đó là tôi chỉ bắt đầu thực sự làm chủ máy tính khi được có một cái máy của riêng mình. Trong suốt mấy năm đầu, một chiếc máy tính vừa là công cụ để mẹ tôi soạn bài giảng lên lớp, vừa là đồ chơi và công cụ học của tôi và thằng em trai. Máy hỏng đồng nghĩa với mẹ tôi không thể làm việc được. Điều này dẫn đến việc tôi không dám tò mò nghịch dại, mà thường phải đưa ra cửa hàng máy tính mỗi khi có vấn đề. Và kết quả là sau mấy năm dùng máy tính tôi vẫn hầu như mù tịt không biết gì ngoài trò chơi điện tử và Pascal. Tuy nhiên, một khi tôi đã có máy riêng, thì tình hình hoàn toàn khác hẳn. Tôi có thể tự mình ngồi mày mò thử nghiệm, tự format ổ rồi tự cài được Windows, dù không hề được bất cứ ai dạy cả. Sở dĩ tôi dám làm, là vì tôi biết rằng máy có hỏng thì cũng sẽ không gây ra vấn đề gì mà tôi không thể hay không dám nhận trách nhiệm, tức là tôi cảm thấy “an toàn” để có thể mày mò khám phá.

Từ những điều trên, có thể thấy rằng việc tạo môi trường an toàn cho việc khám phá, thử nghiệm cũng như thất bại là một tiền đề quan trọng của việc học, hay ít ra là tự học. Sự an toàn mà tôi nói đến ở đây không phải chỉ là an toàn thân thể, tuy rằng cái đó cũng rất quan trọng, mà là an toàn về mặt tinh thần. Đó là việc được che chở khỏi những áp lực, đe dọa, sợ hãi, và nói chung là bất cứ yếu tố tâm lý tiêu cực nào có thể ngăn cản việc học hỏi. Đáng tiếc rằng những yếu tố tâm lý tiêu cực này lại xuất hiện rất nhiều trong môi trường học đường ngày nay, mà đại diện tiêu biểu nhất là việc đánh giá học sinh bằng điểm số và hạnh kiểm, cũng như sự cai quản bằng quyền lực từ phía nhà trường và giáo viên.

Quay trở lại chuyện học Tin, có thể nói rằng hầu hết các thành tựu mà tôi đạt được trên con đường học và sử dụng Tin học đều gắn liền với việc tự mày mò. Trong đó phải kể đến việc những năm đầu cấp 3 tôi đã tự mình lập trình trò chơi bằng Pascal. Sự việc bắt đầu khi anh họ tôi giao cho tôi đề bài “viết trò dò mìn”. Khi đó tôi đã hăm hở viết một chương trình mô phỏng lại trò dò mìn của Windows bằng đồ họa dòng lệnh và các ký tự ASCII. Tuy rằng sản phẩm của tôi bị gạt đi vì cái anh tôi muốn tôi làm lại là một thuật toán để giải trò dò mìn, nhưng niềm hứng thú với việc tự mình viết nên một trò chơi, dù là viết lại ý tưởng có sẵn, thì đã được nhen nhóm. Từ đó, chỉ bằng một cuốn sách Pascal cơ bản có giải thích qua về thư viện đồ họa và một bài báo PC World, tôi đã viết lại ba trò chơi Line, Minesweeper (dò mìn) và Tetris (xếp hình) mà không cần sự chỉ dẫn thêm của bất cứ ai.

Đến tận bây giờ, sau khi đã trải qua hơn 15 năm lập trình, với đủ các chương trình phần mềm lớn nhỏ, từ những đề bài được giao trên lớp cho đến hệ thống cho hàng trăm người dùng của công ty, ba trò chơi bằng Pascal đó vẫn là một trong những thành tựu mà tôi tự hào nhất. Sau khi hoàn thành, tôi đã chơi đi chơi lại những trò chơi ấy đến cả tháng liền, mặc dù bản thân chúng không có gì mới mẻ hay đặc sắc hơn so với các phiên bản có sẵn trong máy hay băng điện tử. Thậm chí lúc đi phỏng vấn tuyển dụng ở hai công ty Nhật, trong đó một công ty tôi đang làm hiện nay, và một công ty khác chuyên về lập trình phần mềm, khi được hỏi về kinh nghiệm hay thành quả chuyên môn đã có trong quá khứ, thứ hiện ra trong đầu tôi trước tiên vẫn là ba trò chơi kia, và tôi đã không do dự gì mà trình bày một cách hết sức sôi nổi và tự hào về việc một đứa nhóc cấp 3 đã lập trình ra mấy trò ghẻ như thế nào (và kết quả là tôi đã đỗ cả hai nơi).

Tất nhiên, những trò chơi ấy rất đơn giản, và thậm chí có phần trẻ con. Nhưng điểm quan trọng ở đây là không hề có ai yêu cầu tôi viết ra chúng, và hoàn toàn cũng chẳng có ai đốc thúc và chỉ bảo tôi trong quá trình làm cả. Do vậy, có thể nói một cách hơi khoa trương rằng chúng là hiện thân của ý chí tự do và năng lực tự xoay sở của cá nhân tôi. Tôi biết chắc chắn rằng thành tựu ấy là do tự tay mình làm ra, và hoàn toàn có thể lặp lại lần nữa, chứ không phải là một thành tựu do vận may, càng chẳng phải là do một ai đó khác chỉ thị hay làm hộ. Nói cách khác, đó là một sự tự hào đối với chính mình, chứ không phải về những thứ mơ hồ xa xôi ngoài tầm tay như truyền thống dân tộc, chiến công cha anh, hay thành tựu của những bạn A bạn B nào ở tận Âu tận Mỹ.

Niềm tự hào đó có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên sự tự tin và đôi khi là táo bạo (táo tợn?) trong nhân cách của tôi ngày nay. Nó cũng là thứ mà tôi nghĩ rằng nhiều trẻ em hiện nay cần nhưng lại đang thiếu trong quá trình trưởng thành của mình. Phần đông các em đến trường vì bố mẹ bảo thế. Phần đông các em học hành vì muốn làm vui lòng bố mẹ thầy cô, hay nói toẹt ra là vì sợ điểm xấu. Những điều các em làm trên lớp đều đã được lên kế hoạch và quyết định từ trước bởi người lớn. Nội dung của những điều đó nhiều khi là rất vô nghĩa nhìn từ quan điểm của các em. Và những chuyện như bị trừ điểm chỉ vì làm bài “không đúng ý thầy/cô”, dù cho kết quả cuối cùng vẫn đúng hoặc không thể dễ dàng phán định đúng sai một cách khách quan, là chuyện vẫn còn phổ biến.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu có được bao nhiêu em sẽ cảm thấy thực sự tự hào về những thành tích học tập của bản thân, như tôi đã tự hào về ba trò chơi của mình? Có ai lại tự hào về một việc mình bị bắt buộc phải làm, hay bản thân không hiểu rõ ý nghĩa, hay bị buộc phải làm theo tiêu chuẩn của người khác cho đến từng chi tiết nhỏ nhặt mà không được một chút tự do nào? Nếu như trẻ em không có được một khoảng không tự do đủ lớn, cả về vật chất lẫn tinh thần, để có được những thành tựu do bản thân tự nhận trách nhiệm và tự mày mò thực hiện theo cách của mình, thì các em lấy đâu ra sự tự hào về chính mình để mà có tự tin trong cuộc sống? Nếu như các em không có chỗ nào khác để thể hiện nhân cách tự do của bản thân, thì việc các em đem “cái tôi” ấy thể hiện ra ở những hành vi mà chúng ta vẫn hay chụp mũ là “sự nổi loạn của tuổi dậy thì” cũng đâu có gì là khó hiểu?

Tất nhiên, nếu như nhân cách của một đứa trẻ đủ mạnh mẽ, thì dù trong hoàn cảnh bó buộc thiếu tự do hay phải chịu áp lực và đe dọa, em đó vẫn có thể mạnh dạn học hỏi, đồng thời tự nhận trách nhiệm về cuộc đời mình, qua đó có được tự do về tư tưởng, để từ đấy tìm thấy được những khoảnh khắc tự hào cho bản thân. Thế nhưng đó là chuyện của những đứa trẻ, không phải chuyện của người lớn chúng ta. Với tư cách là những người có nghĩa vụ nuôi nấng và giáo dục các em, thì chúng ta nên tự mình suy nghĩ tìm cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự trưởng thành của các em, hay là chỉ đơn thuần trông đợi nhân cách còn non yếu của các em có thể làm được một việc mà đến nhiều người lớn vẫn còn chưa làm được?

Phụ huynh Sudbury: Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bài viết lần này không phải do tôi viết ra, mà là một bài phát biểu của một người cha Nhật Bản mà tôi tình cờ đọc được. Con của ông được cho đi học tại trường Tokyo Sudbury School, một ngôi trường phỏng theo mô hình của trường Sudbury Valley School ở Mỹ. Mô hình Sudbury là mô hình trường học mà trong đó không có sự phân vai giữa “giáo viên” và “học sinh”, cũng như không tồn tại khái niệm “thời khóa biểu” hay “giảng dạy”. Thay vào đó, học sinh được toàn quyền tự do quyết định hoạt động của bản thân, cũng như việc điều hành cả ngôi trường theo nguyên tắc biểu quyết số đông. Việc tiếp xúc với một mô hình giáo dục mới mẻ như vậy đã khiến cho người cha này suy nghĩ nhiều hơn về các bậc cha mẹ và việc giáo dục con cái của họ. Tôi xin được dịch bài viết ra và giới thiệu ở đây để mọi người tham khảo.


Bản dịch tiếng Việt

“Cha mẹ là gì?”. Đó là câu hỏi chưa từng rời khỏi trí óc của tôi kể từ khi con trai bắt đầu đi học tại Tokyo Sudbury School. Nhờ được gặp gỡ với ngôi trường đặc biệt không có giáo viên mà cũng không có giờ học này, mà tôi mới có dịp đối mặt với vấn đề mang tính căn bản “giáo dục là gì”, và từ đó suy nghĩ đến câu hỏi “cha mẹ là gì”.

Đúng thế, tôi nghĩ rằng câu hỏi “giáo dục là gì” có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi “cha mẹ là gì”. Bởi vì cha mẹ là những người có nghĩa vụ cung cấp giáo dục cho con cái.

Thế nhưng thành thực phải nói rằng tôi không hiểu rõ về cái khái niệm “cha mẹ” đó. Lý do là vì khác với khi lựa chọn trường học hay công việc, việc làm cha của tôi bây giờ không phải là kết quả của một sự quyết tâm nào cả. Tôi không tự nói với mình rằng “ok, làm cha thôi” để rồi tự mình đưa ra quyết định làm cha. Nói một cách thành thực, thì cảm tưởng của tôi là kết hôn xong, vợ có thai, đẻ con ra, và đùng một cái, chẳng hiểu từ bao giờ tôi đã thành cha rồi.

Người ta hay nói “con cái là món quà trời ban tặng”. Cái từ “ban tặng” đó thật vi diệu, vì rõ ràng việc sinh đẻ là một sự kiện lớn lao mà chúng ta không thể dễ dàng đi tới thành công được chỉ bằng sức của bản thân mình. Và như ý nghĩa mà từ “ban tặng” đó ngầm thể hiện, việc sinh con ra và trở thành cha mẹ luôn có một cái gì đó mang tính thụ động.

Tuy nhiên, chỉ cần thử nghĩ qua thì chúng ta có thể thấy việc trở thành cha mẹ cũng đồng nghĩa với việc khoác lên mình một trách nhiệm trọng đại. Có thể nó không đến mức như việc mẫu thân Mạnh Tử ba lần đổi nhà, nhưng ảnh hưởng của cha mẹ lên con cái, trong đó bao gồm cả môi trường gia đình, là rất lớn đến mức không gì có thể đo đếm được. Đó là vì cha mẹ có vai trò trực tiếp và sâu sắc đối với thời thơ ấu, thời kỳ rất quan trọng hình thành nên nhân cách và thậm chí là có thể thay đổi cả cuộc đời của con, tức là thay đổi cuộc đời của cả một con người.

Từng lời nói và hành động của cha mẹ, từng cái giơ tay từng cái bước chân, đều có thể quyết định đến nhân cách của con cái. Một lời nói vu vơ cũng có thể tạo nên nỗi ám ảnh cả đời cho con. Thế nhưng thật xấu hổ khi phải nói rằng, tôi đã không hề chuẩn bị sẵn quyết tâm gánh vác trách nhiệm trọng đại đó trước khi trở thành cha. Đối với tôi, quả thực là bỗng một ngày chợt nhận ra thì đã thấy mình làm cha rồi.

Cơ mà chẳng phải hầu hết các bậc cha mẹ trên thế gian này đều đại khái giống như tôi sao? Hầu như tôi chưa từng nghe thấy có trường hợp nào quyết chí làm cha mẹ, dành ra hàng năm trời nghiên cứu “cha mẹ học”, chuẩn bị chu đáo tuyệt vời rồi mới làm cha mẹ thật cả.

Thực tế là hầu hết mọi người, ít nhất là đối với đứa con đầu tiên, đều trở thành cha mẹ khi chưa hề có tí kinh nghiệm nuôi con nào. Và như vậy thì chẳng phải có thể nói rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều là gà mờ trong việc nuôi con” hay sao? Nghĩ đến đây, tôi lại không khỏi phải thêm một lần nữa giật mình trước khoảng cách quá xa giữa “gánh nặng trách nhiệm” và “sự thiếu thốn quyết tâm” của các bậc cha mẹ, tất nhiên trong đó bao gồm cả chính tôi.

Mười mấy năm trời từ khi con trai tôi sinh ra cho đến nay, tôi đã làm cha trong tình trạng “lái xe không bằng cấp”. Tôi đã làm cha một cách “đại khái”, chẳng hề được ai dạy, cũng chẳng hề học hành một cách nghiêm túc, mà chỉ nhìn ngó bắt chước xung quanh.

Tôi đã từng có lần xẵng giọng “làm cái gì thế!” khi con làm đổ nước khỏi cốc, trong khi bản thân chỉ buông một lời xin lỗi gọn lỏn cho qua chuyện khi chính mình làm đổ. Tôi cũng đã từng có lần suýt giơ tay lên đánh con theo phản xạ khi con sờ vào đồ trưng bày trong cửa hàng, trong khi bản thân biết rằng con chỉ đưa tay sờ vì một sự tò mò thuần túy.

Mỗi khi mắng con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có lý do chính đáng để mà mắng mỏ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn thuần mắng mỏ dựa trên tâm trạng hay cảm xúc của bản thân. Mỗi khi dạy con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có tri thức chuyên môn để mà dạy dỗ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn giản lợi dụng sự thiếu hiểu biết của con cái và lên mặt dạy dỗ bằng kinh nghiệm sống lâu hơn đôi chút của bản thân.

Khi suy nghĩ về “giáo dục” sau khi con trai bắt đầu đến trường Sudbury, một câu hỏi khác lại hiện ra trong trí não của tôi: “Gượm đã, đừng nói tới giáo dục vội, mà nghĩ xem bản thân mình giờ đang thế nào?”. Liệu rằng tôi có đủ tư cách làm cha để mà khệnh khạng đưa ra những lời dạy dỗ con cái hay không? Khi nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy chiếc mặt nạ “bậc phụ mẫu” rơi ra, làm lộ nguyên hình hài một con người non kém của bản thân mình. Câu hỏi “cha mẹ là gì”, không gì khác, cũng chính là câu hỏi “bản thân mình là ai”.

Từ đó, nhận thức của tôi đã được thay đổi. Giờ đây tôi tin rằng giữa cha mẹ và con cái không phải là một mối “quan hệ trên dưới”, mà là “quan hệ giữa những con người ngang hàng”. Tất nhiên, trẻ con thiếu hiểu biết, nhưng người lớn cũng chẳng hiểu biết nhiều hơn bao nhiêu. Nếu đã cùng là những người còn thiếu hiểu biết, thì chẳng phải cha mẹ và con cái nên nói chuyện với nhau một cách bình đẳng hay sao? Đúng vậy, “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Đó chính là điều thay đổi lớn xuất hiện trong tôi sau khi con trai đến trường Sudbury.

Tuy nhiên, đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Thực ra vẫn còn một lý do nữa cho việc tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Lý do đó, tôi sẽ để cho lần phát biểu sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【すべての親は子育ての素人だ】

「親とは何か?」息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、 私の頭からはこの問いがずっと離れなくなりました。先生も授業もないという特殊な学校 との出会いによって、「教育とは何か」という根本的な問題に直面し、そこから「親とは何 か」について考えるようになったのです。

そう、「教育とは何か」という問いは、「親とは何か」という問いとつながっているように 思います。なぜなら親は子に教育を授ける義務を負うからです。

ところが困ったことに、その“親”というものが私にはよく分からない。学校や仕事を選択 したときと違って、自ら決意して親になったわけではないからです。「よし、親になるぞ」と 決心して親になったわけではない。結婚して、妻が妊娠し、出産を経て、いつのまにか、 なんとなく、気がついたら親になっていたというのが正直な感想です。

よく「子どもは神様からの授かり物」といいますね。「授かる」とはよくいったもので、出 産は自分たちの力だけではいかんともしがたい運命的なイベント。この“授かる”という言 葉に象徴されるように、子が生まれて親になるのには、どこか受動的なイメージがつき まといます。

とはいえ、考えてみれば、親になるということはたいへん重大な責任を背負うこと。 孟母三遷の教えではないけれど、家庭環境を含めて、親が子に与える影響は計り知れ ないほど大きいのです。子どもという一個の人間の、一生を左右してしまうかもしれない 人格形成の大事な時期に、親は深く関わることになります。

親の行動や言動の一つひとつ、一挙手一投足が、子の人格を左右する。何気なく 言った一言が、一生その子のトラウマになることだってあるかもしれません。ところが 困ったことに、そのような重大な責任を背負う覚悟をもって自分は親になったわけでは ない。なんとなく気がついたら、親になってしまっていたというのが実感です。

でも、世間の大方の親御さんも、だいたい私と同じではないでしょうか。「親になるぞ」 と決意して、何年間も「親学」を学び、完璧に準備をしてから親になったという話はあまり 聞きません。

そもそもほとんどの人が、少なくとも長男長女の場合は、育児未経験のままで親にな るわけで、そういう意味で「すべての親は子育ての素人だ」といえるのではないでしょう か。親が負う「責任の重大さ」と「自覚の足りなさ」、このギャップの大きさには(自戒の 念を込めて)あらためて驚かされます。

息子が生まれて十数年、ここまで私は“無免許運転”のまま親をやってきました。誰 から教わったわけでもなく、真剣に学んだわけでもなく、見よう見まねで“なんとなく” “テキトー”に、親をやってきたのです。

子どもがコップの水をこぼしたとき「何やってんだ!」と声を荒げたことがありました。 自分がこぼしたときには「ごめん」の一語で済ませるくせに。子どもが店の商品に触った ときには、思わず手をあげそうになったこともあります。子どもが純粋な好奇心から手を 伸ばしたことを知っていたのに。

子を叱るとき、親は必ずしも正統な理由があって叱るわけではありません。単なる気分、 感情で言葉を発するときもあります。子に何かを教えるとき、必ずしも専門的な知識が あって教えるわけではありません。子が知らないことをいいことに、ちょっとだけ長く生き た自分が偉そうに言っているだけのこともあります。

息子がサドベリーに通うようになって「教育」のことを考えたとき、待てよ、教育について 考える前に「自分はどうなんだ?」という問いが頭に浮かびました。親として偉そうなこと を言う資格が自分にあるのかと。そう考えたとき、親の仮面がはがれ落ち、未熟な自分 の姿がそこに見えてきたのです。「親とは何か」という問いかけは、まさに「自分とは何か」 という問いかけに他なりません。

それで私の意識は変わりました。親子は「上下の関係」ではなく、人間として「横並びの 関係」であるべきだと思うようになったのです。子はもちろん未熟ですが、親もまた未熟 です。未熟者同士、親と子は対等に語り合える関係であるべきではないのかと。そう、 「親と子は対等の関係であるべきだ」。これが、子どもが東京サドベリースクールに通う ようになって私に現れた、大きな変化のひとつです。

でも、これだけではありません。実はもうひとつ、「親子の関係が対等であるべき」と 考える理由があるのです。それについては次回、またこの場をお借りして話したいと 思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Chuyện học Văn của tôi

Kỷ niệm đầu tiên tôi còn lưu giữ với môn Văn là từ những năm cấp 1. Lúc đó tôi được cho đi học thêm môn Văn của cô hiệu phó trường cùng với hầu hết các bạn khác trong lớp. Thuở đó tôi cũng khá thích đọc các loại sách báo, trong số đó có các tờ báo nhiều mục hài hước như Tuổi Trẻ Cười hay Hoa Học Trò. Một ngày nọ chúng tôi được giao đề bài tả người thân hay ai đó, và tôi quyết định tả thằng em trai. Tôi liền sử dụng ngay một đoạn văn mình mới đọc được trên báo và thấy rất thích thú vào bài làm, mà nếu tôi nhớ ko nhầm thì là “giọng nó the thé như nước mười quả chanh pha với mười lít giấm đặc, còn mắt thì chớp chớp như máy đếm tiền”, hay đại khái như vậy.

Tôi không nhớ rõ rằng cô giáo đã phản ứng thế nào với tôi khi đọc được bài văn ấy, nhưng sau đó mẹ tôi nói với tôi rằng cô nhận xét với mẹ là tôi bị “ảnh hưởng quá nhiều bởi truyện Đôrêmon”. Cũng phải nói thêm rằng thời kỳ đó đang có trào lưu cho rằng truyện tranh với toàn những “ối á bốp hự” sẽ làm thui chột năng lực tiếng Việt của trẻ em. Thế là vì tôi mà truyện Đôrêmon mang thêm một nỗi oan nhỏ đến giờ vẫn chưa được gột rửa. Và cũng từ đó tôi bắt đầu lờ mờ cảm nhận được một điều là: viết văn cũng có thứ văn “đúng” và thứ văn “sai”, và những gì mà người lớn viết đầy rẫy xung quanh tôi chưa chắc đã là văn “đúng”, còn văn “đúng” là cái gì thì đến giờ tôi vẫn chịu không trả lời được.

Tình trạng đó kéo dài trong suốt cả 4 năm cấp 2. Trong những năm đó môn Văn luôn là môn khiến tôi cảm thấy khó hiểu nhất. Đối với các môn khác, con đường để đi đến điểm tốt đều rất rõ ràng: môn tự nhiên thì chỉ cần tìm ra lời giải đúng theo những nguyên tắc logic nhất định, còn các môn xã hội thì chỉ cần học thuộc lòng. Riêng đối với môn Văn, tôi không thể tìm ra được căn cứ rõ ràng để biết được một bài viết của mình sẽ được điểm tốt hay kém, ngoại trừ một số yêu cầu tối thiểu như phải có mở bài kết bài nọ kia. Điều này đặc biệt đúng đối với những đề bài phân tích tác phẩm văn học: tôi thậm chí còn chẳng hiểu “phân tích” tức là làm gì. Những sách văn mẫu cũng chẳng giúp ích gì được cho tôi, vì từ nhỏ tôi đã rất ghét viết những thứ không phải của mình nghĩ ra. Kết quả là đối với môn Văn, tôi luôn ở trong tư thế một người đánh cược: viết bừa và cầu trời được điểm tốt.

Đó là chưa kể, tôi đã cảm thấy môn Văn, như rất nhiều môn học khác, chẳng hề liên quan gì đến thực tế cuộc sống của bản thân, cũng tức là với tôi nó vô nghĩa. Vì trong mắt tôi lúc đó nếu xét theo những chuẩn mực viết văn mà tôi được dạy và yêu cầu phải đáp ứng (phải có dàn bài, phải có mở bài kết bài,…), thì tất cả những gì viết trên sách báo, thậm chí là kể các tác phẩm văn học trong SGK, đều đáng bị đánh trượt hết. Thế thì những cái tôi được dạy mới là “đúng”, hay là những cái tôi thấy ngoài đời mới là “đúng”? Ở đây phải nói rằng tôi không hề ghét văn học: lúc đó tôi rất thích đọc các tác phẩm văn học như của Tô Hoài, Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Tôi đã khấp khởi đợi đến khi được học các tác phẩm đó trên lớp, để được khoe cái sự đọc rộng của mình, và cũng để biết nhiều hơn về những gì mình thích. Nhưng những giờ học Văn trên lớp luôn khiến tôi thất vọng, vì những gì tôi muốn nói thì lại không có cơ hội để nói, và những gì tôi muốn biết thêm thì lại không được dạy.

Mọi thứ thay đổi khi tôi bước vào cấp 3. Cô giáo dạy Văn cấp 3 của tôi (mà rất tiếc là tôi không nhớ tên) có phong cách dạy khá đặc biệt: trước khi bước vào học một tác phẩm mới, cô cho cả lớp viết một bài văn một hay hai tiết với đề bài thường rất đơn giản: nêu cảm nghĩ của em về tác phẩm. Cô không hề dạy trước các ý phân tích bài như tôi vẫn được dạy hồi cấp 2. Cô cũng không yêu cầu chúng tôi phải viết đúng theo một chuẩn mực nào cả, mà yêu cầu của cô rất đơn giản: 1. viết những gì các em nghĩ, và 2. không được chép văn mẫu. Chỉ sau khi đã chấm, trả bài và dành hẳn nửa tiết đến cả tiết để nhận xét và trao đổi về từng bài viết, cô mới cho cả lớp chép qua loa các ý theo chương trình. Và trong suốt 3 năm cấp 3 đó, điểm Văn của tôi luôn rất tốt: 8 9 là chuyện thường xuyên, một sự khác biệt lớn so với những điểm 6 7 chật vật trước đó.

Tất nhiên điểm số không phải là một thước đo khách quan, và điểm Văn của tôi tốt lên không có nghĩa là tôi viết văn “giỏi” hay “hay” hơn. Nhưng đấy không phải là vấn đề quan trọng, mà quan trọng là giờ đây tôi đã có một phương hướng rõ ràng cho việc viết văn trên lớp. Thay vì cố gắng tìm kiếm ra một tiêu chuẩn bên ngoài nào đó và uốn mình theo nó để mong làm vừa lòng một người khác, tôi chỉ cần tập trung vào chính mình, ý thức xem bản thân cảm thấy gì, suy nghĩ gì đối với một tác phẩm văn học, và viết nó ra thành lời. Bản thân cô tôi không phải không có tiêu chuẩn riêng, và không phải mọi thứ tôi hay bạn bè viết ra đều được cô đánh giá cao. Tuy nhiên cách cô cho điểm và nhận xét khiến cho tôi có một niềm tin vô tư rằng chỉ cần tôi viết ra những gì mình thực sự nghĩ, thì dù ý tưởng của tôi có quái đản, khả năng của tôi có yếu kém đi nữa, thì thành phẩm của tôi cũng sẽ không bị dẫm đạp một cách tàn bạo bằng lời lẽ hay điểm số. Nói ngắn gọn, tôi cảm thấy “an toàn”.

Và đó là lý do sau một khoảng thời gian rất dài vật lộn và ghét bỏ việc học Văn, lần đầu tiên tôi mới lại mong chờ đến tiết học Văn. Tôi muốn được viết, và muốn được nghe những lời nhận xét và gợi ý cụ thể, nhiệt tình, nghiêm túc và hoàn toàn không áp đặt về những gì mình viết. Tôi vẫn còn nhớ rõ chi tiết tôi viết về bài Qua đèo Ngang, rằng “hình ảnh Bà Huyện Thanh Quan đứng một mình trên đèo lúc chiều tà khiến tôi nghĩ đến việc sau này khi tôi già đi, khi những người biết tôi từ lúc nhỏ đều chết đi, thì có lẽ tôi sẽ cảm thấy cô đơn lắm”. Chi tiết đó được cô đánh giá rất cao, chỉ vì nó “thể hiện được cảm xúc thật của riêng em”. Hơn thế nữa, có lẽ do thấy ngượng về độ sến của mình nên sau chi tiết đó tôi đã thòng thêm một đoạn đại ý rằng “và sau đó tôi sẽ lại trở về với truyện tranh và điện tử như chưa từng có gì xảy ra”. Một câu văn như vậy trong một bài kiểm tra có thể bị xem là “đùa cợt giáo viên” hay ít ra là ăn gạch thẳng thừng, nhưng cô lại chỉ nhận xét là “hơi đáng tiếc, giá mà cố giữ mạch văn thêm một chút nữa”. Tôi cũng chỉ việc cười cầu hòa mà thôi.

Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu đậm nhất mà cô để lại là việc cô nói rằng mình “thích đọc văn của Trung” vì nó “có cá tính” trước cả lớp. Trước đó, từ bé tôi đã ý thức rằng mình hơi “khác người”, bắt đầu từ những vụ việc như “bị ảnh hưởng bởi Đôrêmon”. Bạn bè đồng trang lứa cũng thi thoảng đùa rằng tôi “lập dị”, và sau này lớn lên được kể lại thì tôi mới biết là mình khá nổi bật trong lớp theo một nghĩa không biết có nên tự hào hay không. Tuy nhiên cô có lẽ là người giáo viên đầu tiên công khai đón nhận sự “khác biệt” của tôi và coi nó là một điều tích cực và đáng khuyến khích. Điều đó đem lại cho tôi một sự tự tin không hề nhỏ, giúp cho tôi hình thành nên một nhân cách (mà tôi cho là) độc đáo của riêng mình như ngày nay. Tôi nghĩ rằng mọi đứa trẻ, mọi em học sinh đều nên được đối xử bằng một thái độ tôn trọng và chấp nhận như vậy.

Đến nay, sau khi đã đọc và viết một lượng chữ khá lớn, tôi cũng đã dần tự hiểu được ý nghĩa của những thứ như lập dàn bài hay viết kết luận. Nhưng quan trọng hơn, tôi đã rũ bỏ được cái suy nghĩ rằng viết văn là phải theo một chuẩn mực nào đó bên ngoài mới là “đúng”, là “hay”. Bây giờ khi viết bất cứ cái gì, tôi chỉ cần quan tâm xem những gì tôi viết có nói lên được những gì tôi nghĩ hay không, có đáp ứng được những chuẩn mực của riêng tôi hay không, hay nói cách khác, là nó có khiến bản thân tôi cảm thấy hài lòng hay không. Người đọc chỉ là củ khoai lang. Sự ưng ý của họ có thể khiến tôi thấy thích thú, nhưng nó không được phép xếp trên sự thỏa mãn mà cá nhân tôi cảm thấy đối với việc viết lách. Và tôi cố gắng áp dụng điều tương tự vào cách sống của mình hàng ngày: quan tòa cao nhất không phải là xã hội hay pháp luật, mà là tôi, tôi, tôi, và chỉ tôi mà thôi. Cá nhân tôi cho rằng đó là cách sống có trách nhiệm nhất mà một người có thể lựa chọn trên đời này.

Xoay quanh câu chuyện học Sử

Trong suốt thời gian vừa rồi, báo chí và dư luận (mạng) xã hội bàn tán rất sôi nổi và nóng hổi xung quanh vấn đề học sinh chán học Sử, không biết Sử nước nhà và đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác. Cá nhân tôi đây đó cũng có một số suy nghĩ của riêng mình sau khi đọc một số bài báo và bài viết trên mạng, tuy nhiên do chúng quá vụn vặt và cảm tính nên chưa viết gì cụ thể cả. Đến nay, sau một thời gian quan sát và tích lũy, tôi xin viết ra những suy nghĩ của mình dưới đây để những ai có hứng thú có thể tham khảo.

Tuy nhiên trước hết, tôi phải nói rõ rằng tôi không phải một nhà chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục, cũng như có hiểu biết cụ thể về vấn đề lần này. Tôi mới chỉ đọc một vài bài báo, một vài bài bình luận, và một tá comment facebook, do đó những gì tôi viết ra ở đây là dựa trên cách hiểu nông cạn của riêng tôi, và không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Nếu bạn nào muốn đọc những bài viết phân tích cụ thể, sâu sắc và có căn cứ chắc chắn hơn, thì tôi xin giới thiệu facebook của anh Nguyễn Quốc Vương, một nghiên cứu sinh ngành giáo dục tại Nhật Bản. Còn sau đây, tôi xin trình bày những suy nghĩ của cá nhân mình.


1. Học sinh xé đề cương Sử, thế thì sao?

Cá nhân tôi rất thích câu hỏi “thế thì sao?” (so what?), tuy rằng trong thực tế cuộc sống tôi rất ít khi dùng vì thường sẽ bị cho là khiêu khích. Tôi thích câu hỏi đó vì mặc dù rất đơn giản, nhưng nó khiến cho người được hỏi phải nhìn nhận rõ hơn những quan điểm, lòng tin và định kiến (gọi chung là tiền đề) của bản thân mà bình thường ít người ý thức đến. Khi đưa ra một quyết định hay một phán xét nào đó, chúng ta thường có xu hướng dựa vào cảm tính của mình để đưa ra kết luận chớp nhoáng dựa trên một số tiền đề nhất định, sau đó mới bắt đầu lục tục dùng đến lý trí để cố nặn ra những lý do củng cố cho kết luận của mình. Một trong những hệ quả của việc “suy nghĩ nhanh” kể trên là chúng ta thường bỏ qua một công đoạn rất quan trọng, đó là xác định rõ ràng vấn đề và tiền đề. Xác định sai vấn đề hay tiền đề đều sẽ dẫn đến việc đưa ra những quyết định và phán xét “sai lệch” và không đem lại kết quả như mong muốn.

Quay trở lại câu chuyện học Sử, nếu tôi nhớ không nhầm thì mọi chuyện bắt đầu nóng lên sau khi có việc các em học sinh ở một trường nọ xé đề cương Sử vứt trắng sân trường sau khi biết không phải thi môn này. Báo chí vào cuộc, dư luận sôi sục, mọi người tranh nhau nói. Tôi thì chỉ ngứa mồm muốn hỏi một câu “thế thì sao?”. Trong ký ức thời học sinh của tôi “đề cương Sử” chỉ là một tờ giấy ghi lại tất cả những nội dung cần phải học thuộc lòng để thi và kiểm tra. Nó đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho một mục đích là thi cử, không hơn, không kém. Khi mục đích không còn, thì công cụ cũng là đồ bỏ. Chuyện chỉ đơn giản có thế. Là tôi tôi cũng sẽ vứt ngay vào sọt rác. Không xé, không vứt thì giữ lại làm gì? Có ai ngây thơ nghĩ rằng kể cả không thi học sinh cũng nên/cần/phải ngồi ôn đề cương Sử không? Nếu không, vậy học sinh xé đề cương Sử thì có làm sao? Chuyện này thì liên quan gì đến việc “học” Sử? Tại sao chúng ta lại nhảy từ việc “thi” sang việc “học” như vậy? Vấn đề ở đây nằm ở việc “học” hay việc “thi”? Việc nhầm lẫn giữa “thi” với “học” chẳng phải cũng là một vấn đề hay sao?

Tôi không nói rằng việc học Sử ở trường lớp không có vấn đề. Tôi không nói rằng mọi người không nên bàn luận về giáo dục chỉ vì học sinh xé đề cương. Cái tôi muốn nói ở đây là chúng ta cần nhìn rõ hiện tượng đang diễn ra thực sự nói lên cái gì. Trong mắt tôi, học sinh xé đề cương Sử rõ ràng là phản ứng lại đối với việc “thi” Sử, chứ không phải việc “học” Sử. Do đó cái chúng ta cần chú ý đến trước hết là việc “thi”, chứ không phải việc “học”. Chừng nào “thi” còn được xem là mục đích cuối cùng và thậm chí là bị nhầm lẫn với việc “học”, thì chúng ta có tranh luận, sửa đổi việc “học” chán chê cũng chẳng đem lại kết quả nào lâu dài. Đơn giản là vì mục đích quyết định hành động. Thầy cô giáo có muốn sáng tạo, thử nghiệm cách dạy mới, cuối cùng vẫn sẽ phải dành thời gian để “luyện thi” cho học sinh vì thành tích của mình. Học sinh học có vui vẻ thích thú đến mấy, cuối cùng vẫn phải đối diện với thực tế “thi cử” phũ phàng nếu muốn tốt nghiệp. Cái trước mắt chúng ta cần là 1. sửa đổi cách “thi”, hoặc/và 2. tách việc “thi” ra khỏi việc “học”, khiến việc “thi” trở nên không bắt buộc và không phải là mục đích của việc “học”.

Cũng nói thêm rằng, tôi ủng hộ việc xé đề cương Sử, ủng hộ nhiệt liệt. Vì sao? Vì trong mắt tôi đó là một hành vi khẳng định nhân cách, khẳng định “tính người” của các em học sinh. Nó chân thực và có tính nhân văn, “tính người” hơn nhiều những lời lẽ và lý luận cao siêu mà tôi thấy xuất hiện la liệt khắp nơi xoay quanh hành động đó. Đối với tôi, thời học sinh việc ngồi dành cả một tiết học để chép đề cương Sử là một cực hình. Đúng hơn, đó là một sự sỉ nhục nhân cách, sỉ nhục “tính người”, phủ nhận quyền tự do “làm người” của tôi. Việc chép những gì đã viết trong sách ra một tờ giấy theo mệnh lệnh, học thuộc lòng nó để rồi quên ngay sau 5 phút ra khỏi phòng thi là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa. Tôi sinh ra trên đời không phải để làm những việc vô nghĩa ấy theo lệnh của người khác. Xét trên một khía cạnh nào đó, những người bắt ép tôi chép đề cương Sử cũng giống như những kẻ thực dân đế quốc đè đầu cưỡi cổ dân ta ngày xưa vậy.

Tương tự, câu hỏi “thế thì sao” cũng có thể được áp dụng cho một vụ “xì căng đan” được báo chí đưa tin sau đó ít lâu. Đó là việc một số em học sinh nhầm lẫn một vài nhân vật lịch sử. Cụ thể thế nào tôi không nhớ nữa, vì nó quá nhạt nhẽo và quá vô nghĩa. Các em nhầm lẫn, thế thì sao? Việc biết về những nhân vật lịch sử đó có nói lên được thực chất năng lực và kiến thức sử học của các em không? Nó có nói lên được sự thông minh, năng lực tiềm tàng, giá trị con người của các em không? Nó có giúp ích được gì cho các em không, có ý nghĩa gì đối với các em không? Nó có giúp ích được gì cho xã hội không? Nếu những kiến thức lịch sử đó là “thường thức”, là việc ai cũng phải biết, không biết là một tội, thì ai là người đã quyết định điều đó, dựa vào quyền hạn gì? Nếu chưa suy nghĩ thấu đáo đến những điều như vậy mà đã nhao nhao lên, thì chúng ta chỉ lãng phí thời gian và nước bọt mà thôi. Toàn bộ đoạn phỏng vấn các em học sinh chỉ để lại trong tôi một ấn tượng duy nhất: nhỏ nhen, nếu không muốn nói là tiểu nhân. Tôi chỉ ước gì các em đã có thể trả lời thẳng vào mặt phóng viên rằng “Tôi không biết, thế thì sao?“.

2. Họ đang muốn giữ lại cái gì thế?

Tiếp sau hai vụ lùm xùm của các em học sinh, là đến đề án “tích hợp” môn Sử với một số môn khác để làm thành môn gì gì đó, và đưa môn này trở thành môn tự chọn thay vì bắt buộc. Nói thực tôi chưa đọc một bài viết cụ thể nào về đề án kia, nên cũng chẳng biết cái “tích hợp” mọi người đang nói đến là cái gì. Tôi chỉ mường tượng ra đại khái nó là một môn tổng hợp các kiến thức về xã hội, trong đó có các kiến thức lịch sử. Nếu như vậy thì tôi thấy cũng bình thường, tích hợp hay không cũng thế. Vì xét cho cùng lịch sử vẫn xuất hiện trong chương trình học, vấn đề là lượng thế nào và cách truyền đạt ra sao. Và việc đưa môn Sử thành tự chọn cũng là một việc tốt, vì nó tôn trọng tự do của học sinh. Thế nhưng rất nhiều người lại lên tiếng phản đối kịch liệt đề án này. Tôi cũng chỉ đọc qua loa một vài ý kiến, nhưng cảm nhận của tôi là đa số những ý kiến này không thuyết phục, dựa trên những định kiến và quan điểm lệch lạc (với quan điểm của tôi).

Nhiều người muốn giữ Sử làm một môn độc lập, thậm chí đưa ra những ý kiến như “tích hợp/tự chọn là khai tử môn Sử”. Nhưng kiến thức lịch sử đâu có biến mất khỏi chương trình sau khi được tích hợp? Học sinh đâu có bị cấm học Sử sau khi Sử thành môn tự chọn? Tại sao hầu hết mọi người không mấy quan tâm xem kiến thức Sử sẽ có những nội dung gì, được học thế nào? Tại sao họ cứ nhất mực chú tâm đến cái từ “độc lập” với “bắt buộc”? Cái mà họ thực sự quan tâm là cái gì vậy? Trong mắt tôi, cái hầu hết những người đó muốn giữ chỉ là một cái mẽ. Họ chỉ muốn giữ lại một khái niệm, một biểu tượng, một “môn Sử” trên giấy tờ và danh nghĩa. Đối với họ, một “môn Sử” “độc lập” và “bắt buộc” là một cái gì đó linh thiêng, tuyệt đối, không ai được chạm tới. Đối với họ, đây là vấn đề “sĩ diện” của “môn Sử”, của chính họ, chứ không còn là vấn đề giáo dục nữa. Họ không quan tâm xem học sinh muốn học gì, học như thế nào, có thích học hay không. Họ không quan tâm đến Sử học, đến học sinh, họ chỉ muốn bắt học sinh học “môn Sử” của họ, học những gì họ cho là học sinh phải học, đơn giản là vì họ muốn thế.

Sử học vốn không phải là một “môn học”. Sử học vốn là một môn khoa học, nghiên cứu về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Trước khi Sử bị biến tướng thành một môn giáo khoa, người ta nghiên cứu lịch sử bằng cách tìm hiểu các tài liệu lịch sử, các di tích, các nhân chứng vật chứng. Vì không ai có thể kiểm chứng được quá khứ trong hiện tại, nên lịch sử luôn mang tính chủ quan. Bởi vậy những người muốn biết được “sự thật” lịch sử chỉ có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn, đối chiếu và tự rút ra “sự thật” lịch sử của riêng mình. Khi có thêm những thông tin mới xung đột với “sự thật” hiện tại, thì “sự thật” đó cần được xem xét và điều chỉnh nếu cần thiết. Đó là khoa học. Khoa học không phải chân lý bất biến. Khoa học đơn giản chỉ là một trong những cách lý giải thế giới tự nhiên và con người, và khoa học luôn sẵn sàng thay đổi để phù hợp với những gì quan sát được từ thế giới xung quanh. Nếu chiếu theo cách hiểu đó, thì cái gọi là “môn Sử” hiện nay không phải là Sử học, càng không phải một môn khoa học. Cái mà đa số những người phản đối tích hợp và tự chọn môn Sử muốn giữ lại chỉ một công cụ tẩy não mà thôi.

Tôi không ủng hộ cũng không phản đối việc “tích hợp” môn Sử, trước hết vì tôi cũng chưa hiểu cái “tích hợp” mà người ta đang nói đến là cái gì. Tuy nhiên tôi ủng hộ quyền tự do lựa chọn. Và đọc những ý kiến đưa ra bảo vệ cho cái sự “độc lập” và “bắt buộc” của môn Sử thì tôi thấy ghê sợ. Ghê sợ vì đằng sau những ý kiến đó là những quan điểm, chuẩn mực, định kiến nguy hiểm cho giáo dục và bản thân các em học sinh. Trong những ý kiến đó, các em học sinh “phải” biết cái này, “phải” có phẩm chất kia, như thể các em không phải là những con người tự chủ mà là những công cụ phục vụ cho giấc mơ của người khác vậy. Chúng ta ngày ngày tâng bốc các em học sinh, trường trường căng biểu ngữ “tất cả vì các em học sinh thân yêu”, nhưng có được bao nhiêu người thực sự coi các em, từng em, là những con người, với đầy đủ những cảm xúc, suy nghĩ, lý tưởng, ham muốn và tự do như tất cả những “người lớn” khác? Giáo dục là cái lò luyện công cụ hay là nơi phát triển con người?

3. Lịch sử không phải để giáo dục lòng yêu nước

Một trong những lý do được đưa ra để ủng hộ môn Sử hiện nay là để “giáo dục lòng yêu nước”. Tôi rất ghét lòng yêu nước. Hay nói đúng hơn tôi rất ghét cái mà nhiều người tự cho là “lòng yêu nước”. Tôi ghét “lòng yêu nước” hơn cả “thuần phong mỹ tục”, “chuẩn mực đạo đức” hay “truyền thống văn hóa”, vì những thứ đó thường chỉ dùng để khinh bỉ, đả kích, bắt ép người khác, còn “lòng yêu nước” có thể dùng làm cái cớ để đàn áp và giết chóc. Tôi không tin vào giá trị của “lòng yêu nước”. Cái tôi tin là một cảm xúc tự nhiên và chân thành đối với gia đình, bạn bè, cộng đồng, những người nói cùng ngôn ngữ, có cùng văn hóa với mình, mong muốn cho họ được sống hạnh phúc hơn, no đủ hơn, tự do hơn. Cảm xúc đó không cần đến cái gọi là “môn Sử” hiện nay, mà hình thành thông qua sự tiếp xúc va chạm với xung quanh trong suốt quá trình trưởng thành và sinh sống của mỗi người. Nếu không có cảm xúc đó, thì cái gọi là “lòng yêu nước” chỉ là một thứ tín ngưỡng mù quáng, một công cụ để kìm kẹp và áp chế người khác, và “giáo dục” nó là một việc làm nguy hiểm.

Từ trước đến nay, người ta nghiên cứu về lịch sử (không phải “học” Sử) để làm gì? Có thể vì họ muốn dùng lịch sử để lý giải tình trạng hiện tại, lý giải những mối quan hệ đang tồn tại, dựa trên những ân nghĩa, thù oán, nhân duyên trong quá khứ, để từ đó có thể đưa ra được những hành động phù hợp, mang đến kết quả họ mong muốn. Có thể đơn giản họ chỉ muốn biết về những “sự thật” đã xảy ra. Có thể những thông tin lịch sử thu hút họ, khiến họ hứng thú lao vào tìm hiểu. Dù thế nào đi nữa, con người ta tìm đến với lịch sử là vì những động cơ và mục đích thực tiễn và tự thân, như đối với tất cả các môn khoa học khác. “Môn Sử”, nếu muốn thu hút được học sinh, cần phải phục vụ được một nhu cầu nào đó của bản thân các em học sinh, chứ không phải mục đích ích kỷ của những người xung quanh. Nói cách khác, bắt học sinh “học” lịch sử để “giáo dục” “lòng yêu nước” là một trong những nguyên nhân khiến môn Sử thất bại thảm hại như ngày nay.

Bên cạnh “lòng yêu nước”, tôi còn nghe thấy nhiều lý do khác được dùng làm căn cớ cho cái sự “bắt buộc” của môn Sử như “biết sử để tự hào dân tộc”, “không biết sử là mất gốc”, “không biết sử làm sao viết tiếp được lịch sử dân tộc”. Cảm nhận của tôi là những câu nói đó tuy hoa mỹ mà trống rỗng và vô nghĩa. “Tự hào” để làm gì? “Mất gốc” là thế nào? “Mất gốc” thì làm sao? “Viết tiếp lịch sử” là cái quái gì? Trong suy nghĩ của tôi, chỉ có những người chưa hình thành nên một “cái tôi” vững vàng, chưa thực sự tự chủ được suy nghĩ, biết mình là ai, muốn làm gì, mới cần phải bám vào những “cái phao” mang những cái tên mỹ miều như “tự hào dân tộc” hay “gốc gác cội nguồn” mà thôi. Đó là chưa kể, những điều đó không thể dùng làm lý do để bắt ép học sinh học Sử. Nếu em học sinh nào muốn học Sử để được tự hào về dân tộc, để “có gốc”, thì tốt thôi, đó là tự do của em đó. Nhưng chúng ta không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho các em” mà bắt các em phải học. Chúng ta càng không thể vì cho rằng “học Sử là tốt cho đất nước/dân tộc” (thực chất là để thỏa mãn bản thân chúng ta) mà bắt các em phải học. Vì đó là hành vi vi phạm tự do của các em học sinh.

Thêm vào đó, một điều làm tôi thấy ngạc nhiên, hay đúng hơn là thất vọng, là gần như 100% những ý kiến tranh luận về việc học Sử, kể cả từ học sinh, phụ huynh, giáo viên, cho đến chuyên gia, chính trị gia, có vẻ như đều chỉ chăm chăm vào lịch sử chính trị và quân sự Việt Nam. Hầu như tôi không thấy có mấy ý kiến động chạm một cách nghiêm túc đến các mảng khác của lịch sử. Lịch sử thế giới thì sao? Lịch sử văn hóa thì sao? Lịch sử theo chủ đề thì sao? Trừ một vài người tỉnh táo và có cái nhìn rộng, còn lại không ai bàn đến những cái đó cả. Điều này càng nói lên rằng trong nhận thức của hầu hết những người đang sôi sục phát ngôn ngoài kia, lịch sử không phải một môn khoa học, không phải là tìm kiếm và mở rộng hiểu biết, mà đơn thuần chỉ là một công cụ để phục vụ cho động cơ chính trị của bản thân mà thôi. Và nếu chúng ta còn giữ cái nhìn đó, thì còn lâu môn Sử nói riêng và giáo dục nói chung mới khá lên được.

4. 80% học sinh thích bắt nạt bạn học

Trước hết tôi xin nhận tội: tiêu đề trên là để câu khách, kẻo oan cho các em học sinh. Con số 80% tôi lấy từ một bài báo, trong đó có thông tin rằng trong một cuộc khảo sát, 80% các em học sinh cho biết ủng hộ việc bắt buộc học môn Sử. Ở đây tôi tạm thời dừng nói về bản thân môn Sử, mà muốn nói đến cái chuyện “ủng hộ bắt buộc” kia. Nghe qua câu chuyện, chúng ta sẽ có cảm giác rằng dường như đa số các em học sinh thích Sử, đồng ý bắt buộc môn Sử, và do đó môn Sử nên được làm môn bắt buộc. Nhưng nếu suy nghĩ một cách tường tận hơn, ta có thể thấy rằng, những em ủng hộ việc bắt buộc môn Sử hẳn là thích môn Sử. Do đó nếu Sử là môn bắt buộc, các em hẳn vẫn sẽ vui vẻ học. Kể cả nếu Sử là môn tự chọn, các em vẫn có thể lựa chọn môn Sử. Như vậy thì môn Sử có bắt buộc hay không, đối với bản thân các em ấy cũng không có mấy sự khác biệt. Trong cả hai trường hợp các em đó đều có quyền lợi “được học Sử”. Nói cách khác, chọn thế nào các em ấy cũng chẳng mất gì.

Ngược lại, số 20% các em còn lại thì có lẽ là không thích môn Sử cho lắm. Và một khi môn Sử trở nên bắt buộc thì các em sẽ mất đi quyền lợi “không phải học Sử”. Tất nhiên 80% các em kia cũng mất đi quyền lợi này, nhưng vì các em ấy thích môn Sử nên khả năng cao là quyền lợi này không có giá trị lắm. Như vậy, nhìn theo một cách nào đó, 80% các em học sinh trong cuộc khảo sát kia mong muốn tước đi quyền lợi của 20% bạn học trong khi bản thân mình thì không mất gì. Và đó là cái mà tôi gọi là “bắt nạt”. Tất nhiên, tôi không nghĩ rằng bản thân các em có chủ ý như thế, hay thậm chí là suy nghĩ được đến mức như thế, và các em hoàn toàn có quyền nói lên chủ kiến của bản thân. Nhưng tôi thấy lo ngại khi các em sẵn sàng ủng hộ việc hy sinh quyền lợi của bản thân, và quan trọng hơn, là hy sinh quyền lợi của người khác như vậy. Trong mắt tôi, đó là một trong những tác hại của cái gọi là “lòng yêu nước” với “tinh thần dân tộc” đang được “giáo dục” ở trường lớp.

Nói rộng ra, tâm lý trên cũng xuất hiện rất phổ biến ở con người nói chung. Khi chúng ta có cảm tình với một cái gì đó, chúng ta thường đề cao lợi ích và coi nhẹ tác hại mà nó mang lại. Sự thiên vị này càng nặng nề hơn khi cân nhắc lợi ích cho bản thân và tác hại với người khác. Điều này dẫn đến trong nhiều trường hợp chúng ta sẵn sàng áp đặt, bắt ép, cấm đoán, hay nhẹ hơn là lên án, đả kích người khác theo ý thích của mình, miễn là bản thân không bị ảnh hưởng gì. Điều đó có thể thấy rõ trong những “phong trào” như phản đối ăn thịt chó, dẹp lễ hội mổ lợn, cấm hôn nhân đồng giới, và bây giờ là bắt buộc học môn Sử. Tôi phản đối những “phong trào” đó, không phải vì tôi thích thịt chó, hay tôi đồng tính, mà vì tôi lo sợ rằng chúng sẽ tạo nên những tiền lệ xấu, tạo nên một xã hội ngột ngạt, trong đó con người sẵn sàng siết cổ nhau chỉ vì sở thích bản thân, miễn là cổ mình không (chưa) bị siết. Tôi không muốn nói điều đó là “sai”, vì nó là một phần tâm lý tự nhiên của con người. Tôi cũng không muốn nói số đông phải nhượng bộ số ít. Tôi chỉ muốn nhắn nhủ rằng: gieo gió thì gặt bão. Sẽ có ngày những người từng hùa theo đám đông đi siết cổ người khác, lại bị một đám đông khác hùa vào siết cổ với danh nghĩa “sở thích của số đông”.

5. Tôi ghét “học” Sử, và tôi thích lịch sử

Nếu bạn nào đủ kiên nhẫn đọc được đến đây, có lẽ sẽ có ấn tượng rằng tôi là một người ghét Sử. Thẳng thắn mà nói tôi rất chán ghét “học” Sử, nhất là sau khi đã trải qua thời cấp 2 với một cô giáo dạy Sử thường xuyên cho điểm dưới 5 và được coi là nỗi sợ hãi của học sinh cả trường. Tôi chán “học” Sử vì những cái tôi muốn biết, muốn tìm hiểu kỹ hơn thì lại không có hoặc không được chú ý, mà những cái tôi chẳng hề có hứng thú thì lại được viết tràng giang đại hải. Tôi ghét “học” Sử vì cái gọi là “học” ở trường gắn liền với “kiểm tra” và “thi cử”. Mà “kiểm tra” với “thi cử” của “môn Sử” là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa, vô bổ và vô căn cứ, làm lãng phí thời gian, lãng phí trí lực của con người.

Nhưng thế không có nghĩa là tôi ghét lịch sử. Tôi thích lịch sử là đằng khác. Thời sinh viên tôi có thể dành ra hàng tiếng đồng hồ đọc về các giai đoạn, các sự kiện lịch sử trên Wikipedia. Tôi có thể say sưa tìm hiểu về cách tổ chức của các quân đoàn lê dương La Mã, cách chiến đấu của những chiến binh pha lăng Hy Lạp, những lãnh chúa Nhật Bản của thời kỳ Chiến Quốc, cuộc binh biến của đội quân Janissary, số phận của đế chế hậu duệ La Mã Byzantine, “quân đội sở hữu quốc gia” của xứ Phổ,… Trong những nội dung tôi đã từng tìm hiểu có cả hệ thống cung cấp nước bằng ống tre của thành Edo, cách con người ta “đi ngoài” từ cổ chí kim, cách chế tạo và sử dụng súng hỏa mai, thuyền dài của người Viking, vai trò của nước chanh trong thời đại hải hành… Một số không ít những nội dung đó tôi được truyền cảm hứng từ trò chơi, truyện tranh, phim ảnh. Một số khác là do có kết nối với các nội dung tôi đang tìm hiểu. Và một số đơn giản là vì một ngày đẹp trời tự dưng tôi nổi hứng.

Đoạn văn trên tôi viết không hẳn chỉ để khoe. Mà qua đó, tôi muốn nhấn mạnh vào hai điều: 1. lịch sử rất thú vị, và 2. lịch sử không hề và không thể biệt lập một mình. Về điểm thứ nhất, tôi không thể giải thích một cách rõ ràng tại sao tôi lại thấy lịch sử thú vị, tôi càng không thể “thuyết phục” bất kỳ ai rằng lịch sử thú vị chỉ bằng lời nói. Tôi chỉ có thể nói đơn giản rằng việc phát hiện ra những gì con người đã từng làm trong quá khứ, lý giải được tại sao họ lại làm như vậy, và nhìn thấy sự liên hệ giữa quá khứ với hiện tại đem lại cho tôi một niềm thích thú. Ý nghĩa của mọi vật nằm trong mối quan hệ giữa vật đó với xung quanh. Việc phát hiện ra những mối quan hệ đó khiến cho tôi thấy thế giới xung quanh có ý nghĩa hơn, chứ không hoàn toàn hỗn loạn và ngẫu nhiên. Tuy nhiên, cái sự thích thú đó đến từ trong bản thân tôi, do tự tôi tìm ra. Tôi không cho rằng vì tôi thấy lịch sử thú vị nên tất cả mọi người khác cũng thấy vậy, hay tất cả mọi người khác đều nên/cần/phải “học” lịch sử như tôi.

Về điểm thứ hai, nhiều người cho rằng “môn Sử” là một “môn khoa học” “độc lập”. Tôi không rõ họ muốn nói gì thông qua từ “khoa học” và “độc lập”, nhưng qua những gì tôi đã tìm hiểu, thì tôi tin rằng lịch sử không thể tách rời ra khỏi rất nhiều các lĩnh vực khác, từ to tát như chính trị, quân sự, văn hóa, đến cụ thể như dinh dưỡng, tâm lý, y học, vật liệu, ngôn ngữ,… Người nghiên cứu lịch sử cần đến, và sẽ buộc phải tiếp xúc với những lĩnh vực đó để hiểu được những gì đã xảy ra trong quá khứ, hiểu được tại sao lịch sử lại diễn ra như vậy. Hơn nữa, chính sự liên kết với các mặt, các lĩnh vực thực tiễn của cuộc sống hiện tại đem lại ý nghĩa cho lịch sử, khiến người ta tự tìm đến với lịch sử. Một thứ lịch sử “chỉ có lịch sử” sẽ là một thứ lịch sử rỗng tuếch, nhàm chán, vô dụng và vô nghĩa.

Cuối cùng, tôi có một lời khuyên cho những người muốn các em học sinh nói riêng và mọi người nói chung “thích” lịch sử: nếu muốn thuyết phục ai đó, hãy tìm cách phục vụ người đó, thay vì phục vụ bản thân. Cá nhân tôi rất thích chơi trò chơi điện tử. Khi chơi Rome: Total War, tôi có hứng tìm hiểu về đế chế La Mã và Carthage. Khi chơi Mount & Blade Warband: Viking Conquest, tôi có hứng tìm hiểu về nước Anh thời kỳ tiền Norman. Tôi có hứng thú tìm hiểu lịch sử từ trò chơi, vì một khi đã bắt gặp trong trò chơi, những vùng đất, những quốc gia, những dân tộc đó không còn là xa lạ đối với tôi nữa. Tôi biết thành Carthage ở đâu trên bản đồ thế giới, vì tôi đã xuất phát từ đó mà chinh phục gần hết Địa Trung Hải. Tôi biết từng đường biển, từng vùng đất, từng hòn đảo mà tôi đã đi qua trên bước đường “chinh chiến”. Và do đó đối với tôi chúng “có ý nghĩa”. Cứ thế mỗi trò chơi có bối cảnh lịch sử lại mở ra cho tôi một chương khác của lịch sử thế giới.

Điểm quan trọng ở đây là những trò chơi đó không được tạo ra để “học lịch sử”. Chúng được tạo ra để phục vụ đúng mục đích của một trò chơi: giải trí. Và vì chúng phục vụ tốt mục đích đó của tôi, nên tôi sẵn sàng tiếp nhận chúng. Cảm hứng với lịch sử đơn thuần chỉ là tác dụng phụ, nhưng hiệu quả hơn nhiều so với hàng tá những lý lẽ cao siêu và “cao cả” mà mọi người đang ra rả rao giảng hiện nay. Tôi nói vậy không phải để muốn nói rằng môn Sử phải được biến thành trò chơi, hay lên phim, hay tìm đủ cách “sinh động hóa”, “lý thú hóa”. Tôi muốn nhắc lại rằng lịch sử, hay phương tiện truyền tải lịch sử, trước hết phải phục vụ được, và phục vụ tốt, một nhu cầu thực tiễn và tự thân của học sinh nói chung và mọi người nói riêng, nếu muốn được đón nhận và tiếp thu có hiệu quả. Mọi sự cưỡng ép truyền tải lịch sử nhằm phục vụ mục đích bên ngoài đối tượng được truyền tải đều sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. Hay ít nhất, đó không phải là lịch sử, mà là “môn Sử”.


Bài viết lần này khá dài, do nó tổng hợp những suy nghĩ lẻ tẻ rời rạc của tôi xung quanh câu chuyện “học” Sử. Tôi xin tóm tắt lại những ý chính mà mình muốn truyền tải như sau: 1. hãy tôn trọng tự do của các em học sinh, của từng em học sinh, 2. hãy suy nghĩ từ góc nhìn của các em học sinh, 3. hãy để lịch sử là một môn khoa học, là sự tìm hiểu và khám phá tri thức, 4. đừng lợi dụng lịch sử cho mục đích của bản thân, 5. nếu muốn ai đó thích lịch sử, hãy tìm cách để lịch sử phục vụ được mục đích nào đó của họ. Những suy nghĩ này không bó hẹp trong phạm vi lịch sử hay giáo dục, mà có thể và nên được áp dụng cho mọi mặt của xã hội con người. Tôi tin rằng chỉ có như vậy mọi việc chúng ta làm mới có thể có hiệu quả cao, đạt mục đích mong đợi, và dẫn đến một thế giới hòa bình hơn.

Trong bài viết này, tôi chủ yếu đưa ra các nhận định các góc nhìn của cá nhân, chứ không tập trung vào các giải pháp cụ thể. Vấn đề tìm giải pháp tôi xin nhường lại cho những người trong cuộc và có hiểu biết hơn. Tuy nhiên theo tôi những giải pháp đó cần dựa trên cơ sở là những điểm tôi đã liệt ra ở trên nếu muốn đạt được sự thay đổi thực chất và tích cực. Bạn nào có hứng thú có thể tham khảo thêm các bài viết khác của tôi như “Bàn về cái sự ‘học'”, “Tôi học tiếng Nhật ‘vui’ thế nào”“Bàn về ‘tự do'”.

Bàn về cái sự “học”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “How children fail” và “How children learn” của John Holt, “Thinking Fast and Slow” của Daniel Kahneman.

1. Mô hình thế giới thu nhỏ

Có khi nào chúng ta tự hỏi: chúng ta ghi nhớ tri thức như thế nào? Tri thức tồn tại trong trí não chúng ta dưới dạng gì? Nhìn vào cung cách dạy và học ở trong hệ thống trường lớp chính quy hiện nay, dường như phần đông chúng ta, hay ít nhất là phần đông những người làm giáo dục, tin rằng tri thức tồn tại dưới dạng các câu trả lời, các “chân lý” và “sự thật” được diễn giải bằng ngôn từ và ghi nhớ nguyên xi trong trí não. Tuy nhiên tôi không nghĩ vậy. Nhiều nhà giáo dục và tâm lý học đã nhắc đến việc tri thức tồn tại trong trí não của con người dưới dạng một mô hình đơn giản hóa của thế giới xung quanh. Theo cách hiểu của tôi, mô hình đó bao gồm những khái niệm, những tính chất, những quan hệ, và những quy luật mà mỗi chúng ta quan sát được từ thế giới xung quanh và được diễn giải bằng suy nghĩ của bản thân mà không cần phải có ngôn từ.

Mô hình đó mô tả lại thế giới xung quanh nhưng không nhất thiết phản ánh đúng toàn bộ bản chất thế giới xung quanh, mà nó chỉ phản ánh cách chúng ta quan sát và lý giải thế giới tại một thời điểm nhất định, với những giới hạn về năng lực, kinh nghiệm và môi trường tại thời điểm đó. Mô hình này trống rỗng khi chúng ta mới sinh ra, và được bồi đắp thêm, sửa chữa lại, bỏ bớt đi theo quá trình trường thành của chúng ta. Cấu trúc của nó có thể giống như một tập hợp các trang wikipedia, nhưng được viết bằng suy nghĩ, hình ảnh và cảm giác chứ không phải ngôn từ. Mỗi trang viết về một đề tài tương đương với một khái niệm được lưu giữ trong trí não. Nội dung của trang sẽ chứa những tính chất, quy luật, ký ức,… của chúng ta về khái niệm đó. Đồng thời trong mỗi trang sẽ có những đường link đến các trang khác, thể hiện cho các mối dây liên kết giữa các khái niệm với nhau. Chỉ có điều số lượng khái niệm và quan hệ cũng như lượng thông tin mà chúng ta lưu giữ sẽ lớn hơn rất nhiều một trang wikipedia thông thường, trong khi đó công cụ tìm kiếm lại thường là thiếu tin cậy.

2. Việc “học” diễn ra thế nào

Việc “học” là việc tiếp thu thông tin mới. Khi tiếp thu một thông tin nào đó, chúng ta sẽ sử dụng mô hình thế giới mà mình đang có để diễn dịch thông tin đó thành suy nghĩ của bản thân, đồng thời tìm cách lý giải và phân loại thông tin đó, để xác định xem nó nói về cái gì trong mô hình của chúng ta, và nó có “hợp lý” hay không. Nếu thông tin đó chứa những khái niệm mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những khái niệm đó trong mô hình. Nếu thông tin đó chỉ ra những mối quan hệ mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những kết nối mới giữa các khái niệm trong mô hình với nhau. Những tính chất, quy luật mới sẽ được ghi chú lại vào những khái niệm tương ứng. Tóm lại, việc học không đơn giản chỉ là ghi nhớ tri thức, mà là một quá trình diễn dịch, lý giải tri thức và sau đó kết nối, hòa nhập tri thức vào mô hình thế giới của cá nhân, tương tự như quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể vậy.

Tuy nhiên, cùng một tri thức không phải bao giờ cũng sẽ được tiếp thu như nhau. Một đứa trẻ chưa có khái niệm gì về ký hiệu toán học hay tổng, tích, bằng sẽ chỉ thấy “3×3=9” là mấy đường kẻ ngoằn ngoèo vô nghĩa. Một đứa trẻ mới chỉ học thuộc bảng cửu chương mà chưa thực sự nắm được khái niệm tính nhân rất có thể sẽ chỉ nhớ rằng “3×3=9” và “3×4=12” mà sẽ không hiểu được rằng “3×4=3×3+3”, và nếu có được dạy điều đó cũng rất có thể sẽ chỉ coi đó là một tri thức mới mà không nhận ra đó là một quan hệ có thể suy ra từ tri thức đã có. Khi tri thức mới không tạo được kết nối với mô hình thế giới đã có bên trong trí não chúng ta, và không thể được kiểm chứng bằng mô hình đó, thì đối với trí não chúng ta lúc đó tri thức ấy chưa được “chứng minh”, không có tính “hợp lý”, không mang theo “ý nghĩa”, mà đơn giản chỉ là một “dữ liệu” xa lạ. Nếu bị bắt buộc chúng ta vẫn có thể ghi nhớ một cách gượng ép, nhưng khi đó tri thức ấy sẽ chỉ được “neo tạm” với mục đích đối phó mà sẽ không được tin tưởng dùng đến trong cuộc sống, trừ khi bị kiểm tra.

Nhìn vào cách học và dạy học thường thấy trong trường lớp, tôi có cảm tưởng là chúng ta nghĩ rằng việc “học” tri thức là việc “nuốt trôi” tri thức, như đổ nước vào bình vậy. Chúng ta nghĩ rằng cứ truyền tải được, nhớ được là đã học được, nên chúng ta mặc định rằng dạy học hiệu quả là truyền tải được thật nhiều tri thức, và đánh đồng việc dạy học với việc học. Thêm vào đó, chúng ta cũng không mấy quan tâm xem từng người học có sẵn sàng và mong muốn đón nhận tri thức hay không, mà cứ nhắm mắt dạy theo một giáo trình và thời gian biểu khuôn mẫu. Kết quả là các nhà giáo dục nước ta chỉ thấy bàn về việc cải tiến phương pháp dạy, dạy cái gì vào lớp mấy, làm thế nào để dạy học hiệu quả hơn, chứ tuyệt không thấy mấy ai tìm hiểu xem người học học thế nào, người học muốn học cái gì, làm thế nào để người học học hiệu quả hơn. Rốt cuộc chúng ta dạy là để giúp người học học hay là dạy chỉ để dạy, để thỏa mãn mục đích ích kỷ của chúng ta?

3. “Chân lý” nằm ở đâu

Nếu hỏi một nhà khoa học đích thực xem cái gì quyết định đúng sai, thì có lẽ người đó sẽ trả lời là “thực tiễn”. Nhưng nếu hỏi một em học sinh xem ai có quyền quyết định đúng sai, thì tôi dám chắc câu trả lời sẽ là “thầy cô giáo”. Một nhà khoa học tìm kiếm chân lý bằng cách quan sát thực tiễn, đưa ra các giả thuyết, và kiểm nghiệm các giả thuyết đó bằng thực tiễn. Mỗi giả thuyết thể hiện cho một cách hiểu, một cách nhìn đối với cùng một thực tiễn, và nhiều giả thuyết khác nhau, thậm chí trái ngược, có thể song hành cùng tồn tại cho đến khi bị chứng minh là sai. Đó là khoa học. Còn ở trong trường lớp, thầy cô giáo (và SGK) là người nắm độc quyền đối với “chân lý”. Mọi “chân lý” đều xuất phát từ thầy cô giáo, muốn biết “chân lý” chỉ có thể hỏi thầy cô giáo. Mọi kết luận và kết quả mà người học đưa ra đều phải qua sự đánh giá đúng sai của thầy cô giáo. Người học không có công cụ và quyền hạn để tự đánh giá và kiểm chứng thành quả trí óc của chính mình, cũng như không được có cơ hội và sự giúp đỡ để tự do tìm kiếm chân lý của riêng mình.

Hậu quả là những thứ chúng ta đang dạy trong trường lớp, nhìn từ phía người học, đơn giản chỉ là “cách để có kết quả được thầy cô giáo chấp nhận là đúng” chứ không phải là tri thức và kỹ năng gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Người học học những quy trình, quy luật và nội dung do thầy cô giáo đưa ra, nhưng hầu như không có cách nào tự mình kiểm chứng xem những gì mình học có “đúng” hay không, có “hợp lý” hay không, có ý nghĩa gì hay không, mà chỉ có thể nộp bài cho thầy cô giáo chấm và cầu trời được điểm tốt. Ở trường lớp, người học bị buộc phải học và sống trong một thế giới khác, tách biệt với thực tiễn cuộc sống, một thế giới mà mọi chân lý đều đã ghi cứng trong sách vở và mọi luật lệ do thầy cô giáo nắm trong tay. Trong thế giới đó không có chỗ cho sự nghi ngờ và kiểm chứng, sự tìm tòi và khám phá, hay sự khác biệt và tự do, mà chỉ có sự phục tùng và chấp nhận vô điều kiện mà thôi.

Nói cách khác, những cái chúng ta đang dạy trong trường lớp, tuy hầu hết mang danh khoa học, nhưng thường xuyên được truyền tải bằng một phương pháp không hề có tính khoa học, mà giống với việc giảng đạo trong các tôn giáo cực đoan khi nói về thần quyền hơn. Chân lý thực sự phải đến từ thực tiễn, hoặc ít nhất là đến từ niềm tin của chính bản thân người học, chứ không phải do người ngoài áp đặt lên. Người học phải được nghi ngờ và kiểm chứng tri thức trong thực tiễn hoặc trong mô hình thế giới của bản thân, phải được từ chối những tri thức mình chưa sẵn sàng tiếp thu hay không cảm thấy thuyết phục, và phải được giữ những suy nghĩ, cách nhìn nhận của riêng bản thân cho đến khi tự mình nhận thấy cần sửa đổi. Tri thức ở trường lớp chỉ cần đọc sách cũng có thể biết, nhưng khả năng tự học và suy nghĩ độc lập phải được nuôi dưỡng mới có thể có được.

4. Thế nào là “tự học”

Chúng ta thường có một định kiến rằng chỉ có thầy cô giáo và trường lớp mới có tư cách và khả năng “dạy học”, rằng không có họ thì người học không thể “học” được, rằng không có sự dẫn dắt, thôi thúc, bắt ép, kiểm tra của họ thì người học sẽ ngồi không chứ không “tự học”. Thực tế một đứa bé mới sinh ra đã có khả năng tự học và tính ham học rất cao. Lượng tri thức và kỹ năng mà một đứa trẻ tự học được cho đến trước khi vào trường lớp là rất lớn, và có ý nghĩa thực tế hơn rất nhiều những gì nó bị bắt phải học suốt mười mấy năm sau đó. Những tri thức và kỹ năng đó bao gồm những khái niệm căn bản về hình dạng, mùi vị, màu sắc, về những đồ vật, con người và môi trường xung quanh, những hiểu biết căn bản về giao tiếp người với người, về tiếng mẹ đẻ, và các quy luật tự nhiên đơn giản nhất như vật buông ra thì rơi, hay vật cứng bẻ mãi thì gãy, nhưng vật mềm thì ko gãy,… Trẻ em chỉ mất đi khả năng và ham muốn tự học khi phải bước vào trường lớp mà thôi.

Vậy một đứa trẻ tự học như thế nào? Câu trả lời rất đơn giản: bằng cách lặp đi lặp lại quá trình thu thập thông tin, rút ra kết luận, rồi kiểm nghiệm kết luận đó. Một ví dụ đơn giản là khi trẻ khóc mà mẹ lập tức chạy lại chỗ trẻ, và việc này được lặp đi lặp lại, thì trẻ sẽ hiểu rằng hành động khóc của mình có thể tạo nên sự thay đổi, có thể lôi kéo sự chú ý của mẹ, tức là mình có thể “giao tiếp” được với mẹ. Quá trình này có thể diễn ra một cách vô thức, và những tri thức thu được cũng không hề cần được diễn giải bằng ngôn từ. Việc tự học ở các độ tuổi sau này cũng giống như vậy về bản chất. Thông tin có thể được thu thập qua quan sát thực tiễn hay tiếp thu các nguồn thông tin có sẵn từ sách vở hay truyền miệng. Việc kiểm nghiệm có thể được diễn ra bằng thí nghiệm thực tiễn, đối chiếu nhiều nguồn, hay đơn giản là một phép đánh giá mức độ “hợp lý” trong mô hình thế giới của cá nhân.

Tự học là hình thức học hiệu quả nhất, vì chúng ta chỉ tự học những thứ chúng ta thấy có hứng thú, có mong muốn, có nhu cầu, và đã sẵn sàng để học. Nếu ai đó có thấy quá trình tự học nói trên có phần quen thuộc, thì có lẽ là bởi toàn bộ công cuộc khám phá khoa học của con người cũng chính là một quá trình tự học. Có người có thể cho rằng việc để cho người học tự mình khám phá những tri thức đã có sẵn là việc “phát minh lại cái bánh xe”. Tôi không cho là vậy. Nhân loại đã phát minh ra cái bánh xe, nhưng đối với một đứa trẻ chưa nhìn thấy cái bánh xe bao giờ, thì cái bánh xe vẫn là một thứ mới lạ so với mô hình thế giới mà đứa trẻ đó đang mang trong mình, và do đó cần có quá trình khám phá và kết nối như mọi tri thức khác. Đứa trẻ cũng không cần phải phát minh lại cái bánh xe, mà cái bánh xe đã có sẵn ở đó, ở khắp nơi quanh nó, chỉ đợi đứa trẻ quan sát và học hỏi mà thôi.

5. Điều kiện cho việc tự học

Để có thể tự học được, chúng ta cần có một số điều kiện nhất định: 1. một môi trường tương đổi ổn định không quá hỗn loạn, 2. cơ hội và thời gian để quan sát, kết luận và kiểm nghiệm, và 3. phản hồi rõ ràng và nhanh chóng từ môi trường xung quanh. Đối với điểm 1, toàn bộ hệ thống tri thức của con người được xây dựng dựa trên tiền đề là môi trường xung quanh chúng ta hoạt động theo những quy luật nhất định, và chúng ta có thể đoán trước kết quả nếu nắm được những quy luật đó. Một môi trường quá hỗn loạn, thay đổi liên tục và đầy bất ngờ sẽ khiến cho người học không thể nhìn ra được những hình mẫu và quy luật ẩn trong đó. Hãy tưởng tưởng thế giới sẽ loạn thế nào nếu như cùng một đoạn thẳng mà mỗi lần đo lại ra một chiều dài khác nhau? Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên vì thế mà tạo một môi trường giả tạo, “nhà kính” dành riêng cho người học, mà chỉ nên hạn chế sự hỗn loạn ở một mức độ vừa phải để không che lấp đi các quy luật.

Điểm 2 là điểm yếu căn bản của hệ thống trường lớp hiện tại. Thông thường, chúng ta không ghi nhớ từng chi tiết, từng thông tin trong cuộc sống. Chỉ khi chúng ta bắt gặp một thông tin nhiều lần, hoặc thông tin đó để lại ấn tượng, gây sự hứng thú, thì chúng ta mới bắt đầu nhận ra, để ý đến, và xử lý nó một cách thực sự. Chúng ta học bằng cách tắm mình trong biển thông tin thô, và chỉ giữ lại một lượng nhỏ thông tin nguyên liệu mà chúng ta thấy có giá trị để biến thành sản phẩm hoàn thiện là tri thức. Việc thu thập thông tin diễn ra nhanh hay chậm, theo thứ tự nào, tập trung vào mảng nào phụ thuộc vào sở thích và năng khiếu của từng người. Trong khi đó hệ thống giáo dục ở trường lớp, vì nôn nóng hay vì không hiểu và không tin tưởng vào quá trình tự học, lại chỉ muốn người học chấp nhận và nuốt trôi những sản phẩm cuối cùng một cách nhanh chóng theo một thời gian biểu định trước.

Điểm 3 có lẽ là điểm ít được để ý đến. Tốc độ và mức độ rõ ràng của các phản hồi đối với những thí nghiệm của người học, dù phản hồi đó đến từ môi trường hay người hướng dẫn, đóng vai trò rất lớn đến tốc độ và chất lượng của quá trình tự học. Đó cũng chính là lý do vì sao các ngành khoa học tự nhiên thường chính xác và cụ thể hơn các ngành khoa học xã hội: trái với xã hội loài người, tự nhiên là một nguồn phản hồi nhanh chóng và chất lượng. Một ví dụ cho lĩnh vực có phản hồi tốt và do đó rất thích hợp cho tự học là công nghệ thông tin. Máy tính phản hồi tức khắc, và trong cùng một điều kiện luôn cho phản hồi giống nhau. Điều tương tự cũng có thể áp dụng vào việc đào tạo nhân viên hay bất cứ đối tượng nào khác. Việc đưa ra phản hồi thường xuyên và rõ ràng sẽ có hiệu quả tốt hơn là gom góp và chờ đợi. Điều quan trọng cần nhớ là hãy để phản hồi chỉ là phản hồi, không nên là sự uốn nắn và chỉ trích. Việc sử dụng phản hồi như thế nào nên được để cho người học tự quyết định.

6. Cần gì phải “kiểm tra”

Một trong những sự cản trở việc học tập mà hệ thống trường lớp gây ra cho người học, bên cạnh việc độc quyền chân lý và bóp chết khả năng tự học, là việc “nghiện” kiểm tra. Các kỳ kiểm tra, thi thố được thực hiện với mục đích “đánh giá kết quả học tập” của người học. Nhưng cá nhân tôi cho rằng việc kiểm tra không nói lên chính xác lượng và chất của tri thức, mà đơn thuần chỉ đánh giá khả năng làm bài kiểm tra của người học mà thôi. Có lẽ ở Việt Nam không có người nào ảo tưởng đến mức thực sự tin rằng kết quả bài thi tốt nghiệp THPT nói lên trình độ tri thức tổng quát cần có ở một học sinh THPT khi bước vào xã hội. Vì nếu quả thực như vậy, thì hãy thử cho tất cả những người đã tốt nghiệp làm lại một bài thi đột xuất xem sao. Chắc chắn quá nửa số người sẽ trượt thẳng cẳng, tức là không đủ tư cách tốt nghiệp THPT. Vậy tại sao họ lại được mang bằng THPT, được ra xã hội làm việc? Chỉ riêng sự tồn tại của khái niệm “học ôn thi” đã đủ nói lên sự vô nghĩa của các bài thi đó.

Trên thực tế, các bài kiểm tra là một hình thức phạt đòn đối với người học, là cây gậy trong chiến lược cây gậy và củ cà rốt. Mà đã là phạt đòn, thì sẽ gây ra sự sợ hãi và đối phó. Người học sẽ học để có thể đạt điểm tốt, thay vì học để thu tri thức về mình, để khám phá thế giới, để cảm nhận sự vui thú của bản thân việc học. Gần đây giới giáo dục có câu nói “cần gì, học nấy”, nhưng chừng nào còn có kiểm tra và thi cử, thì thực tiễn sẽ vẫn mãi là “thi gì, học nấy” mà thôi. Tất nhiên tôi không phủ nhận hoàn toàn vai trò của việc thi cử. Tất cả các tổ chức hoàn toàn có quyền yêu cầu một kết quả thi nhất định trước khi cấp chứng chỉ hay nhận đầu vào. Các bài kiểm tra cũng là một công cụ tốt để người học đánh giá tiến bộ, miễn là nó không mang tính bắt buộc và không có hậu quả về sau. Nếu chúng ta biến việc thi thố kiểm tra thành một phần của việc học với những hậu quả tâm lý và sự nghiệp nặng nề, thì tức là chúng đang phá hoại động lực học tập tự thân của người học.

7. “Thoát trường học”

Giải pháp mà cá nhân tôi thấy hợp lý nhất cho những hạn chế của hệ thống trường lớp hiện nay có thể được tìm thấy trong phong trào “thoát trường học” (unschooling), bắt đầu xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970. Phong trào này đề cao tính tò mò và khả năng tự học của trẻ em, và cho rằng quyền quyết định học gì, vào lúc nào và bằng cách nào nên thuộc về trẻ em. Trẻ em có thể học bằng cách quan sát xung quanh, đọc sách báo tư liệu, trải nghiệm thực tế, tiến hành thí nghiệm, thực hiện các dự án, kể cả tham gia các khóa học thông thường,… Người hướng dẫn (cha mẹ, thầy cô giáo) sẽ chỉ có vai trò giúp đỡ bằng cách cung cấp tư liệu học, dẫn trẻ đến những nơi giúp ích cho việc học, đưa ra các gợi ý, hướng dẫn và câu trả lời khi được yêu cầu, quan sát và ghi chép tiến trình học, đảm bảo an toàn cho trẻ trong quá trình học, và nói chung là hỗ trợ nhưng không điều khiển việc học.

Trong phương pháp học này, trẻ em được chịu trách nhiệm và tự do theo đuổi mơ ước, sở thích, năng khiếu và nhu cầu học của bản thân. Việc học cũng sẽ được diễn ra không theo một thời gian biểu cố định nào, mà tùy vào mức độ sẵn sàng của trẻ, vì mỗi đứa trẻ đều có con đường phát triển trí não của riêng mình. Một đứa trẻ hoàn toàn có thể đợi đến 7-8 tuổi mới bắt đầu học đọc học viết, nếu như điều đó phù hợp với sự phát triển trí não của cá nhân đứa trẻ. Điều quan trọng là trong suốt thời gian học và sinh hoạt, đứa trẻ luôn được nhìn thấy mọi người xung quanh đọc và viết, để nó có thể thấy rằng đọc và viết là những kỹ năng cần thiết và có ích, từ đó nảy sinh mong muốn học những kỹ năng đó. Mức độ tiến triển và kết quả của việc học tập sẽ không được đánh giá qua các bài kiểm tra, mà qua chính những gì đứa trẻ đã làm được trong quá trình học: những cuốn sách đã đọc, những dự án đã hoàn thành, những bài phát biểu và bài viết, và quan trọng nhất, là thông qua giao tiếp trực tiếp với đứa trẻ đó.

Chú ý rằng tôi không cho rằng “thoát trường học” là phương pháp giáo dục hoàn hảo dành cho tất cả mọi trẻ em. “Thoát trường học” cũng có một số vấn đề cần lưu ý phòng tránh như nguy cơ thiếu hụt giao tiếp xã hội và bạn bè, xung đột với hệ thống giáo dục chính quy, nguy cơ hình thành suy nghĩ một chiều cực đoan,… Một số trẻ cũng có thể cảm thấy cách thức học trong trường lớp phù hợp với bản thân hơn. Việc học qua “thoát trường học” cũng có thể được diễn ra song song với việc học tại trường lớp bằng hình thức bán thời gian. Dù gì đi nữa, tôi tin rằng, nếu như đứa trẻ thực sự có mong muốn, thì việc từ chối đến trường cũng như việc được tự do học hành theo ý thích nên được coi là một quyền lợi căn bản của trẻ em.


Bài viết này góp nhặt lại những suy nghĩ rời rạc của tôi về vấn đề học và dạy học cho trẻ em. Tôi không có ý xúc phạm các thầy cô giáo hay phủ nhận những kết quả mà hệ thống trường lớp chính quy đã đạt được kể từ khi ra đời. Nhưng tôi cũng tin rằng những vấn đề tôi nêu ra ở đây là hoàn toàn có thật và đáng suy ngẫm. Xét cho cùng chúng ta dạy học là để làm gì? Chúng ta đang giáo dục trẻ em bằng một quy trình công nghiệp không khác gì một nhà máy sản xuất hàng hóa hàng loạt, đối xử với các em không khác gì những cỗ máy chỉ cần biết làm theo hướng dẫn với một lịch trình có sẵn, vậy mà đùng một cái khi các em lớn lên chúng ta lại yêu cầu các em phải “có tính sáng tạo”, “biết tự suy nghĩ”, vậy chẳng phải nực cười lắm sao? Nên chăng chúng ta hãy dành nhiều niềm tin hơn cho các em, những người mà chúng ta vẫn thường ca tụng là mầm non tương lai của đất nước, để mầm non đó được tự do phát triển một cách tự nhiên, thay vì bị uốn nắn cắt tỉa trong chậu nuôi nhà kính.