Cha mẹ và con cái và lợi ích và xung đột

Có lẽ phần đông các bạn trẻ thế hệ tôi đều đã từng ít nhất một lần được nghe câu “bố/mẹ/tao làm XYZ là muốn tốt cho con/mày chứ cho ai” hay đại khái như vậy từ miệng cha mẹ mình khi bị bắt ép làm một điều gì đó mà bản thân không thích. Và hẳn trong số các bậc cha mẹ trẻ ngày nay cũng không thiếu người đã từng hay vẫn đang có những suy nghĩ muốn con làm một điều gì đó mà bản thân cho là tốt cho con, trong khi chưa suy nghĩ thấu đáo đến mong muốn thực sự của đứa trẻ. Trong bài viết lần này tôi xin bàn về sự xung đột này giữa cha mẹ và con cái.

Trước hết chúng ta hãy nói về vấn đề thế nào là “cái tốt”, là “lợi ích”, là “vì hạnh phúc con cái”. Hẳn ít ai phản đối rằng “hạnh phúc” và rộng ra là “lợi ích” là một cảm nhận mang tính chủ quan, tức tùy thuộc vào giá trị quan của cá nhân người tiếp nhận. Mà đã như vậy, thì rõ ràng người có tư cách nhất, nếu không muốn nói là người duy nhất có đủ thẩm quyền, để mà quyết định xem một sự vật sự việc có đem lại “hạnh phúc” và “lợi ích” cho ai đó hay không, phải là chính người sẽ được/phải tiếp nhận cái “hạnh phúc” và “lợi ích” ấy, vì đó là người nắm rõ nhất tiêu chí để đưa ra đánh giá. Một sự đánh giá từ người khác, nếu không phải là niềm tin hay phỏng đoán, thì cũng chỉ là suy đoán chứ không phải là quyết định cuối cùng.

Do vậy, rõ ràng việc các bậc cha mẹ bắt ép con cái làm một điều gì đó mà chúng không muốn với lý do “vì lợi ích của con” là một điều hoàn toàn mâu thuẫn, vì lợi hay không phải do con quyết định, con đã cự tuyệt chứng tỏ mong muốn của bố mẹ không phải là “lợi ích” của con. Việc cha mẹ khăng khăng vin vào cái lý do “vì lợi ích của con”, do đó, không những là một điều vô lý đùng đùng, mà còn thể hiện một sự phủ nhận và thiếu tôn trọng đối với chủ thể đã đưa ra quyết định bác bỏ lý do ấy, mà ở đây là nhân cách tự thân của con.

Tất nhiên, “hạnh phúc” và “lợi ích” nên được đánh giá một cách toàn diện, công bằng và lâu dài. Và quả thực, có nhiều trường hợp con cái đưa ra những đánh giá mang tính hẹp hòi, thiên lệch hoặc ngắn hạn đối với những mong muốn hay yêu cầu của cha mẹ, và khi lớn lên sẽ thay đổi suy nghĩ mà cảm thấy biết ơn những gì cha mẹ đã làm. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không hề thay đổi được bản chất của sự việc là cha mẹ đã có hành động phủ nhận nhân cách của con, ít ra là tại thời điểm sự việc xảy ra và nhìn từ quan điểm của con cái.

Kết quả của điều đó là gì? Là về mặt lâu dài, cả con cái lẫn cha mẹ đều thiệt đơn thiệt kép. Việc nhân cách của con cái bị cha mẹ phủ nhận trước hết sẽ gây tổn thương tinh thần cho con, vì cha mẹ thường là những người con tin cậy và mong muốn được yêu thương và chấp nhận nhất. Quan trọng hơn, nó gây cản trở đến việc hình thành nhân cách tự thân của con. Đó là bởi vì việc phải làm một điều mà bản thân không muốn vì một lý do mà bản thân không phục, về bản chất chính là việc con người ta phải tự phủ nhận nhân cách của bản thân ở mức độ nào đó để sống theo một nhân cách giả tạo hòng xoa dịu sức ép kia. Nếu điều này diễn ra thường xuyên liên tục kéo dài, và nhân cách tự thân của con cái không đủ mạnh mẽ để chống cự, thì sẽ dẫn đến việc đứa trẻ lớn lên nhưng không có được một nhân cách thật cho riêng mình, mà chỉ sống theo những chuẩn mực và mong muốn của người khác.

Đứng từ phía cha mẹ, thì sự thể cũng không hề khá hơn. Có thể trong một chốc một lát những mong muốn và yêu cầu của cha mẹ sẽ được đáp ứng, nhưng việc bị buộc phải vứt bỏ mong muốn và suy nghĩ của bản thân để làm vui lòng cha mẹ về lâu dài sẽ dẫn đến sự xói mòn sự tin cậy mà con cái dành cho cha mẹ. Rõ ràng sẽ chẳng có ai muốn chia sẻ những suy nghĩ sâu xa chân thật xuất phát từ nhân cách thực của bản thân với những người đã từng và rất có thể sẽ lại chà đạp, phủ nhận, hay ít ra là không chào đón nhân cách ấy. Và khi đó, giữa cha mẹ và con cái sẽ xuất hiện một khoảng cách về niềm tin, một cái hố chia rẽ do các bậc cha mẹ tự đào lấy, để rồi lại đi băn khoăn là sao con không tâm sự với mình, và thậm chí là nghĩ đến chuyện đọc trộm nhật ký thư từ để “hiểu con hơn”. Đó là chưa kể, đối với những bậc cha mẹ muốn con mình trở thành một người độc lập và biết tự suy nghĩ, thì việc vô tình cản trở sự hình thành nhân cách tự thân của con, cản trở cái nền móng duy nhất cho sự “độc lập” và “biết nghĩ” kia, quả là một bi kịch.

Vậy phải chăng giải pháp ở đây là không bắt con làm bất cứ điều gì mà con không muốn? Đó chưa hẳn là giải pháp tốt nhất, và trong một số trường hợp cụ thể còn là giải pháp tồi. Trước hết, cha mẹ, với tư cách là người chịu trách nhiệm trước xã hội về tính mạng, sức khỏe và hành vi của con cái mình cho đến khi chúng trưởng thành, trong nhiều trường hợp có thể được xem là có lý do chính đáng để bắt buộc con cái làm theo ý mình bất kể mong muốn của con. Hơn nữa, việc luôn luôn ưu tiên mong muốn của con cái trong mọi trường hợp xung đột sẽ dẫn đến một mối quan hệ bất bình đẳng, thiếu sự tôn trọng từ phía con cái đối với cha mẹ như giữa những con người ngang hàng với nhau, và do vậy sẽ có thể tạo nên những nhận thức sai lầm trong con trẻ về quan hệ giữa người với người trong xã hội.

Thế thì xung đột này nên được giải quyết thế nào? Chúng ta hãy nhớ lại rằng vấn đề chính trong việc bắt ép con cái làm theo ý mình vì điều đó “tốt cho con” không nằm ở bản thân việc bắt ép, mà nằm ở lý do được đưa ra cho hành động đó. Chuyện chấp nhận nhượng bộ với người khác hay từ bỏ mong muốn vì những lý do hợp lý hay bất khả kháng là chuyện con người vẫn luôn sẵn sàng làm. Nhưng chính việc cha mẹ cho rằng một điều gì đó là “có lợi”, là “tốt”, là “vì hạnh phúc của con” và tìm cách áp đặt suy nghĩ đó bất chấp sự phản đối từ phía con cái mới là điều làm nên sự thiếu tôn trọng và phủ nhận nhân cách của con. Khi cha mẹ đem cái suy nghĩ ấy của mình làm lý do cho sự bắt ép, thì việc con cái chấp nhận nghe lời cha mẹ sẽ gián tiếp trở thành việc cúi đầu chấp nhận một lý lẽ mà bản thân đang bác bỏ và phản đối. Đó là một sự hạ nhục tinh thần lớn không kém gì, và đôi khi là còn hơn cả, bản thân việc bị bắt ép.

Vì vậy, cách xử lý đúng, theo tôi, là các bậc cha mẹ nên bỏ việc lấy lý do “vì lợi ích của con” làm lý lẽ biện minh cho những yêu cầu bắt buộc của bản thân đối với con, nhất là khi con đã không muốn làm theo. Vì như đã trình bày, đó là một việc làm có thể nói là mâu thuẫn về logic, và thể hiện sự thiếu tôn trọng nhân cách của con. Hơn thế nữa, nó còn thể hiện sự thiếu trung thực của các bậc cha mẹ. Ấy là bởi vì một khi các bậc cha mẹ đã không cho con quyền tự do lựa chọn, thì cũng đồng nghĩa với việc lý do thực sự đằng sau hành vi đó không còn là vì lợi ích của con nữa, mà là để nhằm phục vụ một lợi ích nào đó của chính cha mẹ. Lợi ích đó có thể là thỏa mãn mong muốn điều khiển con cái theo ý mình, hay để tránh sự mệt mỏi lo âu cho bản thân, hoặc để tránh bị người xung quanh gọi là vô trách nhiệm, mà cũng có thể đơn giản là để bảo vệ con cái khỏi nguy hiểm và rủi ro.

Việc đánh tráo lý do kể trên là một điều nguy hiểm, vì không những nó là một sự vô lý đối với con cái, mà còn là một sự lừa dối đối với bản thân. Khi các bậc cha mẹ tự huyễn hoặc rằng mình đang làm mọi thứ vì con, tức là vì một mục đích hết sức cao cả, không ai có thể bác bỏ được, kể cả những đứa trẻ, thì tức là họ đã tự cởi trói cho bản thân khỏi những giới hạn đạo đức và ứng xử thường có trong giao tiếp giữa người với người, để mà sẵn sàng “đi tới cùng” trên con đường “vì con”. Ngược lại, một khi cha mẹ nhận thức được rằng những việc mình nhất định muốn con phải làm đều là để phục vụ lợi ích của bản thân, thì đồng thời họ cũng sẽ tự ý thức đến cái giới hạn của lợi ích chính đáng hơn rất nhiều. Ấy là vì trong môi trường đạo đức xã hội ngày nay, không có mấy ai muốn và có thể tự công nhận rằng mình là một kẻ ích kỷ và vô lý cả.

Vậy nên, nếu như cha mẹ đã vì lợi ích của bản thân, thì hãy dũng cảm và hiên ngang chấp nhận sự thật đó, trước hết là trong tâm trí của mình, và thậm chí là nói thẳng ra với con trẻ. Những lý do “vì tốt cho con”, nếu có, hãy dùng làm lý lẽ để thuyết phục con nhượng bộ, chứ đừng lấy đó làm lý do cho hành vi bắt ép của mình khi biện minh với con. Trong trường hợp thuyết phục thất bại, tức là con không chấp nhận lý lẽ và cha mẹ dùng đến quyền lực nào đó để bắt ép, thì ít ra cha mẹ hãy công nhận phán quyết đã được đưa ra từ phía con, chứ đừng phủ nhận hay ngó lơ. Công nhận không có nghĩa là phải đồng ý, mà nó thể hiện sự tôn trọng đối với nhân cách của con như một con người hoàn toàn.

Dựa vào những lý lẽ trên, tôi xin đưa ra mấy lời khuyên cụ thể như sau đối với các bậc cha mẹ. Trước hết, khi nảy sinh một mong muốn nào đó đối với con cái, cha mẹ hãy thử suy nghĩ xem rằng nếu như con không chấp nhận mong muốn đó, thì mình có sẵn sàng để cho con có được tự do lựa chọn hay không. Nếu câu trả lời là có, thì hãy đưa mong muốn đó ra dưới dạng gợi ý hoặc đề đạt nguyện vọng thay vì yêu cầu hay ra lệnh, bởi một khi đã yêu cầu hay ra lệnh thì cái sĩ diện cá nhân của mỗi người sẽ khiến cho cha mẹ rất khó chấp nhận một sự bất tuân, mặc dù có thể chủ ý ban đầu không phải như vậy. Lưu ý rằng mọi sự bực tức, giận dỗi hay tâm trạng không tốt nào khi bị từ chối đều có thể được một đứa trẻ hiểu là một sự gây áp lực để bắt ép từ phía cha mẹ. Việc nhắc đi nhắc lại một nguyện vọng nào đó cũng là dấu hiệu của một mong muốn ích kỷ chứ không hoàn toàn vì lợi ích của con. Chúng ta có thể thấy rằng việc chấp nhận cho con có tự do lựa chọn đòi hỏi một sự chuẩn bị tinh thần nhất định.

Còn nếu như cha mẹ đã không thực sự có được sự sẵn sàng và thoái mái để con có được tự do lựa chọn, thì hãy vứt bỏ hết những lối tiếp cận giả tạo nghe như có vẻ mình đang cho con quyền từ chối, mà hãy nói thẳng với con rằng bố mẹ yêu cầu con làm việc XYZ vì lý do ABC, kèm theo là những đe dọa hoặc điều kiện trao đổi hoặc lý lẽ thuyết phục nếu cần. Khi con không đồng ý, hãy nói với con rằng bố mẹ biết con không thích XYZ, và bố mẹ hiểu rằng mình đang vi phạm đến quyền tự do của con, nhưng bố mẹ có những lý do của riêng mình để cương quyết yêu cầu con đáp ứng. Chú ý rằng dù lý do được đưa ra có là ích kỷ cá nhân, thì vẫn tốt hơn nhiều là không giải thích chút nào, bởi vì riêng việc phải làm một điều gì đó mà không rõ mục đích hay lý do cũng đã là một rào cản đối với việc chấp nhận yêu cầu từ cha mẹ.

Lưu ý rằng ở đây tôi không hề có ý nói việc cha mẹ bắt ép con cái làm theo ý mình là một điều gì đó xấu xa hay đáng lên án, vì phạm vi đang được nói đến là quá rộng lớn và đa dạng. Việc đánh giá đâu là “tốt”, đâu là “xấu” trong từng trường hợp cụ thể tôi xin nhường lại cho giá trị quan đạo đức của từng người. Ở đây tôi chỉ đưa ra cách tiếp cận ít gây tổn thương nhất trong trường hợp cha mẹ cảm thấy cần hay muốn áp đặt quyết định lên con cái. Nhưng chúng ta cũng có thể thấy rằng một khi đã gạt bỏ đi cái mác “vì con”, thì số lượng những mong muốn có đủ cơ sở để có thể được nói ra một cách thẳng thắn như trên mà không khiến cho chính cha mẹ cảm thấy mình ích kỷ và vô lý đã giảm đi khá nhiều.

Tôi cũng muốn lưu ý thêm rằng sức chịu đựng của con người là có hạn, và trẻ con cũng vậy. Mỗi một lần con trẻ cảm thấy bị bắt ép phải làm điều mình không muốn chỉ vì những lý do vô lý và ích kỷ của cha mẹ, là một lần sợi dây tình cảm giữa cha mẹ và con cái bị bào mòn đi. Mà sợi dây tình cảm ấy lại chính là thứ ràng buộc con người với nhau một cách bền chặt nhất. Nếu như cha mẹ thường xuyên và liên tục lạm dụng quyền lực của bản thân vào những vấn đề nhỏ nhặt không đáng, thì cũng đừng ngạc nhiên khi con cái kiên quyết chống đối mình trong những vấn đề hệ trọng sau này, hay tệ hơn là coi cha mẹ như những người dưng đứng ngoài cuộc đời của bản thân. Nói cách khác, cha mẹ nên biết cách sử dụng quyền lực của mình một cách “tiết kiệm”.

Tựu chung lại, một khi đã cùng chung sống dưới một mái nhà và có sự ràng buộc về nhiều mặt, thì giữa cha mẹ và con cái rất khó có thể tránh khỏi sự xung đột về lợi ích. Tuy nhiên, ngay cả khi các bậc cha mẹ vì lý do nào đó mà bắt ép con cái làm theo ý mình, thì vẫn có những cách tiếp cận giúp cho con trẻ cảm thấy nhân cách của bản thân được tôn trọng hết mức có thể. Qua bài viết này, tôi hy vọng rằng mình đã phần nào làm rõ được điều đó.

Bàn về “hạnh phúc”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A New Psychology of Personal Freedom” của William Glasser, “Utilitarianism” và “On Liberty” của John Stuart Mill.

Có lẽ trong thế gian này không có người nào là không mong muốn bản thân được hạnh phúc. Các tôn giáo lớn hầu hết đều dựa trên một lời hứa hẹn sẽ đem lại hạnh phúc vĩnh cửu, hay ít ra là dài lâu, cho những người nghe theo giáo lý của mình. Nhà nhà người người truyền cho nhau những bí quyết để có một cuộc sống hạnh phúc, một gia đình hạnh phúc. Một số quốc gia còn lấy chỉ số hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phát triển. Thế nhưng dường như đối với phần đông mọi người, hạnh phúc vẫn là một cái gì đó khá mơ hồ và huyền bí. Bài viết này là một nỗ lực cá nhân, dựa trên những ý tưởng của người đi trước, nhằm lý giải hạnh phúc theo một cách rõ ràng và dễ hiểu, để từ đó mỗi người có thể rút ra được những kết luận có cơ sở hơn trong việc tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình.


1. Hạnh phúc là gì

“Hạnh phúc” là một trạng thái tinh thần của con người khi các nhu cầu tinh thần được đáp ứng trên một mức độ nhất định nào đó. Các nhu cầu tinh thần này có thể được chia làm năm phân loại nhu cầu chính: 1. nhu cầu sinh tồn, 2. nhu cầu khám phá, 3. nhu cầu quyền lực, 4. nhu cầu yêu thương, và 5. nhu cầu tự do. Mức độ đáp ứng cần thiết cho mỗi nhu cầu để có thể đạt được và duy trì trạng thái “hạnh phúc”, cũng như những phương pháp cụ thể để có thể đáp ứng mỗi nhu cầu đó, là khác nhau đối với từng cá nhân. Những xu hướng này phần lớn đã được quyết định ngay từ khi sinh ra, tuy nhiên vẫn có thể chịu ảnh hưởng ít nhiều từ môi trường xung quanh trong suốt quá trình sống và trưởng thành của mỗi con người.

Hạnh phúc chính là mục đích sống cao nhất của con người. Đó là vì hạnh phúc chính là lợi ích tối cao, và cũng có thể nói là lợi ích thực chất duy nhất của tất cả mọi con người. Tất cả mọi lợi ích khác theo những cách hiểu thông thường đều có thể được diễn giải thành một phương tiện hay bước đệm để đạt đến cảm giác hạnh phúc, hoặc chính là một phần của hạnh phúc. Đó là bởi việc hưởng thụ tất cả mọi lợi ích đều phải diễn ra thông qua một sự cảm nhận chủ quan, tức là qua một “màng lọc” của tinh thần, để tạo nên một cảm giác tích cực khiến cho chúng ta mong muốn những lợi ích đó, và cảm giác đó chính là hạnh phúc. Tất cả các hành vi hay quyết định của con người, do đó, được đưa ra đều là vì chúng ta tin rằng chúng sẽ đem lại hạnh phúc cho bản thân, dù có thể đó chỉ là một thứ hạnh phúc được hứa hẹn trong tương lai, chứ không hề thấy được trước mắt.

Hạnh phúc là một trạng thái thuần túy thuộc về tinh thần, và các nhu cầu để đạt được hạnh phúc cũng hoàn toàn là các nhu cầu tinh thần. Điều đó có nghĩa là hạnh phúc mang tính chủ quan: một sự vật sự việc khách quan bản thân nó không tạo nên hạnh phúc, mà chỉ đem lại hạnh phúc khi chúng ta nhận thức được nó, và kết quả nhận thức đó phù hợp với các nhu cầu và tiêu chuẩn của riêng mỗi chúng ta về hạnh phúc. Do vậy, không hề tồn tại một tiêu chuẩn chung khách quan và cụ thể cho hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người, mà mỗi người cần phải tự tìm ra hạnh phúc của riêng mình.  Tập hợp những nhận thức và hiểu biết của một con người về những nhu cầu và phương pháp để đạt đến hạnh phúc cho bản thân là một bộ phận rất quan trọng của nhân cách mỗi cá nhân, và khi phát triển đến một mức độ nhất định, còn được gọi với một cái tên khác là “đạo đức” (tham khảo bài viết trước).

2. Năm nhu cầu tinh thần

a. Nhu cầu sinh tồn

Nhu cầu sinh tồn, hay còn có thể gọi là nhu cầu thể xác, bao hàm tất cả những nhu cầu sinh lý cơ bản thiết yếu như hít thở, ăn uống, ngủ nghỉ, bài tiết, toàn vẹn cơ thể,… cũng như các nhu cầu thể xác khác “xa xỉ” hơn như tiện nghi thoải mái, khoái cảm tình dục, hay thậm chí là khoái cảm do các loại chất kích thích mang lại,… và tất nhiên không thể không nói đến một nhu cầu rất quan trọng là cảm giác an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản. Những nhu cầu thuộc phân loại này tuy hết sức phong phú và đa dạng, và nhiều khi có vẻ rất khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung: nhằm đảm bảo cho sự tồn tại liên tục của thể xác con người ở một mức độ thỏa mãn nhất định. Do ít nhất ở thời điểm hiện tại, ý thức của con người luôn phải gắn liền với và được duy trì bằng thể xác, nên mọi sự đe dọa hay bất tiện đối với thể xác cũng sẽ có thể có tác động tiêu cực đến sự thỏa mãn của tinh thần, và do đó làm giảm hạnh phúc của cá nhân.

Tùy vào các nhu cầu cụ thể của thể xác, mà sự thiếu thốn của nhu cầu sinh tồn có thể được cảm nhận bằng nhiều cách khác nhau. Những nhu cầu sinh lý thiết yếu có thể dễ dàng được cảm nhận thông qua những tín hiệu rõ ràng trực tiếp từ cơ thể như cảm giác đói, khát, nóng, lạnh, đau đớn, mệt mỏi,… Những nhu cầu khác không nhất thiết phải có cho sự sống, nhưng có thể đem lại sự thõa mãn tinh thần, thì được thể hiện qua những cảm giác mơ hồ hơn như thèm muốn, bức bối, khó chịu,… Và nhu cầu an toàn thì tất nhiên đem lại cảm giác sợ hãi lo lắng nếu như không được đáp ứng. Chú ý rằng nhu cầu sinh tồn vẫn là nhu cầu tinh thần, dù nó có quan hệ mật thiết với thể xác con người. Một sự vật sự việc nhất định đem lại cảm giác hạnh phúc đến đâu, không những phụ thuộc vào các đặc điểm của cơ thể người đó, mà còn phụ thuộc vào việc nhân cách người đó đánh giá cao đến mức nào và có ham muốn đến đâu đối với nhu cầu cụ thể mà sự vật sự việc đó thỏa mãn.

Vai trò của nhu cầu sinh tồn là rất rõ ràng: nó là động lực để chúng ta duy trì sự sống của bản thân. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng tính mạng mình sẽ bị đe dọa nghiêm trọng thế nào nếu như tất cả các cảm giác như đói khát hay đau đớn đột ngột biến mất. Việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn cũng là một việc khá đơn giản, không phải theo nghĩa dễ dàng, mà theo nghĩa trong đại đa số trường hợp, chỉ bằng trực giác chúng ta cũng có thể biết khá rõ điều mình cần phải làm để đáp ứng những nhu cầu đang thiếu thốn: đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì ngủ, sợ hết tiền thì làm việc… Tuy nhiên, nhu cầu sinh tồn lại đòi hỏi một lượng tài nguyên không hề nhỏ để duy trì, cả về vật chất (tiền bạc, đồ ăn,…), tinh thần (hôm nay ăn gì?), lẫn thời gian (1/3 cuộc đời để ngủ). Điều này khiến cho hạnh phúc mang lại bởi việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn, tuy có vai trò nền tảng quan trọng đối với hạnh phúc của con người, nhưng không lâu bền mà lại tốn kém hơn nhiều so với những nhu cầu còn lại.

b. Nhu cầu khám phá

Nhu cầu khám phá là nhu cầu kích thích trí não bằng những trải nghiệm mới mẻ. Trí não ở đây bao gồm tất cả các giác quan, cảm xúc cũng suy nghĩ có ý thức của con người. Trải nghiệm mới mẻ có thể chỉ đơn giản là một giai điệu mới, một hình ảnh mới, một cảm giác mới, mà cũng có thể là một hiểu biết mới, một ý tưởng mới, một kỹ năng mới,… Nhu cầu khám phá chính là lý do khiến cho chúng ta muốn đi du lịch, muốn xem triển lãm nghệ thuật, muốn chơi trò chơi, muốn đọc sách, muốn xem tivi, và nói chung là tham gia vào các hoạt động giải trí. Nhu cầu khám phá cũng có thể được dùng để giải thích cảm giác buồn cười khi bắt gặp những tình huống hài hước: đó là vì sự hài hước thường đến từ những trải nghiệm vượt xa khỏi phạm vi những gì chúng ta coi là “bình thường”, hay nói cách khác, chúng ta thấy buồn cười khi tiếp xúc với những trải nghiệm “siêu mới mẻ”, tất nhiên là với điều kiện chúng ta cảm thấy những trải nghiệm đó là vô hại đối với bản thân.

Chú ý rằng sự “mới mẻ” ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, tức là mới mẻ trong một khung thời gian và khung ý thức nhất định. Một trải nghiệm mà một người đã từng trải qua trong quá khứ vẫn có thể đem lại một sự thỏa mãn nhu cầu khám phá nhất định, nếu như trải nghiệm đó là tương đối mới mẻ so với tập hợp những trải nghiệm của người ấy trong một khoảng thời gian gần đó. Ngược lại, một trải nghiệm dù là đầu tiên, nhưng nếu sau đó được lặp đi lặp lại liên tục trong một khoảng thời gian ngắn, thì ít nhất là trong khoảng thời gian đó, trải nghiệm ấy mất dần đi độ “mới”, và do đó cảm giác hạnh phúc nó tạo ra cũng sẽ phai nhạt dần. Đồng thời, cùng một trải nghiệm với các yếu tố giống hệt nhau, nhưng nếu được tiếp nhận với một cách nhìn khác, một tâm trạng khác, tức là với một ý thức bên trong khác, thì vẫn có thể tạo nên cảm giác mới mẻ, và do đó vẫn có thể được xem như một sự khám phá.

Khác với nhu cầu sinh tồn, việc đáp ứng nhu cầu khám phá không nhất thiết đòi hỏi sự tiêu tốn lớn về tài nguyên. Con người chúng ta, nhất là trẻ em, có thể tìm ra vô số cách để có những trải nghiệm mới mà không hề tốn kém: một cuốc đi dạo trên một con đường lạ, leo trèo lên cao để có một góc nhìn mới, tự nghĩ ra một điệu nhảy múa may quay cuồng, và chắc chắn phải kể đến hoạt động mà tôi ưa thích, đó là nằm một chỗ và tưởng tượng suy nghĩ về đủ thứ trên đời. Có thể nói rằng, đối với một người có khả năng quan sát và cảm nhận, và chịu quan sát và cảm nhận, thì thế giới bên ngoài lẫn bên trong chúng ta luôn tràn ngập những nguồn cảm hứng khám phá. Tất nhiên, mức độ thỏa mãn đem lại là khác nhau đối với từng trải nghiệm và đối với từng cá nhân cụ thể. Không phải ai cũng thấy bốn tiếng đồng hồ ngồi câu cá là thích thú, và không phải ai cũng thấy một chuyến leo núi mạo hiểm là hấp dẫn.

Bên cạnh việc thuần túy đem lại cảm giác hạnh phúc, nhu cầu khám phá còn đóng một vai trò rất quan trọng: đó là một trong những động lực chính của quá trình học hỏi của con người. Nếu xem việc học là việc tiếp nhận bất cứ một điều gì mới vào bên trong trí não của chúng ta, thì có thể nói rằng nhu cầu khám phá cũng chính là nhu cầu học hỏi. Mọi con người sinh ra đều sẵn có tính tò mò ham hiểu biết, chính là vì việc khám phá, hay học, tự nó đã mang lại sự vui vẻ thích thú. Và rất có thể nhu cầu khám phá đã được tạo nên bởi quá trình tiến hóa nhằm mục đích để cho con người có một động lực tự nhiên và thường xuyên cho việc học, một hoạt động rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Việc học chỉ trở nên khó chịu, khi tổn thương mà nó đem lại đối với những nhu cầu tinh thần khác vượt quá lợi ích đạt được. Do đó có thể nói rằng mọi phương pháp giáo dục, nếu khiến cho việc học không đem lại sự vui vẻ thích thú, thì đều là đi ngược lại quy luật của tự nhiên, và do đó sẽ không thể đạt được hiệu quả cao nhất.

c. Nhu cầu quyền lực

Nhu cầu quyền lực, hay còn có thể gọi là nhu cầu thành công, là nhu cầu thấy một điều gì đó diễn ra đúng theo như mình mong muốn. Chúng ta thường hiểu “quyền lực” là khả năng khiến cho người khác làm theo yêu cầu của bản thân. Tuy nhiên con người cũng có thể cảm thấy mình “quyền lực” khi chế ngự được thiên nhiên, khi đạt được thành công trong công việc, hay khi thấy bản thân đang trở nên đúng với hình mẫu mà mình mong muốn,… Một phần sự thích thú của con người đối với âm nhạc có thể được giải thích là vì khi nghe nhạc, trong vô thức chúng ta nhận thấy những âm thanh mình đang nghe có một quy luật nhất định, và chúng ta sử dụng quy luật đó để dự đoán sự lên xuống cũng như nhịp độ và thời điểm của các âm thanh tiếp theo. Khi bản nhạc diễn ra đúng theo sự dự đoán của chúng ta, thì chúng ta sẽ cảm thấy một sự khoan khoái vì thấy nó “hợp lý”. Ngược lại, một bản nhạc trúc trắc và loạn nhịp thường sẽ đem lại một cảm giác khó chịu cho người nghe.

Nhu cầu quyền lực rất có thể đã phái sinh một cách tự nhiên từ nhu cầu sinh tồn và tách ra thành một nhu cầu độc lập. Đó là vì so với thế giới xung quanh, con người quá nhỏ bé và yếu ớt. Chỉ một bầy thú dữ, một cơn dịch bệnh, hay một trận hạn hán cũng có thể quét sạch cả một cộng đồng người. Nỗi sợ hãi đến từ việc ý thức và cảm nhận một cách đầy đủ điều đó là quá lớn, và có thể khiến cho con người hoàn toàn tê liệt vì tuyệt vọng. Để có thể giữ được một cảm giác an toàn nhất định, con người cần cảm thấy, hay ít nhất tin rằng, mình có thể điều khiển được phần nào đó hiện thực xung quanh theo mong muốn của bản thân. Nhu cầu quyền lực, song song với nhu cầu khám phá và nhu cầu sinh tồn, có thể được coi là động lực chính cho toàn bộ công cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xây dựng nên văn minh của nhân loại.

Khi nhu cầu quyền lực không được đáp ứng, chúng ta thường sẽ sinh ra cảm xúc tức giận, thất vọng, bất lực hay căm ghét. Tuy nhiên cũng như các nhu cầu khác, việc nhu cầu quyền lực được đáp ứng hay không được đáp ứng, và ở mức độ nào, trong một trường hợp cụ thể là phụ thuộc vào nhân cách của từng cá nhân. Trong đó, một điểm đáng chú ý là tuy mọi sự trở ngại đối với cuộc sống con người đều đem lại sự bất hạnh ở mức độ nào đó, nhưng đại đa số mọi người sẽ thấy giận dữ hơn nhiều nếu như biết được, hay nghĩ rằng mình biết, đằng sau những trở ngại mình gặp phải có một ai đó đang cố tình “trêu ngươi”. Đó là vì khi ấy, sự trái ý không chỉ còn dừng ở bản thân trở ngại nữa, mà còn bao gồm cả việc hình ảnh về một bản thân “đáng được tôn trọng”, “đáng được ABCXYZ” đang bị phá vỡ. Có thể nói rằng chúng ta càng xây dựng nhân cách bản thân theo hướng mình “đáng được” cái này “đáng được” cái kia, thì chúng ta sẽ càng tự đẩy mình vào thế phải chịu bất hạnh.

Nhu cầu quyền lực là một nhu cầu khá oái oăm, vì việc đáp ứng nó không hề đơn giản như nhu cầu sinh tồn hay khám phá, và trong nhiều trường hợp, nỗ lực đáp ứng nhu cầu này lại chỉ dẫn đến kết quả ngược lại. Điều này xảy ra khi chúng ta lựa chọn việc nhắm tới những đối tượng nằm ngoài khả năng kiểm soát của bản thân để tìm cách điều khiển theo những cách thiếu hiệu quả, mà đối tượng vô vọng điển hình chính là những người xung quanh. Như tôi đã từng viết trong một bài viết trước, một trong những sai lầm lớn nhất của con người là nghĩ rằng mình có thể bắt được người khác làm theo ý muốn của bản thân. Mọi cố gắng điều khiển người khác mà không tính đến suy nghĩ và cảm xúc của đối tượng, đều sẽ có khả năng rất lớn gặp phải sự cự tuyệt và phản kháng, và do đó sẽ đem lại sự bất hạnh cho chủ thể của hành động. Việc xác định được thứ gì có thể điều khiển và điều khiển theo cách nào, bởi vậy, đóng vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu quyền lực.

d. Nhu cầu yêu thương

Nhu cầu yêu thương là nhu cầu cảm nhận và trân trọng giá trị tồn tại của một điều gì đó, đồng thời nhận lại sự đối xử tương tự từ xung quanh. Trong phần lớn trường hợp, đối tượng mà chúng ta yêu thương là những người thân thiết hoặc vật nuôi, vì những đối tượng này thường sẵn sàng đón nhận những cử chỉ bày tỏ sự yêu thương của chúng ta, cũng như đáp trả lại một cách tương xứng. Sự yêu thương cũng có thể được hướng tới những sự vật sự việc vô tri như cây cảnh, đồ vật, một khái niệm nào đó như dân tộc hay tổ quốc, hoặc thậm chí là tiền bạc,… Tuy vậy, nhu cầu yêu thương là một nhu cầu hai chiều: yêu thương và nhận về sự yêu thương. Vì vậy, sự yêu thương một phía sẽ khó có thể đem lại sự thỏa mãn đầy đủ nhất. Tất nhiên, cảm nhận về tình yêu thương là thuần túy chủ quan, và do đó chúng ta hoàn toàn có thể tự nghĩ rằng mình đang nhận được sự yêu thương từ bất cứ ai hay bất cứ điều gì, giống như chúng ta vẫn tự nghĩ rằng mình đang được vật nuôi yêu quý vậy.

Giá trị của một sự vật sự việc nằm ở mức độ khác biệt và độc nhất, tức là mức độ đặc biệt, của nó so với tập hợp các sự vật sự việc cùng phân loại trong mắt người quan sát. Sự yêu thương sẽ xuất hiện và trở nên mạnh mẽ khi chúng ta bắt đầu ý thức được sự đặc biệt đó. Sự đánh giá ở đây phụ thuộc vào hai yếu tố: chúng ta cảm nhận sự đặc biệt ở những điểm nào và đến mức nào, và chúng ta đặt đối tượng vào phân loại nào để so sánh. Điều này giải thích cho tình cảm yêu thương mạnh mẽ mà cha mẹ dành cho con cái: đối với nhiều người trong số họ, mỗi đứa con đều là một thực thể đặc biệt nhất trong số tất cả mọi thứ trên đời. Tương tự như vậy, những mối liên hệ, những kỷ niệm chung, những sự tương đồng giữa đối tượng với người quan sát có thể sẽ góp phần làm tăng sự đặc biệt tương đối của đối tượng trong mắt người quan sát, và do đó khiến cho tình cảm yêu thương dễ nảy sinh hơn. Khi chúng ta thực sự cảm nhận được rằng mọi sinh linh, mọi sự vật đều khác biệt, đều độc nhất, đều có giá trị to lớn, thì đó cũng là lúc chúng ta cảm nhận được tình yêu thường thấy ở các bậc thánh nhân: thuần khiết, bao la và bình đẳng đối với toàn bộ thế gian.

Nhu cầu yêu thương là một nhu cầu vừa phức tạp vừa đơn giản. Đơn giản vì một người hoàn toàn có thể tự thỏa mãn nhu cầu yêu thương của bản thân mà không cần tốn kém: chỉ cần quan sát hay thậm chí nghĩ đến một điều gì đáng yêu là người đó đã có thể thấy hạnh phúc. Đó là lý do vì sao các video chó mèo trên Youtube lại có sức hút lớn đến như vậy. Sự phức tạp của nhu cầu yêu thương đến từ việc chúng ta hay nhầm lẫn nó với nhu cầu quyền lực, tức là nhầm lẫn tình yêu với sự kiểm soát và điều khiển. Khi chúng ta yêu quý một người hay vật nào đó, chúng ta có xu hướng thể hiện tình cảm đó ra bằng hành động. Hành động đó của chúng ta có thể đem lại hạnh phúc cho đối phương bằng việc khiến họ cảm thấy được yêu thương, mà cũng có thể không, nhất là khi nó đem lại bất hạnh cho họ ở những mặt khác, và điều này phụ thuộc hoàn toàn vào cảm nhận chủ quan. Khi một cá nhân, chỉ vì cho rằng hành động của mình là thể hiện của tình yêu, mà nghĩ rằng đối phương nên/cần/phải chấp nhận nó, và thậm chí là phải thấy hạnh phúc, thì tức là người đó đơn giản chỉ đang muốn thỏa mãn nhu cầu quyền lực của bản thân mà thôi.

Chú ý rằng khái niệm yêu thương ở đây rất khác với khái niệm tình yêu nam nữ (hay nam-nam, nữ-nữ,…). Sự yêu thương bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với tình yêu lãng mạn, và nhu cầu đối với tình yêu lãng mạn cũng có thể được phân tích ra thành nhiều nhu cầu tinh thần khác, trong đó nhu cầu yêu thương chỉ là một thành phần. Nhu cầu yêu thương theo nghĩa rộng đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cho nhân loại có thể cùng chung sống trong những cộng đồng và xã hội, và cùng tồn tại với môi trường xung quanh một cách tương đối hòa bình. Nhu cầu yêu thương khiến cho chúng ta có thể thu được cảm giác hạnh phúc từ bản thân sự tồn tại của các sự vật sự việc khác, chứ không giới hạn ở việc chúng ta có thể sử dụng và tác động đến những sự vật sự việc đó như thế nào. Và do đó chúng ta có được sự thỏa mãn từ việc đơn thuần giữ một mối quan hệ bất can thiệp và mong muốn những điều tốt đẹp đối với thế giới xung quanh.

e. Nhu cầu tự do

Nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy mình là người nắm quyền ra các quyết định của bản thân. Nói cách khác, nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy được sống đúng với nhân cách tự thân của chính mình. Tuy đều mang yếu tố “theo ý mình”, nhưng nhu cầu tự do có sự khác biệt căn bản với nhu cầu quyền lực ở chỗ nhu cầu quyền lực đánh giá kết quả của một quyết định, còn nhu cầu tự do đánh giá nhân cách đứng sau quyết định đó. Điều này lý giải vì sao một số người thường không thích cảm giác bị người khác điều khiển, mặc dù có thể những quyết định và hành động của họ ở thời điểm được đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, và thậm chí là đem lại kết quả tích cực như ý muốn (vd. cảm giác bị dẫn dắt, được sắp xếp sẵn mọi thứ,…). Có thể nói rằng nhu cầu tự do là nhu cầu được thoát khỏi sự kiểm soát và điều khiển của thế giới xung quanh.

Nhu cầu tự do, một khi bị từ chối đáp ứng, nhất là khi điều đó diễn ra một cách thường xuyên, có thể gây hệ quả tiêu cực rất nặng nề và lâu dài đến sức khỏe tinh thần của cá nhân, mà khó có thể được bù đắp lại bởi sự thỏa mãn những nhu cầu khác. Đối với một con người đã ý thức được một nhu cầu tự do nhất định của bản thân, thì việc tự do đó bị phủ nhận tương đương với việc nhân cách, cũng tức là tư cách làm người, bị phủ nhận. Khi đó trong tâm trí cá nhân thường sẽ xuất hiện một cảm giác căm ghét tột độ đối với sự vật sự việc mà cá nhân đó cho là đang cản trở tự do của mình. Bên cạnh thiệt hại trực tiếp về mặt hạnh phúc, việc tự do bị tước đoạt cũng cản trở việc hình thành nhân cách tự thân, và qua đó cản trở sự phát triển năng lực tiềm ẩn của cá nhân, trong đó bị ảnh hưởng nặng nhất có lẽ là khả năng tự chủ và tính sáng tạo.

Cũng giống như nhu cầu yêu thương, việc thỏa mãn nhu cầu tự do, ít nhất trên lý thuyết, không hề tốn kém về vật chất hay thời gian: chúng ta chỉ việc xây dựng nhân cách của riêng mình, và nghe theo ý kiến của nhân cách đó trong mọi việc. Tuy nhiên, trên thực tế điều này đôi khi đòi hỏi một lượng tài nguyên tinh thần không hề nhỏ, và trong một số trường hợp là gây nguy hiểm đến tính mạng. Đó là vì nhu cầu tự do của người này thường xung đột với nhu cầu quyền lực, và đôi khi là cả sinh tồn, của người khác trong cùng một cộng đồng, cũng như gặp phải sự cản trở từ các quy luật của tự nhiên. Tài nguyên tinh thần mà một cá nhân cần phải sử dụng đến để vượt qua những cản trở đó, để chịu đựng thiệt hại đối với những nhu cầu khác trong khi thỏa mãn nhu cầu tự do của bản thân, chính là ý chí tự do. Đồng thời, việc cân bằng giữa tự do của cá nhân và lợi ích của phần còn lại của cộng đồng cũng là một điểm rất quan trọng trong việc vận hành cộng đồng đó.

Vai trò của nhu cầu tự do khá rõ ràng: nó tạo ra động lực để mỗi cá nhân con người mong muốn bảo vệ và phát triển nhân cách riêng của mình, thông qua đó giữ cho xã hội loài người có một sự đa dạng cao về tư tưởng và hành động. Những tư tưởng và kinh nghiệm được tạo ra từ sự đa dạng đó, sau khi trải qua sự thử thách và chọn lọc khi va chạm với các tư tưởng và kinh nghiệm khác, tạo nên toàn bộ hệ thống tri thức và lý luận của con người ngày nay. Có thể nói rằng nhu cầu tự do gián tiếp đảm bảo nguồn nguyên liệu thô cho quá trình tiến hóa của văn minh nhân loại. Bởi vậy, việc tôn trọng quyền tự do tư tưởng và hành động của cá nhân, tất nhiên trong giới hạn đảm bảo ở mức nhất định quyền lợi của các cá nhân khác trong xã hội, là một nguyên tắc không chỉ phù hợp với lợi ích của từng cá nhân, mà còn là phù hợp với lợi ích tổng thể của xã hội loài người, và do đó là một việc làm hợp đạo đức.

3. Đi tìm hạnh phúc

Năm nhu cầu tinh thần nói đến ở trên đơn giản chỉ là một cách phân loại, một cách nhìn đối với tập hợp toàn bộ các nhu cầu hạnh phúc của con người vốn rất phức tạp và đa dạng. Năm nhu cầu này có thể không bao quát và lý giải được tất cả mọi nhu cầu hay cảm xúc của con người, nhưng chúng có thể cho chúng ta một cơ sở lý luận để qua đó có thể suy nghĩ một cách có hệ thống hơn về hạnh phúc và cách để đạt tới hạnh phúc. Trong thực tế, một hành vi của con người có thể có tác động rất phức tạp lên hạnh phúc của bản thân, liên quan đến nhiều nhu cầu tinh thần khác nhau: tình yêu đôi lứa có thể đáp ứng cùng lúc nhu cầu thể xác (XXX), nhu cầu yêu thương (yêu…), nhu cầu khám phá (trải nghiệm yêu), và nhu cầu quyền lực (khiến đối phương hạnh phúc). Nỗ lực thỏa mãn một nhu cầu nhất định (ép buộc con cái theo ý mình) cũng có thể gây tổn thương lớn hơn đến một nhu cầu khác (ngăn cản sự yêu thương và nhận về yêu thương).

Hành trình tìm kiếm hạnh phúc của con người, do đó, cũng chính là hành trình đi tìm ra những con đường có thể đáp ứng nhu cầu hạnh phúc của riêng mình một cách hiệu quả nhất và bền vững nhất, và còn được chúng ta gọi với một cái tên khác là sự trưởng thành. Hành trình đó đòi hỏi chúng ta không chỉ nhận thức và tác động lên thế giới xung quanh, mà quan trọng hơn là nhận thức được và kiểm soát được ở mức độ nhất định đối với nội tâm của chính mình. Đó là vì tất cả các nhu cầu hạnh phúc đều là nhu cầu tinh thần, và phụ thuộc vào ít nhất một hay một số yếu tố tinh thần nhất định: nhu cầu quyền lực phụ thuộc vào việc chúng ta nghĩ mình “đáng được” cái gì, nhu cầu yêu thương phụ thuộc vào việc chúng ta quan sát thế giới kỹ đến đâu và ở phạm vi nào, nhu cầu tự do phụ thuộc vào việc chúng ta có nhân cách tự thân để mà theo không,… Từ cách nhìn như vậy, thì có thể nói rằng hạnh phúc thực sự luôn tồn tại sẵn ở trong tâm trí của chúng ta.

Một điểm đáng chú ý nữa là các nhu cầu tinh thần cũng có “thứ bậc” nhất định, và có thể khác nhau đối với từng người. Tuy nhiên trong đa số trường hợp thứ bậc này gần giống với thứ tự được giới thiệu ở đây: sinh tồn < khám phá < quyền lực < yêu thương < tự do. Những nhu cầu ở thứ bậc càng cao thì một khi đã được ý thức, sẽ càng khó có thể từ bỏ hoàn toàn để thỏa mãn các nhu cầu thấp hơn. Một người khi đã biết rằng mình có thể tác động đến thế giới xung quanh để uốn nắn theo ý mình, sẽ khó có thể từ bỏ hoàn toàn điều đó để chỉ dừng lại ở việc khám phá những điều mới mẻ. Tương tự, một khi đã biết đến cảm giác yêu thương và tự do, con người sẽ rất khó đồng ý xóa bỏ hoàn toàn những cảm xúc ấy để đổi lại sự đáp ứng dù là cao nhất đối với tất cả những nhu cầu còn lại.

Và dù cho không có một nhu cầu hay một phương pháp nhất định nào tự nó là “cao cả” hay “thấp kém” một cách tuyệt đối, thì khi đứng trên quan điểm lợi ích cá nhân, việc tập trung vào những nhu cầu ít tốn kém hơn và những phương pháp để đạt đến hạnh phúc lớn lao hơn và có tính bền vững hơn, có thể được xem là chiến lược sáng suốt hơn về lâu dài. Cụ thể, chúng ta nên tránh việc để cho hạnh phúc của mình phụ thuộc vào sự thỏa mãn những nhu cầu tốn kém trong việc duy trì (hưởng thụ vật chất, chất kích thích,…), tránh việc sử dụng những phương pháp đáp ứng nhu cầu có khả năng phản tác dụng cao (điều khiển người khác, hy sinh tự do,…), và hướng đến việc tìm kiếm và gia tăng hạnh phúc ở bên trong tâm trí (yêu nhiều ghét ít, hạ thấp kỳ vọng, tu dưỡng bản thân,…). Tất nhiên, như đã nói mỗi người có một khuynh hướng riêng trong vấn đề hạnh phúc, và không có công thức nào để đạt tới hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người cả.

Nếu chúng ta suy nghĩ một cách sâu xa và triệt để về cách để bản thân có được hạnh phúc, thì rất có thể những kết luận mà chúng ta đạt được nghe sẽ có vẻ giống những lời dạy bảo của các tôn giáo hay đạo đức truyền thống. Đó vốn chính là nguồn gốc của đạo đức ở mức độ cá nhân lẫn xã hội: những chiến lược, những nguyên tắc, những lời khuyên có thể đem lại hạnh phúc bền vững, hoặc ngăn ngừa sự bất hạnh, cho mỗi cá nhân con người, được hình thành thông qua trực giác bản năng hoặc kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân và các thế hệ đi trước – một cuốn “cẩm nang hạnh phúc”. Đạo đức là một thứ vốn có ích và mang lại tự do cho cá nhân nếu nó được dùng đúng phạm vi và công dụng. Chỉ khi đạo đức bị khoác lên mình tấm áo quyền lực và chân lý, bị lợi dụng để điều khiển người khác, khi “nên” bị biến thành “phải”, thì đạo đức mới trở thành một đề tài gây ra tranh cãi và bất hạnh.


Như vậy, cảm giác hạnh phúc là một cảm giác nảy sinh từ sự thỏa mãn của một hay một số nhu cầu trong số rất nhiều các nhu cầu tinh thần đa dạng của con người. Các nhu cầu đó có thể được phân chia làm năm phân loại chính: sinh tồn, khám phá, quyền lực, yêu thương, và tự do. Mỗi phân loại nhu cầu có cơ chế thỏa mãn khác nhau, cũng như vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại nói chung và mỗi cá nhân nói riêng. Mỗi con người cũng sẽ có những khuynh hướng nhất định đặc trưng cho cá nhân đó, đòi hỏi nhu cầu này nhiều hơn, nhu cầu kia ít hơn. Mỗi quyết định và hành động của con người đều nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất các nhu cầu tinh thần của bản thân, trong giới hạn hiểu biết và năng lực tại thời điểm đó. Việc hiểu rõ về các nhu cầu của bản thân, và tìm ra những cách đáp ứng chúng sao cho mang lại hiệu quả tổng thể cao nhất và ít tốn kém nhất, là con đường duy nhất để đạt đến được hạnh phúc ổn định, bền vững và lâu dài.

Khi chúng ta xung đột

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A new psychology of freedom” của William Glasser và “Getting to Yes: Negotiating an agreement without giving in” của Roger Fisher, William Ury.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên phải đối mặt với đủ mọi loại xung đột từ lớn cho đến nhỏ với những người từ thân thiết, quen biết, cho đến hoàn toàn lạ mặt. Việc có xử lý được những xung đột này một cách suôn sẻ hay không ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc cá nhân của chúng ta. Có thể nói, kỹ năng xử lý xung đột là một kỹ năng thiết yếu của mỗi cá nhân sống trong xã hội con người. Dưới đây tôi muốn chia sẻ một số suy nghĩ của bản thân về vấn đề này.


1. Xung đột ở khắp mọi nơi

Xung đột xảy ra giữa hai hoặc nhiều bên khi niềm tin hoặc hành vi của một bên không được chấp nhận hoặc gặp phải sự chống đối bởi một hoặc nhiều bên còn lại (chôm chỉa từ Wikipedia). Xung đột có thể có nguyên nhân từ sự trùng lặp phạm vi của lợi ích, hoặc từ sự xung khắc về tư tưởng. Xung đột có thể có yếu tố bạo lực, mà cũng có thể là phi bạo lực thông qua các phương tiện xã hội thông thường. Xung đột có thể xảy ra trên phạm vi thế giới, quốc gia , cộng đồng, giữa cá nhân với nhau, hay thậm chí là bên trong nội tâm mỗi cá nhân. Xung đột là một hiện tượng rất thường thấy trong xã hội con người. Chưa nói đến những xung đột hiển hiện như xung đột sắc tộc hay xung đột quốc gia, xung đột hiện hữu ngay xung quanh chúng ta: không được trộm cướp → cứ trộm cướp → xung đột, không được ăn thịt chó → cứ thích ăn thịt chó → xung đột, mẹ muốn con ăn cơm → con không muốn ăn cơm → xung đột,… Có thể nói rằng ở đâu có con người chung sống ở đó sẽ có xung đột.

Một đặc điểm nhận dạng dễ thấy của xung đột là khi một bên A muốn một bên B làm điều gì đó mà bên B không muốn làm. Khi đó, bên A đứng trước ba lựa chọn: 1. sử dụng các biện pháp cưỡng ép để khiến cho đối phương làm theo ý mình bất kể đối phương có đồng ý hay không, 2. sử dụng các biện pháp ôn hòa để cùng đi đến một kết quả mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được, và 3. từ bỏ mong muốn của bản thân. Nhìn vào thực trạng của xã hội con người ngày nay, chúng ta hẳn không khó nhận ra lựa chọn nào đang được sử dụng nhiều nhất. Là một loài động vật mang tính xã hội cao, hạnh phúc và thịnh vượng của mỗi cá thể con người phụ thuộc rất nhiều vào những người xung quanh. Do vậy, việc một người mong muốn, yêu cầu và đi đến là bắt buộc người xung quanh hành động và suy nghĩ theo ý muốn của bản thân là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, lựa chọn đó có thực sự phục vụ tốt nhất cho lợi ích lâu dài và sâu xa của mỗi chúng ta hay không?

2. Quyền lực đến từ đâu

Tạm gác lại vấn đề xung đột, chúng ta hãy thử suy nghĩ về khái niệm “quyền lực”. Theo quan niệm của tôi, quyền lực của một con người là khả năng khiến cho người khác làm theo ý muốn của mình, bất kể là bằng phương pháp nào. Nhà nước khiến người dân làm theo ý mình bằng hệ thống pháp luật, tuyên truyền và giáo dục, đó là quyền lực. Kẻ cướp khiến nạn nhân làm theo ý mình bằng đe dọa vũ lực, đó là quyền lực. Người thông thái khiến người khác làm theo ý mình bằng lý lẽ và nhân cách, đó là quyền lực. Trẻ con khiến người lớn làm theo ý mình bằng sự đáng yêu, đó là quyền lực. Người có địa vị chính trị, kinh tế hoặc xã hội cao hơn thường có nhiều quyền lực hơn, nhưng người ở địa vị thấp hơn vẫn có thể có quyền lực của riêng mình. Giữa hai bên, việc mỗi bên đều có quyền lực nhất định đối với bên còn lại là việc bình thường và rất dễ gặp.

Nhiều người thường nghĩ rằng quyền lực của một người nằm ở bản thân người đó hoặc ở vị trí của người đó trong xã hội, trong hệ thống,… Nếu quả thực là như vậy, thì vì sao cùng một hệ thống pháp luật có người phạm tội có người không? Vì sao có lúc cha mẹ nói thì con nghe mà có lúc thì không? Đó là vì quyền lực của một người không do người đó kiểm soát, mà nằm ở những người xung quanh. Chúng ta không thể điều khiển người khác làm theo ý mình. Chúng ta chỉ có thể đưa ra yêu cầu và thúc đẩy người khác lựa chọn làm theo ý mình mà thôi. Chỉ cần đối phương lựa chọn không làm theo ý chúng ta nữa, thì quyền lực của chúng ta cũng biến mất, bất kể chúng ta có vũ lực, địa vị, lý lẽ, nhân cách hay quan hệ như thế nào. Điều này có thể thấy rõ nhất trong các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như khi con cái chống đối cha mẹ.

3. Cái giá của chiến thắng

Trở lại vấn đề chính, trong một xung đột thường ai cũng muốn giành lấy phần thắng tuyệt đối về mình. Nhưng một chiến thắng tuyệt đối không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích lớn nhất cho kẻ thắng cuộc, và thậm chí còn có thể ẩn chứa nhiều thiệt hại vô hình và rủi ro về sau. Trừ khi một bên tiêu diệt hoàn toàn bên còn lại, một chiến thắng càng triệt để và áp đảo càng có khả năng để lại thương tích sâu sắc cho người thua cuộc, từ đó dẫn đến sự thù hằn cũng như phản kháng ngấm ngầm kéo dài sau khi xung đột đã đi qua. Đó là chưa kể việc mất mát những lợi ích tiềm năng đáng lẽ có thể đạt được nếu như cả hai bên có thể cùng bàn bạc để đi đến thỏa hiệp và hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp cả hai bên bị lôi cuốn theo xung đột mà không ý thức được bản thân mình thực sự muốn đạt được điều gì. Do đó nhiều khi chiến thắng chỉ là một thứ trống rỗng và không giải quyết được những nhu cầu sâu xa của kẻ thắng cuộc.

Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về xung đột giữa xã hội với một người phạm tội. Từ những gì tôi quan sát được, đa số mọi người có cùng một phản ứng trước một tội phạm đã bị bắt: phạt nặng vào, bỏ tù nó đi, 3 năm ít quá 10 năm luôn cho bõ,… Tôi không phủ nhận giá trị của luật pháp và hình phạt, cái tôi muốn nói đến là thái độ muốn dồn kẻ thua cuộc vào đường cùng của nhiều người trong xã hội. Chúng ta nên nhớ rằng một người có đi tù thì vẫn là một thành viên xã hội, và sẽ đến lúc họ trở lại cộng đồng. Khi đó, chúng ta muốn nhận lại một con người có mong muốn hoàn lương và tái hòa nhập xã hội, hay là một con người mang trong lòng sự hận thù đối với cái xã hội đã dẫm đạp mình xuống đáy sâu? Một hệ thống công lý sử dụng các hình phạt nặng nề, hoạt động dựa trên sự sợ hãi với mục đích trả thù và răn đe có thể sẽ khiến ít người phạm tội hơn, nhưng chắc chắn sẽ tạo nên nhiều kẻ phạm tội nguy hiểm và bất trị hơn, một khi quyền lực đến từ sự sợ hãi đã mất đi tác dụng.

Đó là chưa kể, trong thời đại ngày nay đại đa số những xung đột mà chúng ta gặp phải hàng ngày thường là với những người có mối quan hệ tương đối gần gũi với chúng ta: vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè, học sinh,… Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ thực sự có quyền và có khả năng điều khiển hoàn toàn hành động và suy nghĩ của duy nhất một người, đó là chính bản thân mình. Khi một người có quan hệ gần gũi với chúng ta chấp nhận đầu hàng để kết thúc xung đột, điều đó không có nghĩa là chúng ta đã điều khiển được họ, mà là họ đã lựa chọn việc hy sinh tự do của bản thân để gìn giữ mối quan hệ giữa hai người. Nói cách khác, chúng ta đã đem mối quan hệ giữa hai người ra làm con tin để chiến thắng. Điều trái khoáy là càng những người gần gũi với chúng ta, chúng ta càng có xu hướng cho rằng họ là vật sở hữu của bản thân và do đó chúng ta có quyền sử dụng mối quan hệ giữa chúng ta với họ để điều khiển họ làm theo ý mình. Điều này có thể thấy rõ nhất ở mối quan hệ giữa bố mẹ với con cái và vợ chồng với nhau.

Nhưng một chiến thắng trong những xung đột như vậy có thể đem lại những hậu quả gì? Sự tự chủ trong suy nghĩ là nền tảng then chốt làm nên nhân cách con người. Việc bị cướp mất quyền tự chủ thông qua việc bị bắt làm một điều mình không muốn là một đòn đánh rất nặng vào tâm lý của nạn nhân, nặng hơn rất nhiều những gì người ngoài có thể thấy được. Để giảm thiểu thiệt hại tinh thần, người đó có thể phản ứng bằng cách 1. tự triệt tiêu đi quyền tự chủ và tự do của bản thân, phản ứng thường thấy ở những người yếu thế như trẻ nhỏ, hoặc 2. tìm cách giảm bớt quyền lực của mối quan hệ đang bị lợi dụng trong thế giới nội tâm của mình. Điều đó có nghĩa là, mỗi khi chúng ta bắt ép một người làm một điều họ thực sự không muốn, thì tức là chúng ta đang bào mòn nhân cách của họ, hoặc bào mòn mối quan hệ giữa họ với chúng ta, hoặc là cả hai.

Một người, một khi đã tự mình từ bỏ tự do tư tưởng, sẽ chôn sâu nhân cách thực xuống đáy tâm hồn và sống bằng một nhân cách giả tạo như một con rối, để tránh cho bản thân phải nhận thêm thương tổn từ trách nhiệm với hành động và suy nghĩ của chính mình. Một nhân cách giả tạo sẽ không bao giờ có thể phát huy hết được những năng lực và sự sáng tạo tiềm tàng của mỗi con người. Một người sống bằng nhân cách giả tạo sẽ khó có thể tìm thấy được hạnh phúc và sự thỏa mãn thực sự với cuộc sống, và sẽ không cảm thấy có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình, chừng nào người đó còn chưa được sống đúng với nhân cách thực của bản thân, chưa được “trở lại làm người”. Nhìn theo một cách nào đó, khi chúng ta bắt con cái làm gì đó và chúng chống đối lại, thì chúng ta nên vui mừng, vì điều đó nghĩa là chúng vẫn còn giữ được nhân cách của riêng mình, vẫn còn muốn đấu tranh để bảo vệ quyền tự chủ, và vẫn đang sống như một con người đúng nghĩa.

Nếu như người thua cuộc trong xung đột quyết định không từ bỏ quyền tự chủ của bản thân, thì họ thường sẽ tìm cách đẩy dần kẻ thắng cuộc ra khỏi thế giới nội tâm nhằm hạn chế quyền lực về mặt tinh thần của người đó đối với mình. Đó là lý do vì sao đối với nhiều người, chúng ta càng tìm cách cưỡng ép và điều khiển họ thì họ lại dường như càng rời xa khỏi tầm kiểm soát của chúng ta. Chúng ta có thể vẫn giữ được quyền lực đối với họ bằng vũ lực hay lợi ích vật chất, nhưng thứ quyền lực quan trọng nhất, thứ quyền lực mà đối phương tự nguyện giao cho chúng ta – quyền lực đến từ tình cảm con người, thì sẽ nhanh chóng biến mất. Chuyện những người con tốt nghiệp xong đem bằng về ném trả cha mẹ, hay đơn giản hơn là những đứa trẻ “bất trị” mà chúng ta hay gọi là “nhờn”, là minh chứng rõ ràng cho sự sụp đổ của quyền lực cha mẹ khi thiếu đi sợi dây gắn kết về mặt tình cảm.

4. Con đường trung đạo

Đến đây có lẽ sẽ có người muốn hỏi tôi rằng: Thế anh có phương pháp nào hay hơn không? Tôi sẽ trả lời lại rằng: Cái bạn thực sự muốn biết là gì vậy? Có phải bạn muốn biết một phương pháp để chiến thắng trong mọi xung đột, để bắt tất cả các đối thủ phải khuất phục, mà không cần phải chịu một hệ quả tiêu cực nào từ chiến thắng đó? Nếu là như vậy thì e rằng tôi không thể giúp gì được cho bạn, và tôi tin là sẽ chẳng có ai làm được điều đó. Nhưng nếu bạn thực lòng muốn giải quyết các xung đột một cách ôn hòa sao cho có thể đem lại hạnh phúc và những gì tốt đẹp nhất cho bản thân và cả những người bạn yêu quý, thì tôi nghĩ là những điều dưới đây có thể sẽ có ích.

Đầu tiên, khi xảy ra xung đột, trước khi tung ra những đòn tấn công cả bằng vật chất và tâm lý, chúng ta nên dành thời gian để suy nghĩ kỹ xem thực sự bản thân chúng ta đang muốn cái gì. Phần đông mọi người khi đưa ra một yêu sách không nghĩ xem thực sự tại sao mình lại muốn điều đó. Một yêu sách thường chỉ là một phương tiện để thỏa mãn một mong muốn sâu xa nào đó. Chúng ta cảm nhận thấy một vấn đề, và trong vô thức nghĩ ra một cách mà chúng ta cho là có thể giải quyết vấn đề đó, đưa nó thành yêu sách, và rồi quên bẵng đi luôn vấn đề gốc là gì mà chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương thực hiện yêu sách cụ thể ấy. Kết quả là nhiều khi bắt được đối phương thực hiện yêu sách xong, chúng ta mới nhận ra rằng mong muốn sâu xa của mình vẫn chẳng hề được thỏa mãn, trong khi đó rất có thể cả chúng ta và đối phương, cũng như cả mối quan hệ giữa hai bên, đều đã phải chịu những thiệt hại không nhỏ.

Không chỉ có vậy, việc tìm hiểu và nắm được những nhu cầu và lợi ích đứng đằng sau sự kháng cự từ phía đối phương cũng quan trọng không kém. Có thể họ muốn bảo vệ một lợi ích cốt lõi nào đó đang bị chúng ta đe dọa. Nhưng cũng rất có thể là cách đặt vấn đề của chúng ta khiến cho họ cảm thấy không hề có chút tiếng nói hay quyền lựa chọn nào, và họ chỉ muốn bảo vệ tự do và nhân cách của bản thân. Một khi đã nắm được những nhu cầu sâu xa thực chất của cả đối phương lẫn chính mình, chúng ta có thể tìm ra được những cách tiếp cận và phương án mới nhằm giải quyết nhu cầu của bản thân mà vẫn tôn trọng những nhu cầu và lợi ích sâu xa của đối phương, thay vì tìm cách bắt ép đối phương chấp nhận yêu sách của mình. Đạo Phật dạy rằng, trong một cuộc xung đột, đừng tìm cách triệt hạ đối phương, cũng đừng để đối phương triệt hạ, mà hãy tìm ra con đường đi mới ở giữa hai con đường cực đoan đó, tức là con đường “trung đạo”, để giải quyết vấn đề.

Một ví dụ là trong cuộc sống gia đình, có những khi người phụ nữ muốn người đàn ông làm việc này việc kia, khi thì rửa bát, khi thì nấu cơm, khi thì chăm con. Có những khi người đàn ông vui vẻ đồng ý, có những khi họ tìm cách trốn tránh và thoái thác, thế là xung đột nổ ra. Nhưng từ những gì tôi cảm nhận được, vấn đề cốt lõi thường không phải ở việc ai làm việc gì và làm bao nhiêu, mà nằm ở mối quan hệ tình cảm giữa hai người: có thể người phụ nữ cảm thấy cô đơn, thiếu sự chia sẻ, thiếu sự yêu thương, khiến cho công việc nội trợ vốn có thể rất vui vẻ buổi ban đầu trở nên ngày một nặng nề và khó chịu hơn. Người đàn ông cũng có thể có những lý do của riêng mình để từ chối việc nội trợ, dù lý do đó có thể chỉ là sự tự ái đàn ông, nhưng nó vẫn có sức nặng nhất định đối với suy nghĩ của họ. Điểm quan trọng là một khi đã xác định được rõ vấn đề, xung đột có thể được giải quyết bằng nhiều cách khác thay vì cãi cọ xem ai phải làm việc gì trong nhà: người đàn ông có thể đơn giản là trò chuyện nhiều hơn, bày tỏ sự quan tâm và yêu thương nhiều hơn đến người phụ nữ ở một khía cạnh khác, với những phương thức khác.

5. Chuyện nào ra chuyện nấy

Khi đứng trước một vấn đề gì đó trong công việc và cuộc sống, con người có thể suy nghĩ theo hai hướng: 1. mình có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng bản thân”, và 2. người khác có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng đối phương”. Trong đó, hướng bản thân là hướng suy nghĩ tích cực và tự chủ, còn hướng đối phương là hướng suy nghĩ tiêu cực và phụ thuộc. Sai lầm lớn nhất của rất nhiều người trong xử lý xung đột là chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương phải làm cái này cái kia để giải quyết vấn đề, mà gần như quên bẵng đi việc suy nghĩ xem mình có thể/nên/cần/phải làm gì. Khi cả hai bên trong một cuộc xung đột đều bị cuốn vào suy nghĩ hướng đối phương, thì cuộc xung đột đó sẽ nhanh chóng sa lầy và trở thành một cuộc chiến tranh đổ lỗi qua lại. Tình hình sẽ trầm trọng hơn nữa nếu như mỗi bên lại lấy việc đối phương nhượng bộ làm điều kiện tiên quyết cho bất cứ sự nhượng bộ nào từ phía mình.

Tại sao tôi lại nói suy nghĩ “hướng đối phương” là tiêu cực và phụ thuộc? Việc giải quyết tốt đẹp một xung đột, nhất là với một người gần gũi với chúng ta, có ý nghĩa rất lớn đối với hạnh phúc của mỗi người. Nếu như chúng ta cho rằng xung đột chỉ có thể được giải quyết khi đối phương nhượng bộ, thì cũng tức là vô hình trung chúng ta đã giao quyền định đoạt hạnh phúc của bản thân cho người khác. Thêm vào đó, như đã nói ở trên chúng ta chỉ có thể điều khiển hoàn toàn được suy nghĩ và hành động của bản thân chứ không của ai khác, do vậy việc yêu cầu người khác hành động thay vì tự mình hành động, nhìn qua thì có vẻ như là một lựa chọn dễ dàng hơn, nhưng thực chất lại khó khăn hơn, kém hiệu quả hơn, và nhiều khi là bất khả thi.

Nhiều người hay cho rằng “người kia có lỗi, cớ gì tôi phải làm nọ làm kia”. Lỗi thuộc về ai không quan trọng, quan trọng là xung đột là một vấn đề trong cuộc sống của chúng ta, và chúng ta có thực sự muốn giải quyết nó hay không. Tất nhiên chúng ta có thể gửi tín hiệu đến đối phương để cho đối phương biết mong muốn của mình, nhưng song song với đó chúng ta cũng có thể tự mình hành động một cách độc lập để thực hiện mong muốn ấy. Đối phương có chấp nhận thực hiện mong muốn của chúng ta hay không là chuyện của đối phương, còn việc tìm cách thỏa mãn mong muốn của bản thân là chuyện của chúng ta. Chuyện nào phải ra chuyện nấy. Chúng ta cần tôn trọng tự do lựa chọn và quyền tự chủ của đối phương, nhưng đồng thời cũng phải nắm lấy quyền kiểm soát cuộc đời và hạnh phúc của bản thân. Đừng tự biến mình trở thành nạn nhân của bất cứ ai khác, nhưng cũng đừng biến người khác thành nạn nhân của mình.

Trong công việc với tư cách người quản lý hệ thống CNTT của công ty, hàng ngày tôi phải đối mặt với đủ kiểu thao tác vi phạm quy định, hay đơn giản là trái với ý đồ thiết kế, từ phía người dùng hệ thống. Mỗi lần như vậy tôi có thể lựa chọn việc nhắc nhở và yêu cầu người dùng phải chú ý, phải làm đúng thế này thế kia. Nhưng từ kinh nghiệm thực tế tôi hiểu rằng dù vô tình hay cố ý, những thao tác như vậy sẽ không bao giờ biến mất, và công sức nhắc nhở của tôi sẽ chỉ là công cốc: tôi đang chiến đấu với mấy trăm cái đầu có thể lơ đễnh bất cứ lúc nào. Tôi vẫn có thể nhắc nhở, nhưng đồng thời tôi sẽ lựa chọn tập trung hơn vào việc tạo nên những hệ thống mà người dùng có muốn cũng không thể thao tác sai được. Đối với những kỹ sư CNTT chuyên nghiệp thì điều đó gần như được xem như một yêu cầu hiển nhiên. Tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng lối suy nghĩ tương tự vào việc xử lý tất cả những xung đột khác, đặc biệt là với những người gần gũi với mình.

6. Lựa chọn thứ ba

Tôi xin nhắc lại một lần nữa: chúng ta chỉ có thể điều khiển được hành động và suy nghĩ của chính mình chứ không của ai khác. Trong một cuộc xung đột, nếu như đối phương đã nhất quyết không nhượng bộ, các biện pháp ôn hòa đã thất bại, thì chúng ta nên hiểu rằng việc muốn đối phương làm theo ý mình là điều không thể. Nếu như tư cách làm người hay các nguyên tắc đạo đức cốt lõi của chúng ta đang bị đe dọa, thì việc đấu tranh đến cùng bằng mọi giá thường là điều cần thiết và nên làm. Nhưng đối với đại đa số các xung đột hàng ngày khác, việc cố bám lấy một mong muốn bất khả thi sẽ chỉ khiến cho chúng ta thêm tuyệt vọng và khổ sở, hay tệ hơn là bắt đầu sử dụng đến những biện pháp cực đoan và vũ lực hơn. Thay vào đó, chúng ta hãy nắm giữ quyền tự chủ cuộc sống của mình bằng cách lựa chọn việc chấp nhận từ bỏ yêu sách, và tự tách mình khỏi tầm ảnh hưởng của đối phương nếu cần thiết, thay vì tiếp tục sa lầy trong một cuộc xung đột vô nghĩa.

Trong những mối quan hệ với những người gần gũi thân thiết, rộng ra là những người mà chúng ta không dễ gì cắt đứt được sợi dây liên hệ, ví dụ như giữa cha mẹ với con cái hoặc giữa xã hội với một thành viên trong xã hội, việc chấp nhận chung sống với sự khác biệt càng quan trọng hơn. Nếu như chúng ta thường xuyên sử dụng những biện pháp cưỡng ép và kiểm soát vi phạm vào tự do và nhân cách của đối phương, rất có thể chúng ta sẽ triệt tiêu đi một thứ còn quan trọng hơn sự phục tùng, đó là mối quan hệ tình cảm giữa con người với nhau. Tình cảm con người mới là thứ giúp cho xã hội, cộng đồng và gia đình trở nên gắn kết, và là cột chống tạo nên sự ổn định của tâm lý con người. Kẻ tội phạm nguy hiểm nhất là kẻ đã mất niềm tin vào tình cảm con người. Bạn muốn một đứa con ngỗ nghịch sống một mình một kiểu nhưng vẫn còn tôn trọng và yêu quý bạn trong lòng, hay bạn muốn một đứa trẻ nói gì cũng gật đầu nhưng từ lâu đã không còn coi bạn là cha mẹ nữa?

Đối với đa số chúng ta, việc chấp nhận thua cuộc và từ bỏ yêu sách trong một cuộc xung đột là một điều rất khó khăn. Có lẽ một phần lý do chính là vì điều đó khiến cho chúng ta cảm thấy mình mất khả năng kiểm soát cuộc sống của bản thân khi thấy một thứ đáng lẽ phải diễn ra theo ý mình thì thực tế lại không được như vậy. Tạm không nói về chuyện cái “đáng lẽ” đó có căn cứ gì hay không, nếu như chúng ta biết chấp nhận rằng có rất nhiều thứ mình không kiểm soát được, và không nên kiểm soát, thì chúng ta sẽ có thể bớt đi rất nhiều gánh nặng vô ích cho bản thân, cũng như có thể dành nhiều thời gian, sự chú ý cũng như công sức cho những việc khác chúng ta thực sự có thể kiểm soát thành công để đem lại hạnh phúc cho mình. Khi trên bước đường đi có một tảng đá lớn chặn đường, chúng ta có thể đi vòng tránh hoặc tìm con đường khác, cớ gì cứ nhất thiết mỗi lần lại phải ôm bộc phá dọn đường?


Nói một cách ngắn gọn, về nguyên tắc mọi xung đột nên được giải quyết một cách ôn hòa, trên cơ sở tôn trọng quyền tự do định đoạt của đối phương. Để có thể làm được điều đó, trước hết chúng ta cần phải suy nghĩ thật kỹ và xác định được những lợi ích và nhu cầu sâu xa đằng sau những mong muốn của chúng ta cũng như của đối phương, để có thể tìm ra một phương án có thể đảm bảo được lợi ích của cả hai bên. Thêm vào đó, chúng ta cũng nên tập trung suy nghĩ nhiều hơn vào việc bản thân mình có thể làm được gì để giải quyết xung đột, thay vì mải yêu cầu đối phương nhượng bộ. Cuối cùng, chúng ta nên biết chấp nhận rằng chúng ta không có quyền và cũng không có khả năng điều khiển suy nghĩ và hành động của bất kỳ ai khác ngoài bản thân, và rằng nhiều khi một mối quan hệ không ràng buộc dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau quan trọng hơn nhiều việc bắt được người khác phải làm theo ý mình.

Bàn về “đạo đức”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết có sử dụng thuyết sáu bậc phát triển đạo đức của Lawrence Kohlberg.

Chúng ta thường đánh giá rất cao một thứ gọi là “đạo đức”. Chúng ta ca ngợi những người chúng ta cho là có “đạo đức”, ca ngợi việc rèn luyện “đạo đức”, đồng thời miệt thị những người chúng ta cho là không có “đạo đức”. Chúng ta hay làm như thể trên thế gian này tồn tại một thứ “đạo đức” quy định sẵn rõ ràng như sách giáo khoa, và ai ai cũng nên/cần/phải “học tập” kỹ năng đó vậy. Cá nhân tôi không nghĩ như vậy, và trong bài viết này tôi sẽ nói về suy nghĩ của bản thân mình về khái niệm “đạo đức”.


1. Đạo đức là gì

Chữ “đạo” (道) nghĩa là “con đường”, chỉ những quy luật khách quan chi phối sự vận hành của mọi vật trong vũ trụ. Chữ “đức” (德) thể hiện năng lực nắm bắt và vận dụng những quy luật khách quan đó. Nói một cách đơn giản, “đạo đức” là năng lực hiểu và làm theo quy luật khách quan của vũ trụ. Người có “đạo đức”, đơn giản là người biết được vũ trụ, hẹp hơn là xã hội và con người vận hành ra sao, theo những quy luật nào, từ đó biết cách ăn ở, sinh sống cho phù hợp với những quy luật đó.

Nói là như vậy, nhưng như tôi đã nói ở một bài viết trước, chúng ta không ai có thể biết được sự thật khách quan, vì mọi sự quan sát đều là chủ quan. Do đó, thế nào là “quy luật khách quan của vũ trụ” thì mỗi người lại có thể có một cách hiểu khác nhau. Như tôi vẫn luôn nói, mọi thứ đều có tính tương đối, và “đạo đức” cũng không ngoại lệ. Chưa nói đến giữa chúng ta với nhau, mà cả những bậc thánh hiền như Jesus, Đức Phật hay Khổng Tử cũng đều có cái nhìn khác nhau về khái niệm “đạo đức”. Bởi vậy, nếu có một ai đó khẳng định rằng mình biết thế nào là “đạo đức tuyệt đối” mà tất cả mọi người đều phải tuân theo, thì tức là người đó đã tự đặt bản thân cao ngang hàng hay hơn cả các bậc thánh hiền, và cá nhân tôi nghĩ là người đó nên tự xem lại mình.

Khác với “đạo đức tuyệt đối”, “đạo đức tương đối” tồn tại dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh và cách nhìn của những người mang đạo đức đó: đạo đức của Phật giáo, đạo đức của Thiên Chúa giáo, đạo đức của Nho giáo, đạo đức của đàn ông và đạo đức của đàn bà, đạo đức của tư sản và đạo đức của cộng sản, đạo đức của anh và đạo đức của tôi,… Mỗi đạo đức tương đối đều chỉ có giá trị trong những phạm vi nhất định. “Đạo đức” mà mỗi người chúng ta thường nói đến chỉ là một hoặc một vài trong số vô vàn những đạo đức tương đối này mà thôi.

2. Đạo đức cộng đồng

Đạo đức mà chúng ta thường dễ dàng thấy nhất có lẽ là đạo đức của cộng đồng mà chúng ta sinh sống. Cộng đồng đó có thể nhỏ hẹp ở mức gia đình, họ hàng, làng xã, mà cũng có thể rộng lớn như cả một xã hội hay toàn thế giới. Đạo đức của cộng đồng thường có mục đích là nhằm duy trì trật tự trong cộng đồng, đảm bảo tất cả các thành viên cộng đồng có thể chung sống hòa bình với nhau. Đạo đức cộng đồng đôi khi cũng có mục đích nhằm giúp cho các thành viên cộng đồng đạt đến một mục đích chung nào đó, ví dụ như đạo đức của các tôn giáo có tổ chức. Người có “đạo đức” trong một cộng đồng, do vậy, là người biết cách sống một cách hòa hợp, không gây xung đột hay làm đảo lộn trật tự của cộng đồng đó.

Vì có mục đích như vậy, nên đạo đức cộng đồng thường được ghi chép lại dưới dạng văn bản hoặc truyền miệng như những bài học, thậm chí đôi khi còn được đưa thành luật lệ trong cộng đồng. Do nhu cầu về khả năng diễn đạt và sự thống nhất giữa các thành viên, nên đạo đức cộng đồng thường được đúc kết thành các giá trị đạo đức với tên gọi cụ thể, như sự khiêm tốn, lòng nhân ái, tính trung thực,… “Đạo đức” của một thành viên trong cộng đồng sẽ được đánh giá dựa trên một khung các giá trị đạo đức phổ biến trong cộng đồng đó, giống như giáo viên chấm điểm học sinh theo thang điểm vậy. Những thành viên “đạo đức yếu kém” thường sẽ phải chịu sự cô lập, chỉ trích, khinh miệt của các thành viên khác, hay thậm chí là bị loại bỏ khỏi cộng đồng.

Đạo đức cộng đồng có một vấn đề cố hữu. Đó là mỗi cộng đồng, xét cho cùng, cũng chỉ là một tập hợp các cá nhân. Mỗi cá nhân lại có thể có một cái nhìn khác nhau về đạo đức cộng đồng. Đó là chưa kể trong một cộng đồng lớn có thể tồn tại nhiều cộng đồng đan xen chồng chéo nhau. Mỗi cộng đồng đó lại có thể có một đạo đức của riêng cộng đồng mình. Do đó, cộng đồng càng lớn, đa dạng và lỏng lẻo thì đạo đức cộng đồng càng mù mờ thiếu rõ ràng, và thường cũng chỉ là một số ít giá trị đạo đức chung nhất. Khi một người, một nhóm người, hay thậm chí là số đông tự cho đạo đức của mình là tuyệt đối, đưa nó lên thành luật lệ của cộng đồng và tìm cách loại trừ hay tiêu diệt các thành viên không cùng ý kiến, thì chúng ta có đàn áp mang danh đạo đức.

3. Đạo đức cá nhân

Khác với đạo đức cộng đồng, đạo đức cá nhân chỉ giới hạn trong phạm vi suy nghĩ của mỗi cá nhân chúng ta. Đạo đức cá nhân thể hiện cách nhìn chủ quan của chúng ta về quy luật vận hành khách quan của tự nhiên, xã hội và con người. Nó là tập hợp các nguyên tắc sống mà chúng ta cho là “hợp lý” nhất, tức là tuân thủ theo những quy luật khách quan trong mắt chúng ta. Những nguyên tắc sống này là một phần trong các tiêu chuẩn mà chúng ta sử dụng để đưa ra các quyết định trong cuộc sống. Đạo đức cá nhân có thể biến đổi theo sự trưởng thành trong tư duy cũng như các biến cố xảy ra trong cuộc đời của chúng ta. Tuy nhiên, nhìn chung thì đạo đức cá nhân có tính ổn định tương đối trong một khoảng thời gian nhất định.

Do thường được hình thành trong một khoảng thời gian dài và không liên tục, nên đạo đức cá nhân thường tồn tại dưới dạng các mảnh suy nghĩ rời rạc thay vì có tính hệ thống chặt chẽ. Đồng thời, do chúng ta ít khi có nhu cầu diễn đạt đạo đức của mình bằng ngôn ngữ, nên đạo đức cá nhân thường tồn tại dưới dạng các nguyên tắc “tôi sẽ làm/sẽ không làm xyz” thay vì các giá trị đạo đức mang tên cụ thể. Nếu có chăng, thì chúng ta có thể sẽ so sánh đạo đức của mình với các giá trị đạo đức của cộng đồng, và ghép tên của các giá trị đó cho đạo đức của bản thân. Bởi vậy, cùng một giá trị đạo đức có thể sẽ mang ý nghĩa rất khác nhau trong suy nghĩ của hai cá nhân khác biệt.

Đạo đức cá nhân có nhiều mức độ phát triển, tùy vào sự trưởng thành của suy nghĩ. Ở mức độ đơn giản nhất, chúng ta làm hay không làm việc gì đó vì sợ bị trừng phạt hoặc vì sẽ được lợi trước mắt. Đây là cách suy nghĩ chủ yếu của trí não trẻ con, chưa hiểu nhiều về thế giới xung quanh mà chỉ chăm chăm vào bản thân mình. Một đứa trẻ ở mức độ này sẽ làm việc nhà vì được hứa thưởng tiền, và không vẽ bậy lên tường vì đã từng bị bố mẹ mắng mỏ. Ở mức độ phức tạp hơn, chúng ta làm hay không làm việc gì đó vì đó là luật lệ của cộng đồng, hoặc vì đạo đức cộng đồng đánh giá như vậy là “tốt”. Hầu hết chúng ta khi lớn lên đều đạt được đến mức độ này. Một người suy nghĩ ở mức độ này không vượt đèn đỏ vì đó là vi phạm luật pháp, và tỏ ra khiêm tốn vì mọi người bảo thế là tốt.

Cao hơn nữa, khi chúng ta sống có ý thức và suy ngẫm nhiều hơn, chúng ta sẽ đi đến những kết luận đạo đức của riêng mình thay vì du nhập từ bên ngoài. Khi đó, chúng ta sẽ làm hay không làm việc gì đó vì nó phù hợp với lợi ích sâu xa của chúng ta và với các nguyên tắc sống mà chúng ta tự đặt ra. Mức độ này có vẻ giống với mức độ thứ nhất, nhưng có sự khác biệt cơ bản là chúng ta ý thức được sự tồn tại của cộng đồng xung quanh cũng như lợi ích và tư tưởng của các thành viên khác. Mức độ này cũng khác với mức độ thứ hai ở chỗ chúng ta ý thức được rằng mình là một cá nhân tách biệt khỏi cộng đồng với lợi ích và tư tưởng riêng. Một người ở suy nghĩ ở mức độ này sẽ làm mọi việc vì lý do của riêng mình, dù là tuân thủ theo cộng đồng hay phá vỡ các luật lệ của cộng đồng.

Nói một cách đơn giản, nếu mức độ thứ nhất là “cái tôi tuyệt đối” thì mức độ thứ hai là “cái tôi phục tùng cộng đồng”, và mức độ thứ ba là “cái tôi độc lập trong cộng đồng”. Mức độ sau không nhất thiết là “đúng” hơn, “tốt” hơn mức độ trước, nhưng suy nghĩ của chúng ta nói chung thường trưởng thành theo trình tự ba mức độ đó. Việc trưởng thành nhanh hay chậm phụ thuộc vào tính cách và năng lực bẩm sinh, cũng như sự giáo dục và môi trường xung quanh. Thêm vào đó, chúng ta cũng không đột ngột “nhảy vọt” từ mức độ thấp hơn lên mức độ cao hơn, mà phát triển dần dần những suy nghĩ ở mức độ cao trong khi vẫn giữ nhiều suy nghĩ ở mức độ thấp.

4. Đạo đức và hạnh phúc

Tôi không biết chúng ta được sinh ra để làm gì, nhưng cá nhân tôi tin rằng tất cả chúng ta sống đều cùng vì một mục đích duy nhất: tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Các bậc thánh nhân và các nhà hiền triết truy tìm chân lý vì tin rằng sống theo chân lý sẽ được hạnh phúc. Các nhà từ thiện làm từ thiện vì tin rằng khiến người khác hạnh phúc thì mình cũng được hạnh phúc. Những người yêu tiền kiếm tiền vì tin rằng có tiền sẽ có hạnh phúc. Thậm chí những người định nhảy lầu tự tử làm vậy cũng vì tin rằng chết đi sẽ được hạnh phúc hơn.

Có thể nói rằng, tìm kiếm hạnh phúc là quy luật khách quan cao nhất, phổ quát nhất của con người. Đạo đức chung nhất, sâu xa nhất của con người, do đó, cũng sẽ đơn giản chỉ là “làm sao để có hạnh phúc” mà thôi. Nói cách khác, đạo đức của con người là nhằm phục vụ mục đích tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Sự khác biệt trong cách suy nghĩ về đạo đức đơn giản chỉ là sự khác biệt trong cách suy nghĩ về hạnh phúc và làm thế nào để có hạnh phúc. Người nghĩ rằng hạnh phúc là lợi ích trước mắt sẽ hành động vì lợi ích trước mắt bất kể các quy tắc đạo đức cộng đồng. Người nghĩ rằng hạnh phúc là được mọi người yêu quý tôn trọng sẽ chú ý tuân thủ theo đạo đức cộng đồng. Người tin theo hạnh phúc của Phật giáo sẽ tu tâm dưỡng tính và hành động theo những điều răn của Đức Phật.

Tuy nhiên, xét cho cùng thì hạnh phúc của chúng ta chỉ có bản thân chúng ta mới có thể đánh giá và chịu trách nhiệm được. Do vậy, đạo đức có ý nghĩa thực sự phải là thứ xuất phát từ những suy nghĩ chân thực bên trong chúng ta. Việc “dạy” đạo đức thường thấy thực chất chỉ là cố gắng áp đặt các giá trị đạo đức tương đối của cộng đồng hoặc của bản thân người “dạy” lên người được “dạy”. Không có gì đảm bảo rằng những giá trị đạo đức đó phù hợp với hạnh phúc của cá nhân người được “dạy”. Cái chúng ta có thể “dạy” được là chỉ ra mục đích sống “đi tìm hạnh phúc” của con người, và cách (mà chúng ta cho là) có thể đạt được đến hạnh phúc thực sự. Nếu người được “dạy” chấp nhận những điều đó, tự họ sẽ tạo nên những nguyên tắc đạo đức của riêng mình.


Như tôi đã nói, tôi không phải là một nhà đạo đức. Những điều tôi viết ở đây đơn giản là những gì tôi quan sát và học hỏi được, chứ không nhằm nói cái này “đúng” cái kia “sai”, hay kêu gọi ai phải làm một cái gì cụ thể. Có chăng, thì tôi nghĩ là chúng ta nên biết rằng đạo đức của bản thân nói riêng và mọi thứ đạo đức nói chung chỉ là tương đối, và do vậy không nên tìm cách áp đặt nó lên người khác nếu họ không muốn. Tôi cũng mong rằng khi nhận thấy bản chất thực sự của khái niệm “đạo đức”, chúng ta sẽ có thể tìm được những cách truyền đạt các giá trị đạo đức mà mình muốn truyền đạt sao cho hiệu quả hơn, dựa trên cơ sở tôn trọng người được truyền đạt. Xét cho cùng, việc tôn trọng cá nhân khác chẳng phải cũng là một giá trị đạo đức nên có hay sao?

Bàn về cái sự vui sướng

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Các ví dụ trong bài viết chỉ mang tính … ví dụ.

1. Vui sướng và kỳ vọng

Khi nào thì chúng ta vui sướng? Chúng thường hay vui sướng khi cảm thấy nhận được một cái gì đó. Cái nhận được đó có thể là vật chất thuần túy như tiền bạc hay quà tặng, mà cũng có thể là một cử chỉ, một lời nói, một cảm xúc. Cái nhận được đó cũng có thể không phải do ai cho chúng ta cả, mà là những cảm xúc do chúng ta tự tạo ra trong tâm trí mình như cảm giác tự hào khi chứng kiến một thành công nào đó của bản thân hay người thân yêu.

Thế nhưng không phải phải bất cứ khi nào nhận được bất cứ cái gì chúng ta cũng đều vui sướng. Chúng ta chỉ thấy vui sướng khi nhận được những thứ mà chúng ta “thích”. Việc chúng ta có “thích” một thứ gì đó hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong như các giá trị đạo đức, nguyên tắc, các nhu cầu tâm sinh lý, các sở thích,… Cùng một người có thể thích cái này và ghét cái kia, ngược lại cùng một thứ có thể người này thích mà người kia ghét.

Kể cả khi chúng ta nhận được cái mà chúng ta thường “thích”, đôi khi chúng ta cũng không cảm thấy vui sướng. Một đứa trẻ thường ngày nếu nhận được một cái bánh kem nho nhỏ thì sẽ cảm thấy rất vui sướng. Nhưng nếu đứa trẻ đó nhận được cũng cái bánh kem be bé đó vào ngày sinh nhật thì rất có thể nó sẽ không vui sướng, thậm chí là giận dỗi. Đó là vì nó nghĩ rằng ngày sinh nhật thì nó phải nhận được một cái bánh sinh nhật to hơn đẹp hơn cái bánh kem ti tí kia. Nói tóm lại là nó có kỳ vọng, và thứ nó nhận được đã không đáp ứng được kỳ vọng đó.

Như vậy, nhìn từ một khía cạnh nhất định, có thể nói sự vui sướng được tính bằng công thức V(ui sướng) = T(hích) – K(ỳ vọng). Nếu quả thực là như vậy, thì kỳ vọng cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định xem chúng ta có vui sướng khi nhận được một cái gì đó hay không. Kỳ vọng càng cao thì sự vui sướng càng giảm xuống, và khi kỳ vọng lên quá cao thì sự vui sướng có thể thành số âm, tức trở thành sự thất vọng, kể cả khi chúng ta nhận được thứ mình thích.

Có lẽ trong chúng ta không có mấy người không muốn được vui sướng. Do vậy nếu chúng ta không thể khiến mình trở nên thích thứ nhận được hơn, thì chúng ta cũng có thể giảm kỳ vọng của bản thân xuống để gia tăng sự vui sướng, hay ít nhất là giữ nó không trở thành thất vọng. Và nếu chúng ta giữ kỳ vọng của mình bằng hoặc rất gần số không, thì chẳng phải mọi thứ chúng ta nhận được trên đời đều là cái đáng vui sướng hay sao?

2. Vui sướng và biến đổi

Khi đang đói mà được ăn, chúng ta cảm thấy vui sướng. Chúng ta ăn xong bát thứ nhất, sự vui sướng đó giảm đi một nửa. Chúng ta ăn xong bát thứ hai, sự vui sướng đó bắt đầu cạn. Trừ những thiếu niên đang tuổi lớn, hay một số ít có dạ dày hơn người, còn đa số chúng ta sẽ thấy hết vui sướng sau khi đã ăn đến bát thứ ba. Và chắc chắn rằng không ai có thể ăn mãi, ăn liên tục, ăn không nghỉ được. Vì trong quá trình ăn đó, sự vui sướng giảm dần và chuyển sang sự đau khổ. Chúng ta đau khổ khi đã no mà vẫn cứ phải ăn tiếp.

Chúng ta không thu được sự vui sướng từ bản thân việc ăn. Chúng ta cũng không thu được sự vui sướng từ bản thân trạng thái no. Chúng ta thu được sự vui sướng từ quá trình ăn để biến đổi trạng thái từ đói lên no. Điều này cũng có thể thấy ở một số ví dụ khác: Chúng ta không cảm thấy vui sướng từ bản thân việc hít vào hay thở ra, mà chúng ta cảm thấy vui sướng từ quá trình hít và thở đan xen nhau liên tục. Chúng ta không cảm thấy vui sướng khi chỉ nghe mãi một nốt nhạc, mà chúng ta cảm thấy vui sướng khi âm thanh nghe được biến đổi từ nốt nhạc này sang nốt nhạc kia.

Ngược lại, chúng ta thường cảm thấy đau khổ khi bị giữ nguyên mãi ở một trạng thái nào đó. Chúng ta phải “nằm xuống rồi lại đứng lên”, chứ không thể chịu được khi phải đứng mãi, nằm mãi, hay ngồi mãi. Hoặc, không đến mức đau khổ, nhưng không thiếu người giàu có lại cảm thấy chán chường với sự giàu có của mình mà muốn thử cảm giác nghèo khổ, còn những người nghèo khổ thì lại ước ao có được sự giàu có, để đến khi giàu có lại muốn trở về cuộc sống trước kia.

Nhìn từ một góc độ nào đó, có thể nói sự vui sướng được sinh ra từ quá trình biến đổi của con người từ trạng thái này sang trạng thái khác, chứ không phải từ bản thân một trạng thái hay hành vi đơn độc nào cả. Nói ngắn gọn là sự vui sướng đến từ quá trình chứ không phải kết quả. Điều này cũng có nghĩa là sự vui sướng là một thứ không lâu bền, không có sự vui sướng nào là mãi mãi cả. Việc hy vọng vào sự vui sướng khi đạt được một mục tiêu nào đó mà bỏ qua việc tận hưởng quá trình tiến tới mục tiêu đó, do vậy, có thể xem là một sai lầm về căn bản.

Cuộc sống luôn luôn biến đổi theo quy luật vô thường, và sự vui sướng của chúng ta cũng luôn luôn biến đổi theo quy luật lúc lên lúc xuống. Thay vì quanh quẩn mơ mộng một sự vui sướng “cuối cùng” và “mãi mãi”, chúng ta có thể đem lại sự vui sướng “tức thì” cho bản thân bằng việc luôn luôn thay đổi, luôn luôn tiến lên (thậm chí … lùi xuống), và luôn luôn tìm cho mình một cái gì đó mới để hướng tới. Những sự vui sướng nhỏ nhặt nhưng đều đặn như những con sóng nhỏ, nếu nhìn từ xa, chẳng phải cũng giống như cả một đại dương yên bình hay sao?