Bàn về cái sự khiêm tốn

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trước đây, có lần khi đang xem chương trình trò chơi truyền hình, người dẫn chương trình đã nói đùa một câu đại ý rằng “khiêm tốn là không cần thiết”. Câu nói đó đã khiến tôi khi đó khá khó chịu, vì cảm thấy rằng dường như người đó không hiểu ý nghĩa thực sự của từ “khiêm tốn”. Bây giờ nghĩ lại, suy nghĩ đó của tôi cũng không được khiêm tốn cho lắm. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta nên có một sự hiểu biết sâu xa và có ngọn ngành hơn về sự khiêm tốn. Trong bài này tôi sẽ viết qua về những suy nghĩ của mình đối với khái niệm này.


1. Khiêm tốn là gì

Chữ “khiêm” (謙) thể hiện thái độ nhũn nhặn, kính trọng người khác, tự cho mình là kém cỏi. Chữ “tốn” (遜) thể hiện sự nhường lại, thua kém, cũng là nhũn nhặn. Sự khiêm tốn có thể được tóm gọn lại là việc không coi bản thân là cao hơn so với người khác. Một cách giải thích khác là sự khiêm tốn là việc “biết thân biết phận”, tức là ý thức được vị trí và tầm vóc thực sự của bản thân trong một bối cảnh nhất định, thường là trong một cộng đồng con người, mà cũng có thể là trước một sức mạnh thiên nhiên nào đó.

Sự khiêm tốn tồn tại ở hai mức: sự khiêm tốn bên ngoài và sự khiêm tốn bên trong. Sự khiêm tốn bên ngoài là cách xử sự làm sao để người xung quanh đánh giá chúng ta là “khiêm tốn”, hay ít nhất không cho rằng chúng ta là “thiếu khiêm tốn”. Điều này nhằm mục đích xây dựng quan hệ tốt và sống hòa đồng với xung quanh. Sự khiêm tốn bên trong, trái lại, không quan tâm đến sự đánh giá của xung quanh. Sự khiêm tốn ở bên trong bền vững hơn, thống nhất hơn, và có ảnh hưởng lớn hơn sự khiêm tốn ở bên ngoài. Sự khiêm tốn bên ngoài không nói lên sự khiêm tốn bên trong. Ngược lại một người có vẻ như không khiêm tốn bên ngoài, không có nghĩa là người đó không có sự khiêm tốn bên trong.

Sự khiêm tốn bên trong không phải là một đức tính trời cho theo kiểu “tự nhiên nó thế”, cũng không phải là một giá trị “đạo đức” hay “truyền thống” đến từ bên ngoài. Khi chúng ta dành nhiều thời gian để nhìn nhận và suy ngẫm một cách khách quan, thì sự khiêm tốn là một kết luận hoàn toàn hợp lý, một điều gì đó rất tự nhiên, rất dễ hiểu, dễ chấp nhận, đến từ bên trong chúng ta. Sự khiêm tốn là một kết quả tất yếu, một “sản phẩm phụ” của quá trình trưởng thành của tư tưởng cá nhân. Dưới đây là một số trong số rất nhiều điều tôi cảm thấy góp phần tạo nên sự khiêm tốn.

2. Sự thật không chỉ có một

Sự thật có thể được chia làm hai loại: “sự thật chủ quan” và “sự thật khách quan”. “Sự thật khách quan” là cái tồn tại trong tự nhiên như đúng bản chất của nó. “Sự thật chủ quan” là một sự quan sát một góc độ nào đó của “sự thật khách quan” qua một “lăng kính” của cá nhân người quan sát. Lăng kính đó có thể là cơ thể người quan sát, nhưng cũng có thể là ngôn ngữ, là suy nghĩ, là văn hóa, là kinh nghiệm trong quá khứ,…

Sự thật khách quan là một thứ chúng ta có thể biết là có tồn tại, nhưng không thể quan sát được, vì mọi sự quan sát đều là chủ quan. Trong mắt chúng ta, sự thật chủ quan của bản thân luôn luôn có vẻ “đúng” nhất, vì đó là tất cả những gì chúng ta có thể tự mình quan sát được. Nhưng như thế không có nghĩa là sự thật của người khác không “đúng”, vì sự thật của họ và của chúng ta đều là sự quan sát không hoàn hảo của sự thật khách quan. Ai cũng “đúng”, ai cũng thấy “sự thật”, không ai “sai” cả.

Nếu bạn thấy điều này quá “triết học”, quá “vô cùng”, thì hãy thử nghĩ xem: người mù màu nhìn thế giới như thế nào? Một người mù màu đỏ-xanh, dù có được chúng ta thuyết phục đến đâu, mô tả đến đâu, cũng không thể thấy được đỏ và xanh là hai màu khác nhau. Chúng ta cũng không thể biết được thế giới qua mắt họ có những màu như thế nào, mà chỉ có thể mô phỏng qua lời kể và suy đoán. Và hãy thử nghĩ xem: bạn có chắc rằng màu đỏ mà bạn nhìn thấy giống với màu đỏ mà người khác nhìn thấy? Bạn lấy gì đảm bảo rằng bạn và một người khác cùng chỉ vào một màu, cùng gọi đó là màu đỏ, nhưng người kia không nhìn thấy cái mà bạn vẫn cho là màu xanh? Bạn có mô tả được một cách tuyệt đối “đỏ” là màu thế nào không? Bạn có chắc là bạn không mù màu không?

Hẳn mọi người vẫn còn nhớ câu chuyện “cái váy xanh đen hay vàng trắng”. Đến một chuyện đơn giản như vậy mà chúng ta còn cãi nhau, vậy thì đối với những vấn đề phức tạp hơn, rộng lớn hơn, ai dám đảm bảo rằng chỉ có sự thật của mình là “đúng”? Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ sự thật của mình, mà chúng ta nên ý thức được rằng chúng ta không có độc quyền đối với sự thật. Mỗi người đều sở hữu một sự thật, và không ai ngoài bản thân người đó biết rõ hơn về sự thật đó. Nói cách khác, chúng ta không “biết nhiều hơn” ai một cách tuyệt đối cả, vì chúng ta không thể biết rõ về sự thật của bất kỳ ai hơn bản thân người đó.

3. Mỗi con người đều đáng quý

Trong một cộng đồng con người, từ gia đình, làng xã, công ty, cho đến xã hội, mỗi cá nhân đều có một vị trí nhất định. Vị trí đó đến từ nhiều yếu tố như gốc gác, năng lực bẩm sinh, nỗ lực bản thân,… và có thể hợp ý hoặc không hợp ý cá nhân đó. Nhưng một điểm chắc chắn là ai cũng có vị trí của mình, có vai trò của mình, và có thể đóng góp cho cộng đồng ở một mặt nào đó với một mức độ nào đó. Đồng thời, tất cả mọi người đều tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Hạnh phúc đó có thể ích kỷ, có thể vô tư, có thể đến từ việc đem lại hạnh phúc cho người khác. Nhưng một điểm chắc chắn là ai cũng muốn mình hạnh phúc, bất kể là thánh nhân hay kẻ gây tội ác. Nếu nhìn ở góc độ đó, thì tất cả mọi người đều bình đẳng, tất cả mọi người đều như nhau, không ai “cao quý” hơn ai cả.

Trong công ty, tôi là người làm công việc trí óc, và có người khác làm lao công quét dọn công ty. Tôi là một người lười lĩnh việc chân tay và ghét sự đơn điệu, nên nếu tôi phải ngày ngày quét dọn văn phòng, kỳ cọ nhà vệ sinh, và lặp đi lặp lại việc đó hàng tuần hàng tháng, thì tôi sẽ cảm thấy khổ sở hơn ngồi bàn giấy vò đầu bứt tai. Tôi không làm được và tôi không muốn làm công việc của một người lao công. Nhưng công việc dọn dẹp là việc cần phải làm, không có người lao công làm thì tôi sẽ phải làm (và khi mới vào tôi đã phải làm thật). Nói cách khác, người lao công đang làm thay tôi một việc tôi không làm được và không muốn làm. Vậy chẳng phải người lao công đó đáng nhận được sự trân trọng, hay ít ra là tôn trọng từ tôi hay sao? Chẳng phải người lao công đó “giỏi hơn” tôi trong lĩnh vực của người đó hay sao?

Đó là chưa kể, tất cả mọi người đều có thể thay đổi. Tất cả mọi người đều có thể có tố chất để trở thành người “tốt” hơn. Trên báo chí không thiếu gì tin tức về những người cựu tội phạm đã hoàn lương và trở thành người có ích cho xã hội, thậm chí là thành đạt trong kinh doanh. Và hơn thế nữa, khả năng đánh giá con người của mỗi chúng ta đều không đáng tin cậy. Trong số bạn học cũ của tôi, có những người mà thời đi học tôi đã ngạo mạn cho là người “hư hỏng”, hoặc là người “chẳng làm được việc”, mà đến nay họ đều có gia đình êm ấm, sự nghiệp thành đạt, thậm chí rất rất thành đạt. Chúng ta có nên vì những gì một người đang thể hiện ở hiện tại, mà đánh giá thấp giá trị con người của người đó hay không?

4. Thành công là do may mắn

Bạn có nghĩ rằng những thành công mà bản thân đã, đang, và sẽ đạt được là nhờ phần lớn, nếu không phải toàn bộ, vào nỗ lực của bản thân? Hầu hết chúng ta đều có một niềm tin vô căn cứ rằng chúng ta nắm trong tay vận mệnh của bản thân. Chúng ta tin, hay muốn tin, rằng chỉ cần có nỗ lực, năng lực, phương pháp, suy nghĩ đúng đắn thì chúng ta sẽ có thể xoay chuyển được vận mệnh của mình. Nhưng hiện thực lại không phải như vậy: vận may đóng một vai trò rất lớn, mang tính quyết định, đến sự thành công của mọi việc chúng ta làm.

Chúng ta hãy thử nghĩ xem: Steve Jobs có thể có được thành công to lớn như đã có hay không, nếu năm 15 tuổi ông bị xe cán chết? Nếu ví dụ đó quá cực đoan, vậy thì chúng ta hãy thử nghĩ xem: liệu chúng ta có thể có được những thành tựu mình đang có hay không nếu như chúng ta được sinh ra trong một hoàn cảnh khác, sống dưới một mái nhà khác, tiếp xúc với những tư tưởng khác, gặp gỡ những con người khác? Không thiếu gì những ví dụ về các doanh nhân rất thành đạt, tưởng chừng như đã nắm trong tay chìa khóa thành công, mà chỉ một bước đi thiếu may mắn đã thành tán gia bại sản. Khi nhìn lại quá khứ, chúng ta có thể phân tích kết luận này kia, nhưng trước khi bắt tay vào làm thì ai có thể dám chắc mình sẽ thành công?

Ở đây tôi không có ý đánh giá thấp yếu tố cá nhân. Nếu không có nỗ lực, năng lực, phương pháp, suy nghĩ đúng đắn thì kể cả khi vận may đến chúng ta cũng không thể nắm bắt được, hay không thể phát huy hết được. Nhưng rõ ràng yếu tố cá nhân không thể quyết định được thành công, vì bên cạnh những cá nhân ưu tú thành công là cả một đống cá nhân ưu tú không kém nhưng đã thất bại. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây không phải là chúng ta không nên cố gắng hay cứ phó thác cho vận may, mà là chúng ta không nên lầm tưởng rằng chúng ta “tự mình thành công”, hay chúng ta “biết cách thành công”. Điều chúng ta làm được, và biết làm, chỉ là cố gắng hết sức chuẩn bị thật tốt để đón nhận vận may (hay vận rủi) của mình mà thôi.

5. Lợi ích của sự khiêm tốn

Có thể có người sẽ đặt câu hỏi: thế khiêm tốn để làm gì? Sự khiêm tốn bên ngoài sẽ chỉ có tác dụng khiến cho mọi người xung quanh khen chúng ta là “khiêm tốn”. Nhưng sự khiêm tốn bên trong có vai trò rất quan trọng đối với hạnh phúc, thành công và sự trưởng thành của bản thân chúng ta. Nếu không có sự khiêm tốn, chúng ta sẽ dễ dàng tự đánh giá quá cao bản thân, tự cho mình là đúng, và do đó sẽ rất khó tiếp thu kiến thức và tư tưởng mới, nhất là từ những người mà chúng ta không “phục”. Khi gặp ý kiến trái chiều, chúng ta sẽ không nghĩ đến việc tìm hiểu ngọn ngành lý do của ý kiến đó, mà sẽ có xu hướng phủ nhận hoặc gạt bỏ ngay ý kiến đó đi. Điều đó sẽ không có lợi cho việc đạt được một cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về mọi điều trong cuộc sống.

Sự thiếu khiêm tốn cũng sẽ khiến chúng ta có xu hướng giải quyết mọi việc bằng đối đầu thay vì đối thoại. Kể cả khi đối thoại, chúng ta cũng sẽ không để ý đến lời nói và lợi ích của phía bên kia, dẫn đến thế bế tắc, đối lập, hoặc chỉ đạt được kết quả thấp hơn mức có thể đạt được bằng việc hợp tác. Thế gian không nhiều “người xấu” và “kẻ địch” như chúng ta vẫn hay nghĩ. Mỗi người đều hành động vì lợi ích của bản thân, chứ không phải chỉ để triệt hạ người khác. Chỉ cần chúng ta có thái độ khiêm tốn hơn, tôn trọng đối phương hơn, biết lắng nghe hơn, thì rất có thể chúng ta sẽ có thể tìm ra được cách tháo ngòi xung đột, hay tìm ra một giải pháp giúp cả hai bên đều có được lợi ích mong muốn.


Sự khiêm tốn là một trong những dấu hiệu của một nhân cách phát triển. Có lẽ vì vậy mà chúng ta thường đánh giá cao sự khiêm tốn ở người khác. Tuy nhiên, sự khiêm tốn ở bên trong, như đã nói ở trên, không phải là những hành vi bề ngoài, cũng không phải một đức tính riêng lẻ, mà chỉ là một trong những kết quả của việc tu dưỡng bản thân. Vì vậy, chúng ta không nên chạy theo sự khiêm tốn, mà nên tập trung vào việc sống có ý thức và suy ngẫm sâu xa về mọi việc. Khi đó tự khắc sự khiêm tốn sẽ đến với chúng ta một cách rất tự nhiên và hợp lý.

Hãy tập trung vào bản thân

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết mượn nhiều ý tưởng từ cuốn sách “Conscious Business: How to build Value through Values” của Fred Kofman.

Trong một vài năm trở lại đây, khi Facebook bắt đầu lan tỏa rộng rãi hơn tại Việt Nam, cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều trang (page) có nội dung thời sự và giải trí hơn, tôi nhận thấy một xu hướng khá rõ rệt đang diễn ra: chúng ta kêu ca nhiều hơn, và chỉ trích nhiều hơn. Nhìn đâu cũng thấy mọi người kêu ca và chỉ trích về đủ vấn đề: Nhà nước, xã hội, văn hóa, doanh nghiệp, cho đến cả ông hàng xóm. Tất cả những kêu ca và chỉ trích đó đều có một điểm chung: chúng tập trung vào “chuyện của người khác” hơn là “chuyện của bản thân”. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng “chuyện của bản thân” mới là cái chúng ta nên tập trung sự chú ý và suy nghĩ.


1. Ai chịu trách nhiệm về cuộc đời bạn?

Khi được hỏi câu này, có lẽ đa số chúng ta sẽ trả lời là “chính tôi”. Nếu thực sự là như vậy, tại sao chúng ta còn kêu ca? Nếu chúng ta hiểu “trách nhiệm” theo cách tôi đã viết ở một bài viết trước, thì không có lý do gì để chúng ta kêu ca về bất cứ một vấn đề gì trong cuộc sống cả, bởi chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn về cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của chúng ta, từ những vấn đề nhỏ nhặt nhất cho đến cả những vấn đề xã hội và quốc gia. Nếu không suy nghĩ như vậy, thì chúng ta sẽ chỉ là nạn nhân của các tác động xung quanh, và sẽ không phải là người làm chủ cuộc sống của bản thân.

Nói đến đây hẳn nhiều người sẽ phản bác lại rằng: thế thì Nhà nước để làm gì, công an để làm gì, nhà trường để làm gì,… ai cũng phải có trách nhiệm chứ? Để đáp lại, tôi xin hỏi một câu: vậy ai sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất từ các vấn đề trong cuộc sống của chúng ta? Chẳng cần phải suy nghĩ nhiều chúng ta cũng có thể thấy rằng đó chính là bản thân chúng ta. Hay nói đúng hơn, chúng ta coi một điều gì đó là “vấn đề” bởi chúng ta cảm thấy mình phải hoặc sẽ phải chịu thiệt thòi từ nó. Không có gì đảm bảo là người khác sẽ thấy cùng một “vấn đề” với chúng ta, hay có thể tìm ra được cách giải quyết “vấn đề” theo ý chúng ta. Nếu họ không giải quyết hay không giải quyết được, thì chỉ có chúng ta là người tiếp tục bị thiệt thòi mà thôi.

Có người cũng sẽ lại nói rằng: nhưng mà tôi không có lỗi, cớ gì tôi phải chịu trách nhiệm? Như tôi đã nói trong bài viết trước, đúng sai và trách nhiệm không liên quan đến nhau. Kể cả khi chúng ta không có lỗi, nếu chúng ta bước lên nhận trách nhiệm thay vì đổ lỗi cho hoàn cảnh và người xung quanh, thì tức là chúng ta đã biến mình thành người trong cuộc, đặt mình vào vị trí có thể tác động và thay đổi vận mệnh của bản thân. Còn nếu chúng ta không nhận trách nhiệm, tức là chúng ta tự đẩy mình ra khỏi cuộc chơi, biến mình thành khán giả đối với chính cuộc đời của mình. Vận mệnh của chúng ta, do đó, sẽ được quyết định bởi hoàn cảnh và người xung quanh.

Không chịu trách nhiệm cũng là một lựa chọn, thậm chí đôi khi là hợp lý. Việc không chịu trách nhiệm có thể được ví như cổ động viên bóng đá cổ vũ đội nhà vậy. Họ có thể cổ vũ, có thể hò hét cầu thủ, chỉ trích huấn luyện viên, chửi mắng trọng tài, buộc tội đội bạn, nhưng cuối cùng họ vẫn không thể tác động gì đến việc thắng thua của đội nhà. Thắng thì họ vui vẻ ăn mừng, chẳng may thua thì họ hậm hực ra về, nhưng có được niềm an ủi là “không phải lỗi của mình, mà là lỗi của cầu thủ/huấn luyện viên/trọng tài/đội bạn”. Không chịu trách nhiệm đồng nghĩa với không phải chịu áp lực, không phải lao tâm khổ tứ, nhưng cũng không được có quyền lựa chọn số phận của bản thân, tức không có tự do. Lựa chọn thế nào là tự do của chúng ta.

2. Đừng quá khắt khe với bản thân

Tuy nhiên, việc nhận trách nhiệm không đảm bảo cho việc giải quyết được vấn đề. Việc nhận trách nhiệm chỉ giúp chúng ta có cơ hội giải quyết vấn đề mà thôi. Năng lực giải quyết từng vấn đề cụ thể của mỗi chúng ta đều có hạn. Trong suốt cuộc đời, chúng ta thường xuyên chịu sự chi phối của những yếu tố nằm ngoài khả năng tác động của bản thân, và những yếu tố đó có thể cản trở việc giải quyết vấn đề. Bởi vậy, chúng ta cũng không nên tự trách bản thân khi gặp phải một vấn đề nằm ngoài khả năng giải quyết. Làm như vậy chỉ có hại cho chúng ta mà thôi.

Vậy chúng ta “nên” chịu trách nhiệm đến đâu? Cái đó tùy thuộc vào mỗi người tự đánh giá, xem chúng ta đang muốn “làm vừa lòng” ai? Cá nhân tôi nghĩ rằng, xét cho cùng chúng ta sống là để tìm hạnh phúc, mà chỉ có chúng ta mới có thể đánh giá được hạnh phúc của bản thân, nên chúng ta cũng chỉ cần nhận trách nhiệm trong chừng mực bản thân không thấy hối hận là được. Người khác có thể đặt ra những yêu cầu cao hơn, nhưng không có nghĩa là chúng ta phải làm theo. Như tôi đã nói, việc quyết định xem sẽ nhận trách nhiệm đến đâu, và quyết định nhận trách nhiệm về những hệ quả của quyết định đó, cũng là thể hiện của con người tự do. Và tôi tin là nếu thực sự nhận trách nhiệm, thì chúng ta sẽ không có gì phải hối hận về quyết định của mình cả.

Một người nông dân có tự nhận trách nhiệm về mùa màng của mình đến đâu cũng không thể khiến trời tự đổ mưa cứu hạn, mà chỉ có thể tìm cách đưa nước từ nơi khác về ruộng thay vì kêu trời. Nếu người đó không thể tìm ra cách nào, thì đơn giản là mùa màng sẽ mất và người đó sẽ trắng tay. Sau khi trắng tay, người đó có thể tự vựng dậy và tìm cách mưu sinh, hoặc tiếp tục kêu trời và chịu chết đói. Cuộc sống vốn không diễn ra theo ý chúng ta muốn. Nếu bạn vẫn còn cảm thấy tấm tức, thì có thể tham khảo thêm một bài viết khác của tôi về cái sự “giận”.

3. Đừng “cưỡng ép cải tạo” người xung quanh

Một khuynh hướng tôi hay thấy ở nhiều người, nhất là bản thân tôi trước đây, là mỗi khi bắt gặp hay nghĩ ra một “chân lý” nào đó, liền lập tức tìm cách áp đặt nó lên người xung quanh. Có thể bản thân tôi cũng chưa hoàn toàn thấm nhuần “chân lý” đó, nhưng tôi đã vội vàng đánh giá người khác. Bây giờ thì tôi thấy đó là một hành động thật ngạo mạn. Thế nhưng theo cảm nhận của tôi, rất nhiều người trong số chúng ta vẫn làm điều đó hàng ngày hàng giờ. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó khi nhìn vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào. Chúng ta đánh giá lẫn nhau, tìm cách thuyết phục nhau, không thuyết phục được thì tranh luận, tìm cách “chiến thắng” qua việc chỉ ra đối phương “sai”, không thắng được thì miệt thị đối phương là “ngu dốt”, là “vô đạo đức” này kia.

Chúng ta hãy thử nghĩ xem: đã bao giờ chúng ta cho rằng một người có cùng ý kiến với chúng ta là “ngu dốt” chưa? Tất cả những người chúng ta chỉ trích, phản đối, thậm chí miệt thị, đều là những người không có cùng ý kiến với chúng ta, hoặc không tuân theo những gì chúng ta mong muốn. Vậy họ “sai”, họ “ngu dốt”, họ “vô đạo đức” là vì đó là bản chất của họ, hay là vì chúng ta thấy họ không như mình muốn? Nếu hỏi có ai có cách nào để xác định tuyệt đối một người có “ngu dốt” không thì có lẽ không ai trong chúng ta đưa ra được, nhưng trong cuộc sống chúng ta vẫn trùm cái mũ đó lên đầu những người chúng ta không đồng ý. Vậy vấn đề nằm ở họ hay ở cách nhìn nhận của chúng ta?

Cứ coi như vấn đề là ở họ, vậy sau khi “chiến thắng” họ thì chúng ta được cái gì? Bản thân tôi chưa có gia đình cũng chưa có người yêu, nhưng ai đã từng yêu hay lập gia đình có lẽ đều hiểu một kinh nghiệm xương máu: không có “chiến thắng” nào trong chuyện tình cảm cả. Khi có xung đột, bạn có thể khuất phục người kia bằng lý lẽ, tình nghĩa, hay vũ lực, nhưng kết quả vẫn là nhẹ thì tình cảm xa cách, nặng thì quan hệ đổ vỡ. “Chiến thắng” có thể thỏa mãn lòng tự kiêu của chúng ta trong chốc lát, nhưng hầu như không bao giờ thay đổi được người khác. Nếu không có mục đích nào cao hơn, mọi “chiến thắng” với người khác cuối cùng đều vô nghĩa. Cái chúng ta cần là sự hòa hợp và hợp tác, và điều đó không thể có được từ thái độ thù địch hay ngạo mạn bề trên.

Đức Phật Thích Ca, kể cả sau khi đã ngộ ra chân lý, cũng chỉ giảng Phật pháp cho những người muốn nghe, chứ không hề bắt ép hay đánh giá ai cả. Đức Phật thậm chí còn chú trọng giảng cho người hiểu nhiều trước người hiểu ít, người hiểu ít trước người chưa hiểu, thay vì giảng đồng đều cho tất cả mọi người. Đó là vì Người hiểu rằng muốn thay đổi thế gian, muốn đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, thì phải bắt đầu từ việc giúp từng cá nhân một ngộ ra chân lý của bản thân. Chúng ta chẳng cần bàn những việc đao to búa lớn hay quốc gia trọng đại, chẳng cần vung tiền làm từ thiện hay giúp đỡ tất cả mọi người hoạn nạn (tất nhiên làm được thì tốt), chỉ cần mỗi người chúng ta hiểu được đạo lý và đối xử với nhau tốt hơn, là thế gian đã hạnh phúc lên một chút rồi.


Tôi viết bài này không phải để đả kích bất kỳ ai. Thực tế bản thân tôi hàng ngày đôi khi vẫn phạm vào những cái mà tôi cho là không nên làm. Nhưng việc ý thức được những đạo lý trên (của cá nhân tôi) giúp cho tôi có thể luôn không ngừng tự kiểm điểm và sửa chữa bản thân, nhằm tiến dần đến hình mẫu con người lý tưởng (của cá nhân tôi). Tôi cảm thấy nếu chúng ta cứ buông thả việc tu dưỡng bản thân và chỉ chăm chăm vào soi mói chuyện người khác, thì dần dần xã hội của chúng ta sẽ trở thành một nơi rất ngột ngạt mà tôi nhất định không muốn sống trong đó. Qua bài viết này, tôi mong có thể đóng góp thêm một góc nhìn để mọi người có thể tham khảo, và nếu thấy hợp lý thì áp dụng, tất nhiên là với bản thân trước tiên.