Bàn về năng lực (phần 1)

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng của cá nhân tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng và thông tin từ cuốn sách Peak: Secrets from the New Science of Expertise của Anders Ericsson và Robert Pool.

1. Năng lực con người

Năng lực của một người là việc người đó có làm được một việc gì đó hay không, với xác suất thành công là bao nhiêu, và với chất lượng như thế nào. Từ định nghĩa này ta có thể thấy rằng để xác định một năng lực cụ thể chúng ta cần ít nhất ba điều, đó là 1. một tác vụ hay vấn đề cụ thể nào đó làm đối tượng cho năng lực ấy, 2. một quy chuẩn nào đó để đánh giá sự thành công và chất lượng, và 3. một phương thức để đo đạc kết quả của việc hoàn thành tác vụ hay giải quyết vấn đề dựa trên quy chuẩn đã đặt ra. Hay nói đúng hơn, phương thức để đo đạc là một bộ phận phải có trong định nghĩa về một quy chuẩn cụ thể; quy chuẩn để đánh giá là một bộ phận phải có trong định nghĩa về tác vụ hay vấn đề cụ thể; và tác vụ hay vấn đề để làm đối tượng là một bộ phận phải có trong định nghĩa về một năng lực cụ thể.

Một ví dụ cụ thể thường gặp là năng lực ngoại ngữ. Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng cùng là năng lực ngoại ngữ, nhưng năng lực sử dụng một ngoại ngữ cụ thể và năng lực học một ngoại ngữ mới là khác nhau, do có sự khác nhau về tác vụ. Và ngay cả đối với năng lực sử dụng một ngoại ngữ cụ thể, thì năng lực nói chuyện với người bản ngữ, và năng lực để thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ là khác nhau, do có sự khác nhau về quy chuẩn đánh giá.

Một năng lực cụ thể ở mức độ thường được nói tới trong cuộc sống hàng ngày (vd. năng lực chơi cờ vua, năng lực chơi piano,…) có thể được tách thành nhiều năng lực thành phần nhỏ hơn. Các năng lực thành phần này có thể được xếp vào hai phân loại chính: năng lực thể chất và năng lực trí não. Năng lực trí não bao gồm các năng lực phục vụ cho quá trình tiếp nhận thông tin từ môi trường bên ngoài, đưa ra đánh giá hoặc quyết định, cho đến đưa ra mệnh lệnh cho cơ thể để tác động lên môi trường bên ngoài. Năng lực thể chất, hay đúng hơn là năng lực phương tiện, là năng lực phục vụ cho các quá trình có vai trò phương tiện trung gian giữa trí não con người với môi trường bên ngoài. Các quá trình này gồm hai nhóm quá trình chính là quá trình thu nhận kích thích từ môi trường bên ngoài và chuyển hóa thành thông tin đưa đến trí não, và quá trình chuyển hóa mệnh lệnh của trí não thành các hành động vật chất cụ thể tác động trở lại môi trường bên ngoài.

Trở lại với ví dụ về năng lực ngoại ngữ, thì một năng lực cụ thể là nói một câu nào đó bằng một ngoại ngữ nhất định sẽ có thể được chia thành các năng lực trí não như năng lực nghĩ ra được câu cần nói và năng lực điều khiển các bộ phận cơ thể (lưỡi, môi,…) nói câu đó ra, cũng như các năng lực thể chất như năng lực hoạt động theo đúng sự điều khiển từ trí não của các bộ phận cơ thể để tạo nên âm thanh như mong muốn. Chỉ cần một trong các năng lực thành tố này không có hoặc bị giới hạn thì sẽ ảnh hưởng đến năng lực chung tổng thể, bất kể đó là năng lực trí não (vd. không biết ngữ pháp, không biết cách phát âm,…) hay năng lực thể chất (vd. bị liệt thần kinh, bị thương tật ở các bộ phận liên quan,…).

2. Tượng trưng trí não

Các năng lực thể chất theo nghĩa hẹp được nói đến ở trên đều khá dễ hiểu và đã được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, do vậy bài viết này sẽ tập trung vào phương diện trí não của năng lực con người. Nếu như năng lực thể chất được tạo nên bởi các bộ phận của cơ thể con người như giác quan, cơ bắp,… thì thành phần làm nên năng lực trí não chính là các tượng trưng trí não (mental representation) tồn tại trong suy nghĩ và ý thức của con người.

Tượng trưng trí não có thể được hiểu một cách đơn giản nhất là một vật đại diện cho một hoặc một nhóm các thông tin gắn kết với nhau bởi một mối quan hệ nào đó. Tùy vào nội dung và đặc điểm của các thông tin được đại diện mà tượng trưng trí não có thể được gọi bằng rất nhiều cái tên khác nhau như khái niệm, giá trị, nguyên tắc, ký ức, khuôn mẫu,… Một tượng trưng trí não có thể đại diện cho một sự vật sự việc thực tại trong môi trường bên ngoài (vd. ký ức về một cái cây cụ thể nào đó), mà cũng có thể đại diện cho một sự vật sự việc trừu tượng (vd. khái niệm về một cái cây). Một tượng trưng trí não cũng có thể chứa một hay nhiều tượng trưng trí não thành phần khác trong nội dung mà nó đại diện (vd. khái niệm về một cái cây bao gồm các khái niệm về cành, lá, màu xanh,…). (xem thêm Bàn về “khái niệm” và Bàn về trí não con người)

Vai trò của tượng trưng trí não là hỗ trợ công việc xử lý thông tin của trí não. Trí não của con người có hai bộ nhớ phục vụ cho việc lưu giữ thông tin: bộ nhớ ngắn hạn và bộ nhớ dài hạn. Tương tự như RAM và ổ cứng của một chiếc máy tính, bộ nhớ ngắn hạn có thể được truy cập nhanh chóng nhưng có dung lượng rất hạn chế, trong khi bộ nhớ dài hạn có dung lượng rất lớn, nhưng việc truy cập lại không hề đơn giản. Tượng trưng trí não hỗ trợ việc xử lý thông tin bằng việc hoạt động như một “chỉ mục” (index) dẫn tới các thông tin mà nó đại diện trong bộ nhớ dài hạn, cũng như một “lối tắt” (shortcut) thế chỗ cho các thông tin đó trong bộ nhớ ngắn hạn. Thông qua hai chức năng này, tượng trưng trí não giúp nâng cao hiệu quả của việc tìm kiếm và truy cập thông tin từ bộ nhớ dài hạn, cũng như giảm lượng thông tin mà trí não phải lưu trữ trong bộ nhớ ngắn hạn khi thực hiện một tác vụ nào đó.

Tượng trưng trí não là phương tiện chính để con người lý giải về thế giới xung quanh, và do đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự vận hành bình thường của mỗi cá nhân. Chẳng hạn khi một người nhìn thấy một cái cây từ xa thì tượng trưng trí não, mà cụ thể ở đây là khái niệm “cái cây”, sẽ giúp người đó nhanh chóng xác định được đó là một cái cây chứ không phải là bất cứ cái gì khác chỉ bằng một vài đặc điểm bên ngoài. Sau đó, toàn bộ cái cây ấy sẽ tồn tại trong trí não của người đó dưới dạng “ở kia có một cái cây” thay vì một mô tả chi tiết về từng đặc điểm của cái cây cụ thể đó như nó có bao nhiêu lá, cao bao nhiêu,… Đồng thời, người đó cũng sẽ có thể nhanh chóng nhớ lại và suy đoán ra một lượng thông tin rất lớn về cái cây đó để phục vụ cho những suy nghĩ tiếp theo, ví dụ như dưới cái cây đó rất có thể sẽ là bóng mát, dù có thể đây là lần đầu tiên người đó gặp cái cây cụ thể ấy.

3. Tượng trưng trí não và năng lực

Có thể nói rằng quá trình một người học được và nâng cao một năng lực nào đó chính là quá trình xây dựng nên và tối ưu hóa các tượng trưng trí não cần thiết cho năng lực ấy. Các tượng trưng trí não ban đầu sẽ được tạo nên từ những thông tin ở mức “thấp” nhất, cụ thể nhất, chi tiết nhất, và sau đó dần dần các tượng trưng trí não ở mức độ “cao” hơn, phức tạp hơn, trừu tượng hơn sẽ được xây dựng dựa trên các tượng trưng trí não ở tầng thấp hơn. Đồng thời, kết nối giữa các tượng trưng trí não này với các bộ phận cấu thành mà chúng đại diện cũng trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn thông qua việc được sử dụng thường xuyên trong thực tế.

Chúng ta hãy thử lấy một ví dụ là năng lực đạp xe đạp. Một người mới bắt đầu tập đạp xe sẽ chưa có một tượng trưng trí não nào hỗ trợ việc đạp xe, và do đó sẽ phải phát đi từng mệnh lệnh một tới các bộ phận cơ thể để thực hiện những thao tác cơ bản như đạp bàn đạp, nắm ghi đông, nhìn về phía trước,… Thông tin về các thao tác này có thể vượt quá khả năng lưu trữ của bộ nhớ ngắn hạn do chúng chưa được gói gọn trong các tượng trưng trí não, khiến người tập luyện luôn phải cố nhớ lại xem mình cần làm gì tiếp theo. Kể cả khi các tượng trưng trí não này đã được hình thành, thì kết nối giữa chúng với các mệnh lệnh cho cơ thể vẫn có thể còn quá chậm chạp và thiếu hiệu quả, khiến cho trí não không thể kịp thời phát đi các mệnh lệnh cần thiết. Điều này dẫn tới những hiện tượng phổ biến như không thể vừa đạp vừa nhìn về phía trước, hay chỉ đạp một chân xuống mà không đạp ngay được chân kế tiếp.

Thông qua việc luyện tập đều đặn, các tượng trưng trí não phục vụ việc đạp xe sẽ trở nên hiệu quả hơn, giúp cho các thao tác của các bộ phận khác nhau có thể được thực hiện song song, đồng thời việc chuyển tiếp từ thao tác trước sang thao tác sau trong một chuỗi thao tác sẽ trở nên nhuần nhuyễn hơn. Dần dần, các thao tác thường xuyên đi liền với nhau sẽ được gói vào trong các tượng trưng trí não bậc cao hơn, chẳng hạn việc đạp chân xuống và nhấc chân lên sẽ thành đạp chân vòng tròn, việc đạp vòng tròn chân trái và phải thay phiên nhau sẽ thành đạp vòng tròn hai chân, việc đạp chân, giữ ghi đông và quan sát sẽ thành đạp xe về phía trước,… Và kết quả cuối cùng là toàn bộ việc đạp xe tới đâu đó, bao gồm cả tìm đường, đạp xe, rẽ trái phải, tránh vật cản, phanh gấp,… sẽ được gói gọn trong một tượng trưng trí não nhỏ nhắn và hiệu quả, giúp cho một người có thể vừa đạp xe vừa suy nghĩ về đủ thứ khác mà vẫn tới được nơi mình mong muốn.

Một ví dụ khác về tượng trưng trí não là năng lực ghi nhớ. Ví dụ khi ghi nhớ một câu văn, chúng ta sẽ ghi nhớ nó dưới dạng một mô hình mối quan hệ giữa các tượng trưng trí não đại diện cho các ý nghĩa có trong câu (vd. sự vật, hành động, tính chất,…). Mô hình này, bản thân nó cũng có thể là một tượng trưng trí não, sẽ chiếm ít bộ nhớ ngắn hạn hơn nhiều so với việc ghi nhớ từng từ trong câu và vị trí của chúng. Điều này có thể được kiểm chứng bằng cách đảo vị trí các từ trong cùng câu văn đó sao cho chúng không tuân theo một quy tắc ngữ pháp nào. Khi đó việc ghi nhớ câu văn ấy sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều, dù độ dài câu là không thay đổi. Đây cũng là lý do vì sao chúng ta rất khó có thể nhớ được một câu văn của một ngoại ngữ mà chúng ta chưa biết hoặc chỉ mới học.

Điều tương tự cũng xảy ra đối với năng lực chơi cờ vua. Người chưa biết hoặc mới biết chơi cờ vua thường nghĩ rằng việc chơi cờ vua là dự đoán trước các bước đi của đối phương và vạch ra những chiến lược dài hơi cho từng tình huống, một công việc rất lý trí. Nhưng trong cuốn Peak, nhà nghiên cứu Anders Ericsson chỉ ra là các kiện tượng cờ vua luyện tập bằng cách đọc thật nhiều ghi chép về các trận cờ của các kiện tướng trong quá khứ, và xây dựng nên các tượng trưng trí não cho riêng mình. Các quân cờ có liên hệ với nhau trên một bàn cờ được nhóm chung lại thành các nhóm có ý nghĩa, và các nhóm này làm nên một thế cờ, kèm theo đó sẽ là các phương hướng xử lý thích hợp.

Việc đánh cờ khi đó sẽ trở thành việc khớp bàn cờ hiện tại với các thế cờ đã ghi nhớ và lựa chọn bước đi hợp lý nhất tiếp theo từ các lựa chọn được ghi nhớ cùng với các thế cờ đó, một công việc mang nhiều tính trực giác. Điều này giúp cho một số kiện tướng cờ vua có thể làm được những việc như đánh cờ mà không cần bàn cờ, hay đánh cờ với cả chục đối thủ cùng lúc. Nhiều kiện tướng cờ vua còn có khả năng ghi nhớ chính xác một bàn cờ chỉ sau một vài giây quan sát, nhưng thú vị hơn nữa là cũng những kiện tướng đó sẽ không thể nhớ nổi một bàn cờ được sắp xếp theo những cách không thể xảy ra được trong thực tế, vì chúng không thể được gắn với một tượng trưng trí não có sẵn nào.

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, bất kể là các năng lực mang nhiều tính “chân tay” (như đạp xe), hay là các năng lực mang nhiều tính “trí tuệ” (như cờ vua), thì số lượng và chất lượng của các tượng trưng trí não đều làm nên một phần rất lớn, và trong một số trường hợp là toàn bộ, các năng lực của con người.

4. Luyện tập có chủ đích

Trong cuốn sách Outliers, tác giả Malcolm Gladwell đã đưa ra con số nổi tiếng 10.000 giờ đồng hồ, mà ông cho là số thời gian luyện tập cần thiết để một người đạt đến trình độ bậc thầy trong bất cứ lĩnh vực nào. Phát biểu này có một số vấn đề mà bản thân Gladwell cũng phải thừa nhận phần nào đó, và người đọc cần chú ý để tránh hiểu sai. Thứ nhất, không phải mọi lĩnh vực, mọi năng lực đều đòi hỏi đến 10.000 giờ luyện tập. Thứ hai, không nhất thiết cứ phải đủ 10.000 giờ hay đạt tới trình độ bậc thầy thì việc học hỏi và luyện tập năng lực mới có ý nghĩa, và việc luyện tập vẫn sẽ tiếp tục có ý nghĩa sau khi đã qua 10.000 giờ. Và quan trọng nhất, không phải 10.000 giờ luyện tập nào cũng có giá trị như nhau, mà quan trọng là việc luyện tập phải có chủ đích. Điều này đã được khẳng định bởi chính Anders Ericsson, tác giả của các nghiên cứu về luyện tập có chủ đích mà Gladwell dựa vào để đưa ra con số 10.000 giờ.

Luyện tập có chủ đích (deliberate practice) là việc luyện tập một cách tập trung, có ý thức và với mục đích là xây dựng và tối ưu hóa các tượng trưng trí não cần thiết cho một năng lực nhất định nào đó. Luyện tập có chủ đích có những đặc điểm như sau:

  • Luyện tập có chủ đích phát triển những năng lực mà người khác đã khai phá và tìm ra các phương pháp thực hiện một cách có hiệu quả nhất, cũng như đã xây dựng nên những bộ quy chuẩn để đánh giá năng lực đó. Do vậy luyện tập chủ đích đem lại kết quả tốt nhất ở những lĩnh vực đã phát triển cao và có hệ quy chuẩn đánh giá tương đối khách quan như thể thao, biểu diễn nhạc cụ,… thay vì các lĩnh vực mới mẻ hay chưa được chuẩn hóa như triết học hay ăn mỳ bằng mũi.
  • Luyện tập có chủ đích bao gồm việc đặt ra mục tiêu cải thiện một phương diện cụ thể nhất định của năng lực, thay vì hướng tới một sự cải thiện chung chung. Các mục tiêu lớn bao quát cần được chia ra thành các mục tiêu nhỏ hơn. Mỗi mục tiêu là một sự cải thiện nhỏ của một năng lực thành phần nhỏ nào đó, diễn ra theo một thứ tự hợp lý nhất định, và có thể được đo đạc và phản hồi một cách tương đối dễ dàng.
  • Luyện tập có chủ đích hướng tới việc mở rộng giới hạn năng lực, và do vậy các mục tiêu hướng tới cần phải vượt đôi chút ra ngoài phạm vi những gì người tập luyện đang dễ dàng làm được (vd. nhanh hơn chút, cao hơn chút, khác hơn chút,…). Việc luyện tập luẩn quẩn lặp đi lặp lại những gì người tập luyện đã làm được một cách dễ dàng sẽ không dẫn đến việc năng lực được nâng cao. Tuy nhiên, việc vượt ra ngoài giới hạn hiện có này thường không phải là một điều thích thú và do đó cần tới nhiều động lực để thực hiện được một cách đều đặn.
  • Luyện tập có chủ đích là một hành vi có ý thức và có chủ đích, tức đòi hỏi người tập luyện phải tập trung cao và chủ động cảm nhận hay suy nghĩ về những gì mình đang làm nhằm xây dựng, sử dụng và thay đổi các tượng trưng trí não cần thiết để đạt đến mục tiêu đã đặt ra. Việc đơn thuần thực hiện các thao tác một cách không suy nghĩ và không có định hướng sẽ không đem lại kết quả tích cực.
  • Luyện tập có chủ đích đòi hỏi phải có sự phản hồi, và sự phản hồi đó càng nhanh chóng và cụ thể càng tốt. Nếu như sự phản hồi không xảy ra, hoặc xảy ra quá chậm, hoặc nội dung quá chung chung thì người tập luyện sẽ không thể tạo nên sự kết nối giữa những gì mà mình nghĩ và làm với kết quả thực tế đạt được, và do vậy không thể đi đến được kết luận nên tăng cường hay sửa đổi như thế nào đối với những tượng trưng trí não mình đang sử dụng. Ngược lại, nếu như sự phản hồi có xảy ra nhưng người tập luyện không tiếp nhận hoặc không có sự điều chỉnh thích hợp thì sự cải thiện năng lực cũng sẽ không xảy ra.
  • Luyện tập có chủ đích diễn ra theo từng bước từ thấp lên cao, xây dựng năng lực mới dựa trên những năng lực đã có. Khi các tượng trưng trí não ở cấp độ thấp hơn chưa được hình thành và trở nên đủ hiệu quả thì việc xây dựng các tượng trưng trí não ở cấp độ cao hơn sẽ rất khó có thể diễn ra do thiếu sự hỗ trợ của các tượng trưng trí não thành phần. Do vậy việc phân tích một năng lực ra thành một cây năng lực thành phần và xây dựng một kế hoạch luyện tập từng năng lực thành phần theo đúng tuần tự có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc luyện tập năng lực đó.
  • Luyện tập có chủ đích vừa tạo nên và vừa dựa trên các tượng trưng trí não. Các tượng trưng trí não không chỉ là kết quả của việc luyện tập, mà còn đóng vai trò làm mục tiêu và tiêu chuẩn đánh giá cho việc luyện tập. Ban đầu khi các tượng trưng trí não chưa tồn tại hoặc chưa đủ rõ ràng, người tập luyện sẽ cần người hướng dẫn để cung cấp phản hồi. Tuy nhiên khi người tập luyện đã xây dựng được cho mình các tượng trưng trí não rõ ràng về kết quả mong muốn, thì người tập luyện sẽ có khả năng tự đánh giá và tự điều chỉnh việc luyện tập của bản thân.

Có thể thấy rằng, có rất nhiều con đường để gặt đủ 10.000 giờ luyện tập, nhưng không phải con đường nào cũng dẫn tới một năng lực ở trình độ bậc thầy. Trước hết, trong quá trình luyện tập người tập luyện phải có sự tập trung và hướng ý thức tới việc cải thiện một phương diện cụ thể nào đó bằng một kế hoạch cụ thể nào đó. Người tập luyện phải để ý tới các sự phản hồi về kết quả mỗi lần luyện tập và có sự điều chỉnh thích hợp cho các lần luyện tập tiếp theo. Đồng thời, người tập luyện cũng cần liên tục thử thách giới hạn bản thân chứ không chỉ quanh quẩn trong phạm vi những gì đã làm được. Những điều này có thể được tóm gọn trong một vòng tròn Plan – Do – Reflect (lập kế hoạch – thực hiện – tự kiểm điểm), tương tự như vòng tròn PDCA trong quản trị kinh doanh.

Bên cạnh đó, một điểm đáng chú ý nữa là vai trò của một người hướng dẫn. Người hướng dẫn sẽ là người nắm rõ về năng lực cần luyện tập, mang trong mình những tượng trưng trí não cần thiết cho việc phản hồi và hướng dẫn người tập luyện. Điều này rất quan trọng, bởi nếu không có sự phản hồi và hướng dẫn thì người tập luyện rất có thể sẽ xây dựng nên những tượng trưng trí não sai lầm hoặc thiếu hiệu quả. Những sai lầm này càng để lâu sẽ càng trở nên bền chặt hơn và bị vùi lấp dưới các tượng trưng trí não cao hơn thông qua luyện tập, dẫn tới việc sửa chữa sẽ trở nên càng khó khăn hơn. Ngoài ra, người hướng dẫn có thể hỗ trợ việc luyện tập bằng việc lập kế hoạch luyện tập tổng thể, chia việc luyện tập ra thành các bước từ thấp đến cao, đặt ra các mục tiêu có tính thử thách, và thêm vào đó là tạo ra và duy trì động lực luyện tập cho người tập luyện. Tuy nhiên, một người hướng dẫn trực tiếp không phải là điều kiện bắt buộc, và trong hoàn cảnh tối thiểu người tập luyện vẫn có thể tự nâng cao năng lực bằng việc quan sát những người có năng lực cao hơn bản thân.

Tất nhiên, không phải trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể dễ dàng xây dựng được một cơ chế luyện tập có chủ đích. Trong các lĩnh vực mới mẻ, khi những người tập luyện cũng chính là những người đi tiên phong, hay khi người tập luyện ở trong hoàn cảnh không thể tìm được người hướng dẫn hay hình mẫu nào để quan sát, thì việc luyện tập buộc phải trở thành một chuỗi các thử nghiệm và thất bại cho đến khi người tập luyện tự xây dựng được các tượng trưng trí não ở mức độ nhất định. Nếu như trong điều kiện đó, người tập luyện lại không có cách nào thu nhận được sự phản hồi đủ kịp thời và đồng nhất để xác định được mình đã thất bại hay thành công, thì việc luyện tập có chủ đích đơn giản là sẽ không thể diễn ra được.


Tượng trưng trí não là cách một nhóm các thông tin có liên quan tới nhau được biểu hiện trong trí não con người. Các tượng trưng trí não làm nên một thành phần rất quan trọng của năng lực con người. Có thể nói rằng số lượng và chất lượng các tượng trưng trí não chính là lý do đứng sau việc một người có năng lực cao trong một lĩnh vực nào đó, và quá trình luyện tập để nâng cao năng lực chính là quá trình xây dựng và tối ưu hóa các tượng trưng trí não cần thiết cho năng lực đó. Việc luyện tập sẽ đem lại hiệu quả cao nhất nếu như nó được thực hiện một cách có chủ đích, tức là khi người tập luyện tập trung và ý thức tới việc cải thiện từng phương diện cụ thể của năng lực thông qua việc điều chỉnh bản thân dựa trên phản hồi, cũng như không ngừng thử thách bản thân, và tốt nhất là nhận được sự hướng dẫn từ một người hiểu rõ về năng lực đó.

Chủ quan và khách quan

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết chịu ảnh hưởng từ cuốn sách “Zen and The Art of Motorcycle Maintenance: An Inquiry into Values” của Robert M. Pirsig, “Philosophy of Science: A Very Short Introduction” của Samir Okasha, và “Beyond Good and Evil” của Friedrich Nietzsche.

1. Chủ quan và khách quan

“Chủ” (主) hay còn đọc là “chúa”, ngoài nghĩa thường thấy là làm chủ, đứng đầu, nắm quyền (lãnh chúa, địa chủ, chủ nhiệm), còn có thể được dùng để thể hiện hàm ý “tự mình” hay “bên trong” (chủ trương, chủ động). Ngược lại, “khách” (客) ngoài các nghĩa thông thường như người mua, người đến chơi nhà, người làm công việc gì đó (khách hàng, khách sạn, chính khách), cũng có thể được dùng với nghĩa rộng hơn chỉ những yếu tố “không phải tự mình” hay “bên ngoài” (đất khách, sân khách). Nói cách khác, “chủ” và “khách” có thể được dùng để nói về hai phía “trong” và “ngoài” của một ranh giới nào đó. Với “quan” (観) có nghĩa là nhìn (quan sát, thế giới quan), chúng ta có thể hiểu “chủ quan” là “góc nhìn từ bên trong”, và “khách quan” là “góc nhìn từ bên ngoài”, mà ở đây “nhìn” là một sự nhận thức, quan sát hoặc đánh giá, và “trong ngoài” là đối với ranh giữa thế giới ý thức con người (trong) và thế giới vật chất xung quanh (ngoài).

Tại sao lại cần phải phân biệt giữa “chủ quan” và “khách quan”? Đó là vì mọi sự nhận thức, quan sát hay đánh giá về mọi sự vật sự việc đều có tính tương đối, tức chỉ có ý nghĩa khi so sánh với một hệ quy chiếu nào đó làm tiêu chuẩn. Khi chúng ta “nhìn” một sự vật sự việc “từ bên trong”, thì bản thân chúng ta cũng là một phần của hệ quy chiếu. Hệ quy chiếu bản thân đó bao gồm rất nhiều yếu tố, và có thể được chia ra một số phân loại chính là giác quan, cảm xúc, tri thức, giá trị quan, suy nghĩ logic và suy nghĩ trực giác. Một người ăn một chiếc bánh ngọt sẽ chỉ thấy “ngọt” nếu như vị giác (giác quan) của người đó cảm nhận vị bánh là ngọt, và sẽ chỉ thấy cái bánh “ngon” nếu như vị ngọt đó phù hợp với khẩu vị (nhân cách) của bản thân. Hai con người khác nhau, với cơ thể, nhân cách và năng lực tư duy khác nhau, sẽ có thể có cách “nhìn” rất khác nhau về cùng một sự vật sự việc, hay rộng là cùng một thế giới xung quanh.

Từ đó, một người có thể đặt ra câu hỏi rằng cái chúng ta “nhìn” thấy có thực sự tồn tại hay không, và có tồn tại đúng như những gì chúng ta đang “nhìn” thấy hay không? Hay là phải chăng, khi đi qua màng lọc của hệ quy chiếu cá nhân của người quan sát, thì sự vật sự việc đã bị biến tướng đi, trở nên khác đi so với chính nó khi chưa được quan sát, giống như một người mù màu nhìn thế giới? Mặt khác, nếu như mỗi người quan sát thế giới lại cho ra những kết quả có thể khác nhau, tức là cho ra những “sự thật” có thể khác nhau, thì làm sao chúng ta có thể có được một tiêu chuẩn chung, một mặt bằng chung để giao tiếp với nhau? Câu trả lời hợp lý nhất, dĩ nhiên, là chúng ta cần tìm hiểu xem thế giới xung quanh chúng ta thực sự sẽ thế nào khi được quan sát không bằng “mắt người”, mà bằng một con mắt khác độc lập với tất cả mọi con người, một con mắt “khách quan”.

Và có lẽ từ những suy diễn đại loại như trên, mà ngày nay chúng ta có khái niệm “khách quan” được định nghĩa trong từ điển là 1. chỉ cái gì đó tồn tại ngoài ý thức con người, 2. chỉ thái độ nhận xét sự vật căn cứ vào sự thực bên ngoài (theo Wikitionary), hay 3. chỉ một tình trạng hay tính chất đúng đắn mà không cần tới hay không phụ thuộc vào những thiên kiến, diễn giải, cảm xúc hay tưởng tượng của chủ thể, tức là người quan sát và đánh giá (theo Wikipedia). Ngược lại, “chủ quan” được hiểu là ngược lại với “khách quan”, tức là chỉ tính chất phụ thuộc vào ý thức của con người, vào hệ quy chiếu của người quan sát và đánh giá. Hiểu theo một cách khác, một đánh giá hay lập luận mang tính “khách quan” sẽ phản ánh chính xác sự vật sự việc như nó vốn thế, và tuân theo các quy luật của thế giới tự nhiên chứ không phải của con người.

2. Tính khả dĩ của khách quan

Với định nghĩa như vậy, thì con người chúng ta liệu có thể đạt đến được một sự “khách quan” đúng nghĩa hay không? Câu trả lời ngắn gọn là “không thể và không bao giờ”. Như đã đề cập ở trên, để nhận thức được về thế giới xung quanh, con người buộc phải trải qua quá trình bắt đầu từ việc dùng giác quan hoặc cảm xúc để quan sát và tiếp nhận dữ liệu (hình ảnh, âm thanh, cảm giác,…), sau đó dùng tri thức hoặc nhân cách làm cơ sở tham chiếu, cùng với suy nghĩ logic hoặc trực giác làm công cụ, để xử lý dữ liệu thành thông tin (xác định sự vật sự việc và thuộc tính), và cuối cùng là có thể đi đến một kết luận nào đó (đánh giá hoặc quyết định). Quá trình đó gắn bó mật thiết và không thể tách rời khỏi hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát. Do vậy, một sự nhận thức hay đánh giá “khách quan” tuyệt đối, theo nghĩa hoàn toàn không phụ thuộc vào bất cứ một yếu tố con người nào, về căn bản là điều không thể đạt đến được, ít nhất là trong hoàn cảnh hiện tại.

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là hiện thực khách quan không hề tồn tại. Từ những trải nghiệm hàng ngày trong quá khứ và hiện tại, chúng ta dễ dàng có đủ căn cứ để tin tưởng vào sự tồn tại của một hiện thực khách quan chung cho toàn bộ nhân loại, tồn tại độc lập với ý thức của con người. Tuy nhiên, chúng ta không có cách nào quan sát và nhận thức được hiện thực ấy mà không phải đi qua “màng lọc” chủ quan ở một khâu nào đó. Mọi nhận thức và hiểu biết về sự tồn tại của một hiện thực khách quan, cũng như các nội dung và thuộc tính của nó, sẽ luôn hoặc là kết quả của niềm tin, hoặc là kết luận của một phép suy luận quy nạp, và do vậy không thể được đảm bảo là đúng đắn hoàn toàn. Mà kể cả nếu chúng ta có thể đưa ra được một phép suy luận diễn dịch để chứng minh cho tính khách quan của hiện thực đi nữa, thì chẳng phải bản thân suy luận diễn dịch cũng là một phần của ý thức con người, tức cũng là một yếu tố chủ quan hay sao?

Chúng ta hãy thử lấy một vài ví dụ thực tế khác. Nếu có ai đó nói rằng tháp Eiffel rất cao, thì tức là người đó đã dựa vào một tiêu chuẩn “cao” chủ quan. Một người khổng lồ cỡ đỉnh Himalaya sẽ không thấy vậy. Nếu người đó nói tháp Eiffel cao 324m, thì tức là người đó đã dựa vào một niềm tin chủ quan về độ chính xác của thông tin đến từ người khác. Nhỡ đâu thông tin mà người đó đọc được là sai thực tế thì sao? Còn nếu người đó tự mình đo đạc hay tính toán ra độ cao của tháp, thì tức là người đó đã dựa vào các yếu tố chủ quan là phương pháp đo đạc và những gì mình quan sát được bằng mắt. Nhỡ đâu phương pháp của người đó sai, hay người đó nhìn nhầm thì sao? Nhỡ đâu thế giới mà chúng ta đang nhìn thấy chỉ là một ảo giác khổng lồ, giống như thế giới được tạo ra bởi một chương trình máy tính giả lập như trong bộ phim Ma trận thì sao?

Lý luận tương tự cũng có thể được dùng để đặt nghi vấn đối với phần lớn tri thức khoa học của con người. Thực tế là các thành quả nghiên cứu khoa học đều là kết quả của suy luận quy nạp, cụ thể là dựa trên một số lượng hữu hạn các thí nghiệm thành công. Dù cho số lượng thí nghiệm có lên đến hàng nghìn hàng vạn đi nữa, thì điều đó vẫn không thay đổi được việc chúng ta không thể loại bỏ được hoàn toàn các khả năng trái ngược, và do đó không thể đi đến được một khẳng định chắc chắn 100% theo tiêu chuẩn của logic, chứ chưa nói đến theo quy luật khách quan của tự nhiên. Tất nhiên, trong thực tế chúng ta vẫn chấp nhận các kết quả khoa học, vì việc chứng minh chúng theo nghĩa nghiêm ngặt nhất của từ “chứng minh” là cực kỳ tốn kém và có lẽ là bất khả thi, vì các kết quả khoa học vẫn đang phục vụ tốt cho lợi ích của chúng ta, và vì chúng ta thấy các phương pháp khoa học là đủ tin tưởng. Nhưng chẳng phải bản thân sự chấp nhận đó cũng là chủ quan hay sao?

3. Khách quan một cách tương đối

Nếu như một sự “khách quan tuyệt đối” là không thể đạt đến được, vậy thì “khách quan” mà chúng ta vẫn thường nhắc đến trong cuộc sống hàng ngày là gì? Câu trả lời hiển nhiên là: đó là một sự “khách quan tương đối”. Tương đối với cái gì? Tương đối với những yếu tố chủ quan còn lại. Hay nói đúng hơn, sự khách quan mà chúng ta vẫn thường nói đến về bản chất vẫn chỉ là sự chủ quan, nhưng trong một hệ quy chiếu chủ quan nhất định nào đó thì nó có vẻ, và do đó có thể được đánh giá là khách quan. Như đã nói trong bài viết về tính tương đối, mọi đánh giá, suy luận, quyết định của con người đều dựa trên một số tiền đề nhất định nào đó. Các tiền đề này có thể được chia làm hai loại: 1. được diễn đạt rõ ràng, hoặc 2. được ẩn chứa ngầm. Một mệnh đề có thể trở nên khách quan một cách tương đối, nếu như toàn bộ các tiền đề của nó, dù có ý thức được hay không, đều đã được diễn đạt kèm theo một cách rõ ràng, hoặc được chấp nhận một cách mặc định trong hệ quy chiếu chủ quan dùng để đánh giá. Số lượng tiền đề ẩn được sử dụng nhưng không được mặc nhiên chấp nhận càng nhiều, thì tính khách quan của phát biểu được đánh giá càng thấp và ngược lại.

Các đánh giá, suy luận hay quyết định có tiền đề kèm theo thường có dạng P(hát biểu) = “nếu T(iền đề) thì K(ết luận)”, trong đó T là tiền đề của K. Khi được viết theo cách như trên, P mang ý nghĩa khẳng định “trong mọi trường hợp có thể có mà T đúng thì K cũng sẽ đúng”, tức là phạm vi khẳng định đã được thu hẹp đi so với việc khẳng định K đúng tuyệt đối. Khi đó, việc cá nhân người đánh giá có chấp nhận T hay không trên lý thuyết không ảnh hưởng tới giá trị chân lý của K bên trong P nữa, vì trong hệ quy chiếu giả định của P đặt ra thì T luôn luôn đúng. Người đánh giá có thể vừa chấp nhận rằng K đúng với điều kiện T, vừa không chấp nhận T đúng và gián tiếp qua đó không chấp nhận K đúng, mà không hề tự mâu thuẫn. Như vậy, có thể nói rằng khi được phát biểu dưới dạng P thì tính đúng đắn của K đã bớt đi được sự phụ thuộc vào kết quả đánh giá chủ quan của T, và do đó K đã trở nên khách quan hơn so với khi không có tiền đề phát biểu đi kèm.

Dĩ nhiên, không phải mọi tiền đề được diễn đạt đều có dạng “nếu thì”. Một ví dụ là các phát biểu dạng “tôi nghĩ”, “tôi thấy”, trong đó tiền đề được nói đến là toàn bộ hệ quy chiếu cá nhân của người phát biểu. Những phát biểu như vậy có thể được hiểu là “nếu như chúng ta chấp nhận những điều tôi nghĩ là đúng, thì …”, và do đó tương tự như trên, chúng mang tính khách quan hơn so với việc đơn thuần khẳng định kết luận cuối cùng. Một cách diễn đạt tiền đề khác thường thấy trong khoa học là việc nêu ra đầy đủ các phương pháp đã được sử dụng trong một nghiên cứu khoa học, cũng như những hạn chế về tính khách quan có thể có trong những phương pháp đó và ở chính những người làm nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là những kết luận của nghiên cứu khoa học đó chỉ được khẳng định là đúng với điều kiện các phương pháp đã sử dụng được chấp nhận và những hạn chế đã nêu ra được bỏ qua.

Bên cạnh những tiền đề được diễn đạt rõ, những tiền đề dạng ẩn cũng có thể tồn tại ở khắp mọi nơi và trong từng phát biểu. Ví dụ như trong hai đoạn văn trên thì logic được sử dụng là một tiền đề ẩn: một người có logic khác với tôi có thể sẽ không thấy kết luận “K trở nên khách quan hơn khi được phát biểu dưới dạng P” là khách quan. Trong thực tế, các tiền đề được diễn đạt rõ, nếu có, cũng chỉ là phần ngọn của tảng băng chìm. Các tiền đề ẩn mới là phần chính yếu làm nên nền tảng cho mọi đánh giá, suy luận và quyết định của con người, cả bằng lý trí lẫn trực giác. Một ví dụ kinh điển là tiền đề ẩn rằng những gì chúng ta đang cảm nhận thấy bằng các giác quan là thực sự thuộc về hiện thực khách quan. Một ví dụ khác là suy nghĩ rằng khi di chuyển để tiến về phía trước thì phải đạp về phía sau, một tiền đề mà chúng ta chỉ có thể ý thức được khi lần đầu tiên đi trượt patin hay đứng trên băng trơn.

Phần lớn các tiền đề được mặc định ngầm là những tư tưởng và niềm tin đã ăn sâu vào trong ý thức của chúng ta, thậm chí là ở mức độ tiềm thức, có nghĩa là bản thân chúng ta cũng không ý thức được mình đang sử dụng những tiền đề đó. Mà một khi đã không được ý thức, thì đối với chúng ta những tiền đề đó là không tồn tại. Do đó, những phát biểu dựa trên những tiền đề ấy trong mắt chúng ta sẽ dường như không phụ thuộc vào hệ quy chiếu chủ quan của bản thân, tức là trở nên “khách quan”. Số lượng những tiền đề ăn sâu như vậy ở một con người càng nhiều và mức độ ăn sâu càng cao thì phạm vi tư duy của người đó càng bị thu hẹp, tức là người đó càng khó nghĩ đến những khả năng và kết luận đi ngược lại những tiền đề mặc định của mình. Nhưng mặt khác, người đó lại rất có thể sẽ có sự tự tin mãnh liệt hơn vào những tư tưởng và niềm tin của bản thân, vì những điều đó không phải là thứ họ đã chủ động lựa chọn một cách có ý thức, mà là những điều “hiển nhiên” của một “hiện thực khách quan” trong mắt của riêng họ.

4. Để khách quan trong cuộc sống

Trước khi đi vào việc làm thế nào để trở nên khách quan hơn, chúng ta cần nghĩ về việc tại sao chúng ta lại nên/cần/phải khách quan hơn. Trước hết, một phát biểu khách quan sẽ dễ được chấp nhận hơn một phát biểu chủ quan, vì số lượng tiền đề ẩn mà người nghe buộc phải chấp nhận một cách có ý thức để có thể chấp nhận được phát biểu đó sẽ ít hơn. Do vậy, sự khách quan là một thành tố của năng lực thuyết phục, một năng lực quan trọng trong cuộc sống xã hội. Ngoài ra, cho dù rằng một sự khách quan tuyệt đối là điều không thể đạt đến được, nhưng việc luôn luôn hướng tới sự khách quan trong cuộc sống sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn tới việc tìm ra và tuân theo các quy luật khách quan của thế giới tự nhiên, từ đó có thể đem lại lợi ích cho bản thân chúng ta trong nhiều mặt, mà kho tàng tri thức khoa học ngày nay là một ví dụ.

Quay trở lại đầu đề, trong thực tế cuộc sống, khi một người cảm thấy lời một người khác nói là “khách quan”, thì rất có thể đơn giản là lời nói đó dựa trên những tiền đề ẩn mà cả hai người đều cùng mặc định chấp nhận. Hay nói cách khác, trong trường hợp đó người nghe có hệ quy chiếu cá nhân tương tự với người nói trong phạm vi vấn đề được nói đến. Nói rộng ra, trong một cộng đồng người nhất định, sự khách quan về bản chất là sự phục tùng theo hệ quy chiếu chủ quan chung của cộng đồng đó. Điều này có thể thấy ở bất cứ cộng đồng nào, nhưng có lẽ dễ thấy nhất là cộng đồng những người làm khoa học. Đa số các nhà khoa học hiện nay có những quy ước chung để đánh giá một phát biểu khoa học có phản ánh đúng hiện thực khách quan hay không, ví dụ như các bằng chứng có thể quan sát và kiểm chứng được bằng giác quan (empirical evidence). Ngược lại, khi chúng ta cảm thấy lời nói của ai đó là chủ quan, điều đó thường có nghĩa là chúng ta đã phát hiện ra một tiền đề ẩn nào đó của đối phương mà không được hệ quy chiếu cá nhân của chúng ta chấp nhận một cách mặc định, dù chúng ta có ý thức được điều đó hay không.

Như vậy, nếu như chúng ta muốn lời nói của bản thân trở nên khách quan hơn trong mắt người khác, chúng ta cần làm hai điều: 1. xác định phạm vi tương đồng của hệ quy chiếu chủ quan giữa chúng ta và người nghe, và 2. diễn đạt rõ ràng những tiền đề nằm ngoài phạm vi tương đồng nói trên. Nếu lấy ví dụ trong toán học, thì có thể ví tập tất cả các tiền đề chúng ta cần sử dụng cho một lời phát biểu là một số tự nhiên X, còn hệ quy chiếu cá nhân của người nghe là số tự nhiên Y. Khi đó bước 1 là việc tìm ra một ước số chung U giữa X và Y, còn bước 2 là nhân U với một số nguyên R để có được X, trong đó R đại diện cho tập con các tiền đề cần phải được diễn đạt rõ ràng trong số các tiền đề được sử dụng. Dĩ nhiên, U càng lớn thì R sẽ càng nhỏ, tương đương với việc số lượng tiền đề và lập luận kết nối mà chúng ta cần phải trình bày để đi đến kết luận cuối cùng mà vẫn giữ được tính khách quan trong mắt người nghe sẽ càng nhỏ.

Đến đây thì chúng ta có thể thấy được lý do chính của việc vì sao các kết luận được đưa ra bởi khoa học lại thường được xem là có tính khách quan cao. Đó là vì khoa học dựa trên một số lượng tương đối ít các tiền đề ẩn ở một mức độ tương đối thấp trong hệ quy chiếu cá nhân của con người. Con người có thể có những suy nghĩ bậc cao rất phong phú và khác biệt, nhưng tuyệt đại đa số đều sở hữu chung một số bản năng và tiềm thức giống nhau, có nguồn gốc từ việc cùng chung giống loài cũng như việc sinh sống trong cùng một môi trường. Cụ thể, đó là năng lực của các giác quan cũng như niềm tin vào sự chân thực của chúng, niềm tin vào một thế giới ổn định vận hành theo những quy luật bất biến, cũng như những khái niệm và cảm giác về số lượng, logic, nhân quả,… Chúng ta có thể tranh cãi về chuyện món ăn nào ngon hơn, nhưng sẽ không mấy người tranh cãi việc một thiết bị đo đạc hiển thị con số bao nhiêu, hay 1 cộng 1 có bằng 2 hay không. Điều này, cùng với các phương pháp khoa học được thiết lập và diễn đạt rõ ràng, đem lại tính khách quan cao cho khoa học trong mắt đại đa số người.

Tương tự như đối với khoa học, để có thể đi đến được một kết luận khách quan đối với người nghe, chúng ta cần hạn chế các tiền đề ẩn của bản thân ở một mức độ có thể đạt được sự mặc nhận lớn nhất. Chúng ta có thể sử dụng những hệ quy chiếu chủ quan như truyền thống, văn hóa, đạo đức. Nhưng một kết luận dựa trên những tiền đề mang tính phổ quát hơn và rõ ràng hơn của nhân loại ngày nay như quyền tự do cá nhân hay sự trao đổi công bằng thường sẽ được chấp nhận một cách dễ dàng và rộng rãi hơn. Lượng hóa sự đánh giá cũng là một phương pháp để đạt được sự khách quan: “ánh sáng có bước sóng trong khoảng 620–740mm” sẽ khách quan hơn “màu đỏ”, vì nó không còn phụ thuộc vào cảm giác chủ quan về màu sắc của người nói. Trong việc dạy con, một sự phân tích các hệ quả của từng sự lựa chọn sẽ có tính khách quan hơn, và do đó dễ được chấp nhận hơn, một sự cấm đoán hay bắt ép đơn thuần, vì nó không phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của cha mẹ về việc cái gì là điều con cái nên/cần/phải làm. Tất nhiên, việc giải thích càng rõ ràng càng tốt các tiền đề, cũng như sử dụng những suy luận có tính logic là điều không thể thiếu.

Một điều kiện tiên quyết để thực hiện được những điều nói trên là bản thân chúng ta cũng phải có khả năng nhận thức được những tiền đề ẩn chứa trong từng lời nói của bản thân, cũng như sự khác biệt trong hệ quy chiếu chủ quan giữa bản thân và những người xung quanh. Nếu không, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng tưởng rằng những gì mình nói là điều hiển nhiên và khách quan, trong khi nhìn từ những người xung quanh đó lại là những ý kiến mang nặng tính chủ quan, thiên kiến và hẹp hòi. Một sự vật sự việc chỉ có thể được nhận thức, nếu như tồn tại một sự vật sự việc khác biệt với nó để làm đối tượng so sánh. Do đó, để có thể nhận thức được chính mình, không có cách nào khác là chúng ta cần quan sát và tiếp xúc với nhiều hệ quy chiếu chủ quan khác biệt với bản thân. Điều này có thể được thực hiện bằng cách tự đặt bản thân trong vào môi trường mới lạ, với những con người mang văn hóa, truyền thống và phong tục khác biệt với chúng ta.

Nói theo một cách khác, nếu như chúng ta ở trong một môi trường mà tất cả mọi người xung quanh đều có chung những ý kiến, tiêu chuẩn, tư tưởng, thói quen giống nhau, thì những điều đó rất có thể sẽ trở thành những “sự thật khách quan” hiển nhiên mà chúng ta không có cách nào nhận thức được sự tồn tại của chúng. Và tất nhiên, chúng ta cũng sẽ không thể nhận ra được điều gì nếu như khi tiếp xúc với những hệ quy chiếu khác biệt, chúng ta lại mặc định coi chúng là “xấu xa”, “trái đạo đức/tự nhiên” và “cần phải loại bỏ” chỉ vì chúng khác biệt, thay vì nghĩ rằng chúng có thể là một sự thay thế tương đương cho những gì mà mình vẫn coi là điều hiển nhiên. Như vậy, sự đa dạng trong tư tưởng và văn hóa, cũng như việc chấp nhận tính đa dạng đó, bên cạnh việc là nguồn gốc cho sự sáng tạo, còn là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự khách quan của mỗi con người.


Khách quan là chỉ tính chất của một sự vật sự việc không phụ thuộc vào hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát và đánh giá. Tuy một sự khách quan tuyệt đối trong lời nói và tư tưởng là không thể đạt đến, nhưng một sự khách quan tương đối có thể đạt được nếu các tiền đề được sử dụng đều được mặc định chấp nhận hoặc được trình bày rõ ràng. Và tuy rằng nó giúp chúng ta nâng cao khả năng thuyết phục người khác và truy tìm chân lý, nhưng khách quan không phải một thứ tự thân nó “tốt đẹp” hay “tích cực”. Sự khách quan chỉ tốt đẹp trong chừng mực nó có ích cho chúng ta. Xét cho cùng, con người sống là vì mình, và để làm được điều đó thì tất cả mọi sự đánh giá, quyết định, hành động của chúng ta cuối cùng vẫn phải dựa trên hệ quy chiếu chủ quan của bản thân ở một mức độ nào đó. Việc nhận thức được và xây dựng nên một sự hiểu biết hoàn thiện và rõ ràng về hệ quy chiếu chủ quan của chính mình, hay cũng chính là nhân cách tự thân, để trong mỗi tình huống có thể đưa ra được những đánh giá và quyết định chủ quan có lợi cho bản thân dựa trên những thông tin “khách quan” là một điều rất quan trọng. Và điều đó cũng sẽ dẫn tới một sự khách quan hơn trong thế giới quan của mỗi người.

Bàn về “khái niệm”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Thời còn đi học, trong mỗi tiết học thì cái một La Mã đầu tiên thầy cô của tôi thường hay cho chép nhất có lẽ là “khái niệm”. Hồi đấy tôi cũng chả hiểu “khái niệm” nó là cái gì, “định nghĩa” nó là cái gì, hai cái đấy khác nhau thế nào, nên nhiều khi cũng chả quan tâm mà dùng lẫn lộn hết (mà cũng chả thầy cô nào buồn giải thích cả). Đến bây giờ lớn lên, tự tìm hiểu nhiều hơn, tôi thấy “khái niệm” là một … khái niệm mà chúng ta nên biết và hiểu rõ, vì nó vừa có vai trò tích cực rất quan trọng trong sự trưởng thành suy nghĩ của con người nói chung và từng người nói riêng, lại vừa là một “con dao hai lưỡi” rất nguy hiểm đối với bản thân chúng ta và người xung quanh. Trong bài này tôi xin nói qua về khái niệm này.


1. Khái niệm là gì

Chữ “khái” (概) thể hiện sự bao quát, sơ lược (đại khái). Chữ “niệm” thể hiện việc suy nghĩ, ghi nhớ (tâm niệm). “Khái niệm” là những suy nghĩ và ý tưởng của con người được dùng để phân loại, đại diện và mô tả các sự vật, hành động hay tính chất (gọi chung là “đối tượng”) tồn tại trong tự nhiên, xã hội, cũng như suy nghĩ của con người ở một mức độ đơn giản hơn, tổng quát hơn. Chú ý rằng khái niệm không phải là các phát biểu. Điều đó có nghĩa là khái niệm đứng riêng không mang thông tin gì cả, không nói lên một cái gì cả. Nếu coi các phát biểu là câu văn, thì các khái niệm là các danh từ, động từ và tính từ trong câu. Và quả thực mỗi danh từ, động từ, tính từ bất kỳ đều là một ví dụ của khái niệm.

Khái niệm có thể được hình thành từ việc chúng ta quan sát thế giới xung quanh và tự mình phân loại các đối tượng quan sát được. Một đứa trẻ có thể bắt đầu hình thành các khái niệm cơ bản về cơ thể (tay, chân, mặt,…), về cảm xúc (vui, giận, sợ,…), về màu sắc, về đồ vật,… từ trước khi biết nói và trước khi nghe nói đến những khái niệm đó. Khái niệm cũng có thể được truyền đạt lại từ người khác, thông qua việc quan sát các khái niệm thường dùng trong các ngữ cảnh tương tự nhau, hoặc thông qua sách vở, trường lớp. Một đứa trẻ có thể dần nhận biết các khái niệm “đọc” và “sách” nếu bố mẹ đứa trẻ thường xuyên nói “bố/mẹ đọc sách cho con nhé” trước khi cầm sách đọc cho con nghe. Lớn lên đứa trẻ đó sẽ học các khái niệm khoa học trong nhà trường.

Khái niệm cũng có thể được tạo ra bằng cách phân chia, kết hợp, khái quát hóa, hay sáng tạo ra dựa trên các khái niệm có sẵn. Chúng ta tạo ra khái niệm về các giống chó khác nhau từ khái niệm về loài “chó”. Chúng ta tạo ra khái niệm “biển người” từ khái niệm về “biển” và “người”. Chúng ta tạo nên khái niệm “chất” bằng cách khái quát hóa các khái niệm về các chất riêng lẻ. Chúng ta sáng tạo ra các khái niệm “thần thánh”, “thiên đường” một phần dựa trên những khái niệm có sẵn về tự nhiên, xã hội và con người, một phần dựa trên trí tưởng tượng thuần túy. Một khái niệm, do vậy, có thể bao trùm nhiều khái niệm khác, và bản thân nó cũng có thể thuộc về một khái niệm ở cấp cao hơn.

Một khái niệm hoàn thiện và tồn tại lâu dài trong trí não cần có hai yếu tố: một “định nghĩa” về khái niệm đó, và một “cái tên”. Định nghĩa của một khái niệm giúp chúng ta có thể nhận biết được sự tồn tại của khái niệm đó trong các kết quả quan sát và trong suy nghĩ của bản thân. Định nghĩa có thể được thể hiện bằng những ngôn từ cụ thể, mà cũng có thể là một tập hợp các thuộc tính như hình thù, màu sắc, cảm giác,… in hằn trong tiềm thức của chúng ta, giúp chúng ta nhận biết một cách vô thức. Tên của khái niệm là một từ nào đó trong ngôn ngữ của chúng ta, được sử dụng làm “chìa khóa” để tìm kiếm khái niệm trong trí nhớ. Trong thực tế, tên của khái niệm và bản thân khái niệm gắn bó khăng khít đến mức chúng ta thường không phân biệt giữa hai cái với nhau.

2. Tại sao lại cần khái niệm

Trước hết, khái niệm là “cái mác” để dán lên các đối tượng mà chúng ta quan sát được hay suy nghĩ đến. Con người chúng ta nhận biết thế giới xung quanh bằng việc quan sát và so sánh kết quả quan sát với những khái niệm sẵn có. Khi mắt chúng ta nhìn một khung cảnh, não bộ chúng ta tự động gán các khái niệm cho những gì quan sát được: cái vật “cao” màu “xanh” này là cái “cây”, cái vật đang “chạy” kia là cái “xe”,… Và như vậy, thông tin mà chúng ta cần xử lý sẽ đơn giản đi rất nhiều: ở đây có một cái “cây”, ở kia có một cái “xe”,… Tương tự, khái niệm cũng giúp chúng ta có thể “sắp xếp” các suy nghĩ của bản thân thành một mạng lưới các khái niệm tách biệt tương tác với nhau, khiến cho việc xử lý trở nên dễ dàng hơn. Tóm lại, khái niệm giúp chúng ta “nhận thức” và “suy nghĩ”.

Nếu không có các khái niệm, những gì chúng ta nhìn thấy được sẽ là một bức tranh đầy màu sắc hỗn độn không mang một ý nghĩa gì cả. Khi đó, não bộ chúng ta sẽ phải căng sức xử lý từng “điểm ảnh” một để cố hiểu xem chúng ta đang nhìn thấy cái gì. Công việc này rất tốn kém cả về thời gian lẫn năng lượng, và nếu phải thực hiện liên tục sẽ chiếm hết toàn bộ trí óc, khiến chúng ta không thể suy nghĩ được gì khác. Đó là tình trạng mà những đứa trẻ sơ sinh phải trải qua cho đến khi bắt đầu hình thành được những khái niệm đầu tiên. Chúng ta cũng có thể “nếm trải” phần nào cảm giác này khi tiếp xúc với những thứ hoàn toàn xa lạ mà chúng ta không có một chút khái niệm nào, và phải mất công quan sát và suy nghĩ xem nó là cái gì, có tính chất gì, dùng vào việc gì.

Khái niệm đồng thời cũng là “cái neo” để neo giữ tri thức con người. Chúng ta gán các thuộc tính, các quy luật mà chúng ta quan sát được cho các khái niệm, để sau này lôi ra sử dụng khi bắt gặp lại các khái niệm đó: cái “cây” có nhiều “lá” màu “xanh”, “cơm” là các “hạt” màu “trắng”. Chỉ cần phân loại được một đối tượng vào một khái niệm sẵn có nào đó, chúng ta đã có thể biết rất nhiều về đối tượng từ tri thức gắn với khái niệm đó mà không cần phải mất công quan sát lại từ đầu. Khi chúng ta nhìn thấy một cái “xe máy”, chúng ta sẽ biết ngay nó dùng vào việc gì, và mình cần dùng nó như thế nào. Khi nhìn thấy một cái “bánh mỳ”, chúng ta sẽ biết ngay là nó có thể ăn được và có mùi vị đại khái như thế nào. Như vậy, khái niệm giúp chúng ta “ghi nhớ” và “suy đoán”.

Nếu không có các khái niệm, mọi tri thức của chúng ta sẽ giống như hàng nghìn hàng vạn mảnh gỗ nhỏ trôi lập lờ trên biển, nhanh chóng bị quên lãng và mất hút. Chúng ta sẽ chỉ biết được những gì đang diễn ra ở thời điểm hiện tại xung quanh mình, và ghi nhớ được những hình ảnh mới nhìn thấy chưa lâu, chứ không thể ghi nhớ được những thông tin phức tạp. Khi đó đối với chúng ta, hầu hết mọi thứ xung quanh đều là “mới”, đều “xa lạ”. Tóm lại, trí não chúng ta sẽ dừng lại ở mức độ một đứa trẻ sơ sinh hay một người bị chứng mất trí trầm trọng. Có thể nói, khái niệm là những viên gạch xây nên tri thức của con người. Số lượng khái niệm, do vậy, nói lên phần nào mức độ phát triển của trí não một con người nói riêng và cả một nền văn minh nói chung.

3. Sự nguy hiểm của khái niệm

Mọi thứ đều có tính tương đối, và khái niệm cũng vậy. Khi giao tiếp, nhất là với những người nói chung một ngôn ngữ, chúng ta có xu hướng coi rằng đối phương hiểu giống hệt chúng ta về các khái niệm được đề cập đến trong câu chuyện. Tuy nhiên, trong thực tế định nghĩa của mỗi người về cùng một khái niệm, hay hai khái niệm cùng tên, có thể có sự sai lệch, thậm chí là rất khác biệt. Một người có kiến thức về kế toán và một người không biết gì về kế toán có thể sẽ hiểu rất khác nhau về khái niệm “giá thành” (“chi phí làm ra sản phẩm” hay “giá bán sản phẩm”?). Các khái niệm càng trừu tượng thì khả năng và mức độ sai lệch càng lớn. Vì vậy, khi trao đổi những vấn đề quan trọng chúng ta cần đảm bảo rằng hai bên đang nói về cùng một thứ, với cùng một cách hiểu như nhau.

Thứ nữa, khái niệm là một sự giản lược hóa thế giới thực tại. Việc gán các khái niệm cho một đối tượng cho thấy chúng ta nhận thức được đối tượng và các thuộc tính của nó, nhưng cũng có nghĩa là chúng ta nhận thức đối tượng đó một cách đơn giản hơn nó vốn có. Điều này đặc biệt đúng với các khái niệm trừu tượng về con người và xã hội. Khi chúng ta đánh giá một hành vi là dũng cảm, tốt bụng, hay cục cằn, nhút nhát,… cũng tức là chúng ta đã bỏ qua những suy nghĩ sâu xa, những ngữ cảnh cụ thể, và vô vàn các yếu tố khác dẫn đến hành vi đó, mà chỉ chú tâm vào việc ghép hành vi đó vào những khái niệm có sẵn trong đầu chúng ta. Trớ trêu thay, chúng ta càng tạo ra nhiều khái niệm “cao cấp” để mô tả thế giới xung quanh, chúng ta lại càng nhìn thế giới một cách phiến diện hơn.

Bản thân khả năng nhận biết khái niệm của chúng ta cũng có hạn chế. Chúng ta nhận biết hầu hết các khái niệm trong thực tiễn bằng một phép so sánh rất đơn giản với một “bản mẫu” của khái niệm. “Bản mẫu” này cũng rất mù mờ và thường chỉ gồm một số thuộc tính dễ nhận diện nhất. Đó là lý do vì sao chúng ta thường nghĩ “cá voi” là một loài “cá” thay vì “động vật có vú” và “quả bí” là một loại “rau” thay vì “quả”. Đối với các khái niệm trừu tượng thì việc nhận biết càng “tùy hứng” hơn, phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh và bản thân chúng ta. Thế nhưng chúng ta lại thường tin rằng cảm nhận của mình là chính xác, và nhầm lẫn những gì chúng ta nhận thức được với bản chất của đối tượng. Ví dụ dễ thấy nhất là việc chúng ta đánh giá nhân cách qua vẻ bên ngoài: “xăm trổ” là “hung dữ”, “ăn mặc khêu gợi” là “hư hỏng”,…

Cuối cùng, chúng ta có xu hướng kết nối các khái niệm vốn đã mù mờ với những khái niệm còn mù mờ hơn nhưng lại có ý nghĩa lớn như “đúng”, “sai”, “tốt”, “xấu” dựa trên sở thích và đạo đức của bản thân. Những khái niệm này không dừng lại ở việc mô tả, mà còn quyết định cách chúng ta đánh giá và hành động. Một người bình thường không làm hại ai một ngày kia đột nhiên có thể bị gán những “cái mác” là các khái niệm như “hèn nhát”, “ẻo lả”, “lập dị”, “không yêu nước”,… và bị mọi người khinh bỉ, miệt thị hay xa lánh, chỉ vì những cái mác đó “sai” hay “xấu”. Tệ hơn, một khi chúng ta đã “gắn mác” cho ai đó, chúng ta có xu hướng nhận thức thiên vị về phía những cái mác đó. Một người khi đã bị gắn mác “ẻo lả” sẽ bị soi mói từng hành động một để bồi đắp thêm cho cái mác đó, mặc dù có thể trước đó chúng ta chẳng hề để ý đến.


Một cuốn sách Phật giáo tôi đọc được khuyên chúng ta từ bỏ những khái niệm “vớ vẩn” và tiếp nhận mọi vật như nó vốn có. Chúng ta không cần và không thể từ bỏ hẳn việc sử dụng khái niệm, vì hiện tại đó là cách duy nhất để chúng ta có thể xử lý thông tin hiệu quả trong cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta nên biết rằng việc gắn các khái niệm vào con người, xã hội và thế giới xung quanh rồi đánh giá và hành động dựa trên đó là một quá trình đầy sai sót. Do vậy, chúng ta nên cẩn trọng khi tiếp thu và sử dụng từng khái niệm, đảm bảo rằng bản thân mình hiểu rõ về khái niệm đó, và nó thực sự có ý nghĩa, thay vì gom nhặt tất cả các khái niệm người đời “sáng tạo” ra và sử dụng tràn lan một cách vô ý thức.