Thuyết tự chủ và động lực con người (phần 1)

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng của cá nhân tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết ăn cắp ý tưởng và thông tin một cách không biết xấu hổ từ cuốn sách Handbook of Self-Determination Research biên tập bởi Edward L. Deci và Richard M. Ryan và cuốn sách Self-Determination Theory: Basic Psychological Needs in Motivation, Development and Wellness của cùng tác giả.

Động lực tinh thần là một trong những thành phần quan trọng nhưng lại thường ít được để ý đến của đời sống cá nhân và xã hội. Đối với mỗi cá nhân, động lực là lực lượng đứng sau thúc đẩy mọi hoạt động có ý thức của con người. Đối với các tổ chức, việc quản lý và tạo ra động lực hoạt động cho các thành viên của mình là một việc thiết yếu và có ảnh hưởng to lớn đến kết quả hoạt động và thậm chí là sự tồn vong của mỗi tổ chức. Do vai trò quan trọng của nó, mà cho đến nay các nhà khoa học, chuyên gia tâm lý và các triết gia đã đưa ra rất nhiều lý thuyết nhằm giải thích và tiên đoán về động lực tinh thần của con người từ nhiều khía cạnh và trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Một trong những lý thuyết hiện đang thu hút được nhiều sự chú ý là Thuyết tự chủ (self-determination theory) mà tôi xin được giới thiệu trong bài viết lần này.


1. Thuyết tự chủ và động lực

Trước khi đi vào nội dung của Thuyết tự chủ, ta hãy nói qua về khái niệm “động lực”. Động lực, đúng như tên gọi, là thứ (lực) khiến con người thực hiện hành vi (động). Điều đó có nghĩa là động lực vừa cung cấp một sự “định hướng”, vừa cung cấp “năng lượng” để cá nhân thực hiện hành vi. Nói cách khác, động lực luôn là động lực hướng đến hành vi, chứ không có động lực đứng một mình không có phương hướng cụ thể. Nhưng động lực cũng lại khác biệt với những khái niệm khác như “lý do” hay “mục đích” ở chỗ bản thân động lực còn có tính định lượng, thể hiện ở mức độ mạnh mẽ của năng lượng mà động lực cung cấp cho hành vi của cá nhân. Do vậy, khái niệm “động lực” không những có thể được dùng để lý giải vì sao một cá nhân lại thực hiện một hành vi nào đó, mà còn có thể dùng để lý giải mức độ hoạt bát và năng nổ của cá nhân ấy khi thực hiện hành vi.

Thuyết tự chủ là một học thuyết dựa trên thực nghiệm và nằm trong trào lưu các học thuyết tổ chức sinh vật (organismic) về hành vi con người và phát triển nhân cách. Tuy chủ yếu tập trung nghiên cứu ở lĩnh vực tâm lý học, nhưng Thuyết tự chủ cũng được dựa trên một số kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý học và thần kinh học. Bài viết này đề cập chính đến khía cạnh động lực con người, cũng là khía cạnh nghiên cứu chính của Thuyết tự chủ, nhưng phạm vi của nó thì rộng lớn và bao quát hơn, với mục đích là giúp cho con người hiểu rõ hơn về các quá trình tâm lý xảy ra trong nội tâm bản thân và các cá nhân khác, cũng như tìm kiếm các phương pháp hiệu chỉnh môi trường xung quanh, nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần lẫn thể chất và hiệu quả hành động cũng như sự phát triển của mỗi cá nhân.

Đa số lý thuyết về nhận thức từ trước tới nay thường chỉ coi động lực là một khái niệm đơn nhất. Điều đó có nghĩa là các lý thuyết này thường dựa trên giả thiết là tất cả động lực đều giống nhau về định tính và chỉ khác nhau về định lượng, tức là chỉ có động lực mạnh và động lực yếu chứ không có động lực khác biệt nhau về bản chất. Trong các lý thuyết đó, động lực thường được định lượng bằng cách nhân giá trị về mặt tâm lý của kết quả hành vi với xác suất của việc cá nhân có thể đạt được kết quả đó, hoặc dựa trên những khái niệm khác tương tự như niềm tin của cá nhân đối với việc đạt được kết quả, hay kỳ vọng của cá nhân về năng lực bản thân và mối quan hệ nhân quả của hành vi. Các phương pháp tiếp cận này, do vậy, thường bỏ qua việc phân tích sự khác nhau, chẳng hạn, giữa động lực mà cá nhân tự sinh ra với động lực sinh ra bởi phần thưởng hay đe dọa.

Đây cũng là một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa Thuyết tự chủ với nhiều học thuyết khác bàn về động lực. Thuyết tự chủ cho rằng động lực có thể được chia ra làm nhiều phân loại khác nhau về mặt định tính, bên cạnh sự khác nhau về định lượng. Cụ thể, các phân loại động lực này có thể được sắp xếp thành một dải động lực giữa hai thái cực: một bên là động lực có tính tự chủ (autonomous) và một bên là động lực không có tính tự chủ, hay động lực  bị điều khiển (controlled). Chúng có sự khác biệt rõ rệt về nguồn gốc cũng như phương thức đem lại năng lượng và định hướng cho hành vi của cá nhân, và qua đó mang lại sự khác biệt cả về kết quả của các hành vi ấy cũng như tâm lý của bản thân cá nhân. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng lý thuyết về động lực vào thực tế: chúng ta không chỉ cần nghĩ tới việc tạo ra thật nhiều động lực cho cá nhân, mà còn phải nghĩ tới việc tạo ra những loại động lực “tốt” hơn.

Một đặc điểm nữa của Thuyết tự chủ là nó có tính bao quát và mạch lạc, tức là nó không chỉ đề cập và nghiên cứu về cách phân loại động lực, mà còn cả về các điều kiện tác động từ môi trường xung quanh đến cá nhân để dẫn đến từng phân loại động lực khác nhau, cũng như những tác động của mỗi phân loại động lực đối với sức khỏe và hiệu quả hành động của cá nhân. Nói cách khác, Thuyết tự chủ nghiên cứu cả về động lực lẫn tiền đề và kết quả của nó. Thêm vào đó, Thuyết tự chủ dựa trên nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng các kết quả thí nghiệm khoa học trong môi trường thí nghiệm lẫn trong thực tế, trên nhiều lĩnh vực (giáo dục, thể thao, tôn giáo, chính trị,…) và phạm vi đối tượng (giới tính, độ tuổi, văn hóa, quốc gia,…) khác nhau. Tất cả những điều này giúp cho những kết luận của Thuyết tự chủ có mức độ tin cậy cũng như tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao.

2. Năm phân loại động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tinh thần của con người có thể được chia ra làm hai phân loại lớn, dựa trên tương quan giữa động lực và hành vi mà động lực đó thúc đẩy: động lực nội tại (instrinsic motivation) và động lực ngoại lai (extrinsic motivation).

Động lực nội tại là động lực có nguồn gốc từ sự hấp dẫn và thỏa mãn cố hữu của bản thân hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Nói cách khác, động lực nội tại được gói gọn bên trong hành vi và không cần thêm bất cứ một nguồn gốc nào khác nằm ngoài hành vi đó. Khi cá nhân cảm thấy có động lực nội tại đối với một hành vi nhất định, và không gặp phải sự ngăn cản, cá nhân ấy sẽ tự mình thực hiện và duy trì hành vi đó một cách hoàn toàn tự phát mà không cần bất cứ sự thúc đẩy nào khác. Sự hấp dẫn và thỏa mãn làm nên động lực nội tại có thể rất đa dạng, nhưng tựu chung có thể được chia ra làm ba loại chính: động lực tìm hiểu đến từ việc tìm tòi khám phá ra những điều mới mẻ, động lực thành tựu đến từ việc tạo nên một điều gì đó hoặc vượt qua giới hạn của bản thân, và động lực trải nghiệm đến từ việc tiếp nhận những kích thích cảm giác. Ví dụ về động lực nội tại có thể dễ dàng tìm thấy trong hầu hết các hoạt động giải trí của con người.

Động lực ngoại lai là động lực có nguồn gốc nằm bên ngoài hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Một cá nhân thực hiện một hành vi nào đó bằng động lực ngoại lai sẽ không làm như vậy vì bản thân hành vi ấy, mà để nhằm đạt được một mục đích nào đó tách biệt khỏi hành vi, và hành vi khi đó chỉ còn đóng vai trò là công cụ mà thôi. Vì lúc này bản thân hành vi không còn sinh ra động lực, nên động lực sẽ cần phải được tạo ra một cách “nhân tạo” từ một sự kiểm soát (regulation) nào đó. Thuyết tự chủ, do vậy, chia động lực ngoại lai ra làm bốn phân loại nhỏ hơn, dựa trên tính chất của sự kiểm soát nằm trong nó, đi từ không có tính tự chủ đến có tính tự chủ cao: sự kiểm soát từ bên ngoài (external regulation), sự kiểm soát đã tiêm nhiễm (introjected regulation), sự kiểm soát đã đồng nhất (identified regulation), và sự kiểm soát đã tích hợp (integrated regulation).

Sự kiểm soát từ bên ngoài là sự kiểm soát nằm hoàn toàn bên ngoài cá nhân, tức là sự  kiểm soát đến từ môi trường xung quanh. Sự kiểm soát dễ nhận thấy nhất thuộc dạng này là sự đe dọa và cưỡng ép, nhưng chúng cũng có thể là tiền bạc, danh vọng, địa vị, sự tán thưởng, kỳ hạn công việc, kỳ vọng của người thân, sự phán xét của xã hội… Tựu chung lại, một cá nhân bị kiểm soát từ bên ngoài sẽ thực hiện hành vi để nhằm đạt đến một kết quả tích cực nào đó, hoặc tránh khỏi một kết quả tiêu cực nào đó mà hoàn toàn không liên quan tới bản thân hành vi. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác không có sự lựa chọn hoặc chịu sự chi phối từ bên ngoài. Một ví dụ là một người làm việc chỉ để nhận lương, và luôn nghĩ rằng nếu không phải vì tiền thì mình đã nghỉ việc quách cho xong.

Sự kiểm soát đã tiêm nhiễm là sự kiểm soát đã xâm nhập phần nào đó vào bên trong nội tâm cá nhân, nhưng vẫn chưa được chấp nhận làm một phần của nhân cách tự thân. Sự kiểm soát thuộc dạng này thường được thể hiện dưới dạng các sức ép nội tâm như cảm giác nghĩa vụ, cảm giác xấu hổ,… Bản chất của sự kiểm soát này là sự tích tụ của những sự kiểm soát từ bên ngoài mà cá nhân đã trải nghiệm hoặc quan sát được trong quá khứ, được cá nhân ghi nhớ, đúc rút kinh nghiệm và chuyển hóa thành một sự tự kiểm soát bản thân để tránh khỏi các hậu quả của sự kiểm soát trực tiếp từ bên ngoài. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác mâu thuẫn nội tâm tương đối rõ ràng giữa áp lực tinh thần từ bên trong của sự kiểm soát và mong muốn thực sự của nhân cách tự thân cá nhân. Một ví dụ là một người làm việc để không trở thành người thất nghiệp vì sợ bị người xung quanh dè bỉu.

Sự kiểm soát đã đồng nhất là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận về nguyên tắc dựa trên giá trị mà hành vi mang lại, tuy có thể vẫn còn tồn tại sự xung đột ở mức độ nào đó. Sự kiểm soát thuộc dạng này dựa trên một sự đánh giá có ý thức về các mặt lợi hại của hành vi, cả về vật chất lẫn tinh thần, và một sự quyết định có ý thức về việc thực hiện hành vi đó từ nhân cách của cá nhân. Nói cách khác, sự kiểm soát đã đồng nhất xuất hiện khi cá nhân thực hiện một hành vi vì thấy điều đó đem lại giá trị cho bản thân và do vậy tự mình đứng về phía quyết định thực hiện hành vi đó, tức hành vi và lợi ích của cá nhân đã trở nên đồng nhất. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác trách nhiệm đối với hành vi của bản thân. Một ví dụ là một người làm việc vì đã đánh giá và quyết định rằng công việc đó đem lại lợi ích tiền bạc và kinh nghiệm lớn hơn tổng số thiệt hại mà nó đòi hỏi.

Sự kiểm soát đã tích hợp là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận hoàn toàn và tích hợp thành một bộ phận hài hòa với các bộ phận khác của nhân cách. Sự kiểm soát thuộc dạng này xuất phát từ nhu cầu hiện thực hóa nhân cách, tức nhu cầu thể hiện ra bên ngoài những hành vi thống nhất với nhận thức của cá nhân về bản thân mình. Khi đó, cá nhân sẽ thực hiện một hành vi vì đó là một phần của định nghĩa “tôi là ai” trong nội tâm cá nhân, và việc thực hiện hành vi sẽ củng cố thêm cho định nghĩa ấy, giúp cho nhân cách tự thân của cá nhân thêm rõ ràng và chắc chắn. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác tự hào và một sự ủng hộ tinh thần hoàn toàn đến từ bên trong nội tâm cá nhân đối với hành vi được thực hiện. Một ví dụ là một người làm việc vì cảm thấy công việc đó có ý nghĩa cao cả và phù hợp hệ giá trị đạo đức của bản thân.

Bốn cấp bậc của sự kiểm soát thể hiện cho những kết quả khác nhau của một quá trình nội tâm hóa (internalization) những quy củ và yêu cầu từ môi trường xung quanh của cá nhân. Thuyết tự chủ cho rằng con người là một sinh vật luôn có xu hướng tự nhiên là xây dựng nên một nhân cách, một “cái tôi” ngày một thống nhất và phức tạp hơn, thông qua việc thu nhận, tích hợp và tổ chức lại các trải nghiệm từ môi trường xung quanh thành một hệ thống hoàn chỉnh, hợp lý và mạch lạc. Quá trình nội tâm hóa, tức biến những sự kiểm soát tồn tại trong môi trường thành sự kiểm soát của bản thân, là một bộ phận của xu hướng tự nhiên kể trên. Khi quá trình nội tâm hóa diễn ra thành công, kết quả sẽ là những sự kiểm soát có tính tự chủ cao, mà cụ thể ở đây là động lực từ sự kiểm soát đã đồng nhất hoặc đã tích hợp. Sự kiểm soát từ bên ngoài hay đã tiêm nhiễm đều thiếu tính tự chủ và là kết quả của một quá trình nội tâm hóa không thành công.

Chú ý rằng sự phân loại động lực kể trên chỉ thuần túy mang tính học thuật chứ không ám chỉ sự tồn tại của năm thực thể động lực tách biệt nhau trong trí não con người. Thêm vào đó, các loại động lực khác nhau có thể cùng tồn tại ở những mức độ khác nhau đối với cùng một hành vi ở cùng một thời điểm. Một người có thể làm việc vừa để đảm bảo cuộc sống (sự kiểm soát từ bên ngoài), vừa vì một cảm giác nghĩa vụ với xung quanh (sự kiểm soát tiêm nhiễm), đồng thời vì muốn học hỏi kinh nghiệm cho bản thân (sự kiểm soát đã đồng nhất). Sự khác biệt nằm ở mức độ chi phối mạnh mẽ và thường trực của từng loại động lực trong nhận thức của cá nhân. Việc phân loại sự kiểm soát theo mức độ tự chủ từ thấp đến cao cũng không có nghĩa rằng quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó sẽ phải diễn ra qua từng thang bậc theo đúng thứ tự ấy, mà hoàn toàn có thể có sự “nhảy vọt”, tùy thuộc vào những yếu tố sẽ được nói đến sau.

Bên cạnh các phân loại động lực trên, để có thể giải thích đầy đủ các trạng thái động lực của con người, Thuyết tự chủ đưa ra thêm một khái niệm nữa là vô động lực (amotivation). Vô động lực là một trạng thái của cá nhân khi thực hiện một hành vi có ý thức (khác với vô thức và bản năng) mà không có động lực nào đáng kể cả. Trạng thái này thường xuất hiện khi cá nhân bị buộc phải thực hiện một hành vi mà bản thân cá nhân thấy vô nghĩa. Khi đó, cá nhân không nhận thấy được mối liên hệ giữa hành vi với kết quả, và do đó không thực hiện hành vi với chủ ý đạt được kết quả nhất định nào cả. Điều này dẫn đến hệ quả là cá nhân sẽ cảm thấy hoàn toàn chán chường, và sẽ chỉ thực hiện hành vi dưới dạng một loạt các cử động thân thể theo khuôn mẫu như máy móc, chứ không có sự suy nghĩ và đánh giá thường thấy ở hành vi có chủ đích. Bước tiếp theo của trạng thái vô động lực thường sẽ là việc cá nhân dừng hoàn toàn hành vi đang thực hiện.

3. Ba nhu cầu tinh thần cơ bản

Thuyết tự chủ cho rằng mỗi cá nhân con người có ba nhu cầu tinh thần cơ bản: nhu cầu tự chủ (autonomy), nhu cầu năng lực (competence), và nhu cầu kết nối (relatedness).

Nhu cầu tự chủ là nhu cầu cảm thấy mình là khởi nguồn cho những hành vi của bản thân, cảm thấy mình đang làm chủ được bản thân mình. Một cá nhân sẽ cảm thấy mình tự chủ khi cá nhân đó cảm thấy những hành vi và quyết định của mình là sự thể hiện của những giá trị trong nhân cách thực của bản thân, thay vì là kết quả của sự chi phối trực tiếp hay gián tiếp của những nhân tố nằm ngoài nhân cách ấy (đọc thêm Bàn về “nhân cách”). Chú ý rằng cảm giác về sự tự chủ không nhất thiết đồng nhất với sự tự do thường được nghĩ tới, tức là sự không bị giới hạn trong hành động. Một người hoàn toàn vẫn có thể quyết định cảm thấy mình có sự tự chủ ở mức độ nào đó khi làm theo yêu cầu của người khác, hay thậm chí trong những hoàn cảnh thường được cho là kìm kẹp và thiếu tự do như bị uy hiếp, bị giam cầm,… (đọc thêm Bàn về “tự do”)

Nhu cầu năng lực là nhu cầu cảm thấy mình có thể tương tác với môi trường xung quanh một cách có hiệu quả. Điều này bao gồm việc cảm thấy mình có thể dễ dàng lý giải được những sự vật sự việc đang tồn tại và diễn ra xung quanh, cũng như cảm thấy mình biết cách và có khả năng tác động để kiểm soát hoặc thay đổi được những sự vật sự việc ấy, và cuối cùng là cảm thấy sự tác động của mình thực sự đã đem lại được kết quả như mong muốn. Nhìn từ một góc độ nào đó, nhu cầu tự chủ có thể chỉ được coi là nhu cầu năng lực đối với việc kiểm soát cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, nhu cầu tự chủ chú trọng đến nguồn gốc của hành động (bản thân vs. bên ngoài), trong khi nhu cầu năng lực chú trọng đến kết quả (có hiệu quả vs. không có hiệu quả), và do đó hai khái niệm này là khác biệt nhau. Chú ý rằng cảm giác về năng lực không nhất thiết đồng nhất với năng lực thực sự nhìn từ các tiêu chuẩn khách quan.

Nhu cầu kết nối là nhu cầu cảm thấy mình có thể kết nối với môi trường xung quanh một cách gần gũi và có ý nghĩa. Môi trường xung quanh ở đây không chỉ giới hạn ở các cá nhân cụ thể, mà còn có thể là thú cưng hay vật nuôi, hay những cấu trúc xã hội hoặc tinh thần trừu tượng hơn như tổ chức, cộng đồng, dân tộc, quốc gia, hay thậm chí là thế lực siêu nhiên nào đó như thánh thần, Mẹ thiên nhiên,… Nhu cầu này thường được thỏa mãn khi cá nhân cảm thấy mình đang quan tâm, chăm sóc và bảo vệ, và được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ bởi môi trường xung quanh, cảm thấy mình đang là một phần, đang thuộc về một cái gì đó lớn lao hơn. Chú ý rằng sự kết nối ở đây không phải là một công cụ để đạt đến một mục đích khác (vd. tình dục), mà giá trị thỏa mãn nhu cầu nằm ở chính bản thân sự kết nối, vì nó mang lại cho cá nhân cảm giác an toàn trước sự đơn độc và đe dọa cố hữu của cuộc sống con người.

Ba nhu cầu tinh thần cơ bản nói trên, đúng như tên gọi, có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất, chúng là nhu cầu tinh thần, và do đó sự thỏa mãn của chúng sẽ được quyết định bởi trạng thái tinh thần của chính cá nhân, mà ở đây đã được nhấn mạnh thông qua từ “cảm thấy”, chứ không phải bởi các yếu tố khách quan. Tất nhiên, từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng môi trường xung quanh đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đối với các nhu cầu này, nhưng xét cho cùng vai trò ấy vẫn chỉ là gián tiếp mà thôi. Thứ hai, các nhu cầu này là nhu cầu cơ bản, tức là chúng tồn tại trong tất cả mọi cá nhân con người, bất kể sự khác biệt về độ tuổi, giới tính, thể chất, địa vị, tài sản, văn hóa hay nhân cách. Tuy nhiên, tùy vào những yếu tố khác biệt đó mà các nhu cầu này có thể được thể hiện ra dưới các dạng khác nhau và cần được thỏa mãn bằng những cách thức khác nhau.

Việc các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng có mối liên hệ mật thiết với cảm giác của cá nhân về sức khỏe và hạnh phúc của bản thân, cả về thể chất lẫn tinh thần. Cụ thể, những người có nhu cầu tinh thần được thỏa mãn tốt thường cũng sẽ có lòng tự trọng cao hơn, hoạt bát hơn, ít bồn chồn lo âu hơn, và có ít các triệu chứng tinh thần thể hiện ra ở cơ thể hơn. Một điểm thú vị là những nghiên cứu về nhu cầu tinh thần cơ bản cũng chỉ ra những kết quả kể trên có mối liên hệ tiêu cực, tức tỷ lệ nghịch, với việc theo đuổi những mục tiêu nằm bên ngoài bản thân, vd. của cải, danh tiếng và hình ảnh. Từ đó có thể suy đoán rằng những mục tiêu kể trên không phục vụ cho những nhu cầu tinh thần thiết thực của con người, và mối liên hệ tiêu cực với sức khỏe và hạnh phúc có thể được lý giải là do việc theo đuổi những mục tiêu ấy khiến cho việc đáp ứng những nhu cầu tinh thần thực sự cần thiết bị sao nhãng và thậm chí là bị cản trở.

Nhưng điểm quan trọng hơn đối với bài viết này, đó là các nghiên cứu khoa học còn cho thấy khi các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng đầy đủ, thì động lực của cá nhân có xu hướng dịch chuyển về phía các phân loại động lực có tính tự chủ cao. Không khó để thấy rằng một hành vi làm thỏa mãn một nhu cầu tinh thần nào đó của cá nhân sẽ khiến cá nhân nảy sinh động lực nội tại đối với hành vi đó. Nhưng không chỉ có vậy, khi các yếu tố xã hội từ môi trường xung quanh hỗ trợ các nhu cầu tinh thần của cá nhân trong quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó, thì sự nội tâm hóa ấy cũng sẽ có xu hướng tạo nên những sự kiểm soát có tính tự chủ cao hơn. Ngược lại, nếu như môi trường xung quanh ngăn cản và chống lại các nhu cầu tinh thần cơ bản, đặc biệt là nhu cầu tự chủ, thì không những sự kiểm soát được tạo nên sẽ nghiêng về các phân loại thiếu tính tự chủ, mà cả động lực nội tại của cá nhân cũng sẽ bị đè nén và xóa sổ.

4. Phạm vi động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tồn tại ở ba mức độ phạm vi khác nhau: phạm vi toàn cục (global), phạm vi ngữ cảnh (contextual), và phạm vi tình huống (situational).

Động lực toàn cục là khuynh hướng động lực chung nhất và có ảnh hưởng bao quát khắp toàn bộ mọi mặt cuộc sống của cá nhân. Đây cũng thường là động lực ổn định nhất về mặt định lượng lẫn định tính, và thể hiện cho việc cá nhân có xu hướng tiếp cận và thực hiện mọi hành vi với động lực nội tại hay ngoại lai hay vô động lực. Một cá nhân sinh ra thường bắt đầu với một khuynh hướng động lực toàn cục mang tính nội tại thuần túy và sơ khai. Sau đó, động lực toàn cục của cá nhân sẽ  được định hình (uốn nắn?) dần trong quá trình cá nhân xây dựng nên một nhân cách cho riêng mình.

Động lực ngữ cảnh là khuynh hướng động lực có ảnh hưởng bao trùm trong một phân vùng cụ thể nào đó, hay một ngữ cảnh, trong cuộc sống của cá nhân. Ở mức độ rộng nhất, động lực ngữ cảnh có ba phân vùng chính: công việc (bao gồm cả việc học tập), giải trí và quan hệ con người. Đi xuống sâu hơn, động lực ngữ cảnh có thể được chia ra cho từng hoạt động nhất định như đàn hát, bơi lội, chạy bộ, tiệc tùng, tán phét,… Động lực ngữ cảnh tương đối ổn định, nhưng vẫn có thể chịu ảnh hưởng và bị thay đổi bởi môi trường xung quanh. Đồng thời, động lực ngữ cảnh cũng chỉ có ảnh hưởng trong ngữ cảnh cụ thể của nó, chứ không hề có ảnh hưởng gì đến các hành vi ở những ngữ cảnh hoàn toàn tách biệt khác.

Động lực tình huống là động lực trong từng tình huống cụ thể trong cuộc sống của cá nhân. Nói cách khác, động lực tình huống là động lực của cá nhân đối với từng tác vụ cụ thể ở từng thời điểm cụ thể. Từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng động lực tình huống chịu ảnh hưởng ngay lập tức bởi nội dung của tác vụ, kết quả của hành vi, cũng như các yếu tố trong môi trường xung quanh, và do đó động lực tình huống rất không ổn định và có thể thay đổi nhanh chóng cả về chất và lượng qua từng thời điểm.

Việc phân chia động lực theo mức độ phạm vi có ý nghĩa như thế nào? Trước hết, theo Thuyết tự chủ thì động lực ở một phạm vi nhất định sẽ chịu sự tác động và điều chỉnh chủ yếu từ những yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương. Theo đó, động lực toàn cục sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở phạm vi toàn cục, tức những yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến mọi mặt hoặc nhiều mặt của cuộc sống cá nhân một cách lâu dài (vd. gia đình, cộng đồng, Nhà nước,…), động lực ngữ cảnh sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở từng phạm vi ngữ cảnh cụ thể, tức là những yếu tố xã hội có tính bao trùm trong ngữ cảnh đó (vd. động lực đối với việc học tập sẽ chịu ảnh hưởng chính từ nhà trường, giáo viên,…). Điều này sẽ giúp việc xác định động lực cần tác động và những yếu tố xã hội cần được thay đổi để tạo nên tác động một cách chính xác hơn.

Thêm vào đó, bên cạnh việc phụ thuộc vào sự hỗ trợ hay ngăn cản nhu cầu tinh thần của các yếu tố xã hội ở phạm vi tương ứng, động lực ở một phạm vi thấp hơn còn chịu ảnh hưởng của động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Điều này có nghĩa là động lực tình huống của một hành vi sẽ chịu ảnh hưởng từ động lực ngữ cảnh của ngữ cảnh bao trùm hành vi và tình huống đó, đồng thời chịu ảnh hưởng ở mức độ nhỏ hơn từ động lực toàn cục. Có thể hình dung rằng động lực toàn cục và động lực ngữ cảnh tồn tại như những nền móng hay bản vẽ cơ sở khi động lực tình huống của cá nhân được hình thành trong mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Cuối cùng, đồng thời và ngược lại với ảnh hưởng từ trên xuống được nói đến ở trên, động lực ở phạm vi thấp hơn cũng sẽ có ảnh hưởng mang tính đệ quy tới động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Nói cách khác, nếu như động lực tình huống của cá nhân trở nên thiếu tự chủ trong nhiều hành vi và tình huống cụ thể một cách lặp đi lặp lại, thì điều đó sẽ có tác động đến động lực ngữ cảnh tương ứng, khiến cho động lực ngữ cảnh cũng trở nên dần dần thiếu tự chủ hơn, và thông qua đó cuối cùng sẽ gây ảnh hưởng đến động lực toàn cục của cá nhân. Điều này giải thích lý do vì sao động lực ở mỗi phạm vi lại chịu tác động chủ yếu bởi các yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương: đó là vì việc định hình nên các động lực ở phạm vi lớn đòi hỏi sự tác động liên tục kéo dài và nhất quán trong hàng loạt các tình huống, điều mà chỉ có các yếu tố xã hội bao trùm trên các phạm vi lớn tương ứng mới có thể tạo ra được.

5. Ảnh hưởng của động lực

Các nghiên cứu khoa học của Thuyết tự chủ đã cho thấy phân loại động lực trong hành vi của con người có liên hệ mật thiết với nhiều hệ quả và phẩm chất quan trọng ở nhiều mặt khác nhau của cuộc sống, mà cụ thể là hiệu quả hành động, tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, tính tự giác và tính bền bỉ.

Cụ thể, các hệ quả và phẩm chất kể trên được thể hiện ra tích cực nhất khi động lực hành vi là động lực nội tại, và suy giảm dần theo từng thang bậc mức độ tự chủ của động lực, thể hiện ra một cách tiêu cực nhất ở trạng thái vô động lực. Ba phân loại động lực mang lại kết quả tích cực hơn các động lực còn lại là động lực dựa trên sự kiểm soát đã đồng nhất và đã tích hợp (gọi tắt là động lực đồng nhất và động lực tích hợp), cùng với động lực nội tại, được xếp vào nhóm các phân loại động lực tự chủ. Đặc điểm chung của các phân loại động lực tự chủ là cá nhân cảm thấy mình có quyền lựa chọn, và đã tự mình lựa chọn, việc thực hiện hành vi. Đồng thời, lý do cho sự lựa chọn đó cũng bắt nguồn từ bên trong cá nhân: một kết quả đánh giá dựa trên hệ giá trị của bản thân (động lực đồng nhất), một sự mong muốn thể hiện nhân cách bản thân (động lực tích hợp), hoặc những cảm xúc và cảm giác của bản thân khi thực hiện hành vi (động lực nội tại).

Hiệu quả tích cực của các loại động lực tự chủ có thể dễ dàng được lý giải dựa trên những tính chất đã được trình bày ở trên. Trước hết, với các loại động lực tự chủ, tâm trí cá nhân được giải thoát khỏi sự giằng co giữa nhu cầu tự chủ với sự chi phối từ xung quanh như ở sự kiểm soát bên ngoài, hay với sự chi phối của áp lực tâm lý bên trong như ở sự kiểm soát tiêm nhiễm, và do đó cá nhân được tự do dành toàn bộ năng lượng tinh thần và sự tập trung cho hành vi đang thực hiện. Thứ nữa, khi cảm thấy mình không bị kiểm soát bởi một yếu tố nào khác ngoài mong muốn của chính bản thân, cá nhân sẽ có được sự tự do tinh thần để mạnh dạn thử nghiệm những ý tưởng và phương pháp mới thay vì lựa chọn những con đường an toàn hơn. Cuối cùng, do nguồn gốc đến từ những mong muốn và cảm xúc của riêng cá nhân, nên động lực tự chủ có thể được phát huy và duy trì một cách độc lập mà không bị phụ thuộc vào sự tồn tại và tác động liên tục của các yếu tố từ môi trường xung quanh.

Đặc biệt hơn, động lực nội tại thường được gắn với trạng thái “cuốn chảy” (flow), một trạng thái trải nghiệm được cho là tối ưu của con người, trong đó cá nhân đắm chìm hoàn toàn vào hành vi mình đang thực hiện với một cảm giác tập trung cao độ, toàn tâm toàn trí, nhiều khi quên đi ý thức về không gian, thời gian và thậm chí là cả bản thân. Lý thuyết về “cuốn chảy”, một học thuyết khác nằm ngoài Thuyết tự chủ, cho rằng trạng thái này có thể đạt được nếu có đủ ba yếu tố: 1. cá nhân bắt tay vào một hoạt động nào đó một cách có chủ ý, có mục đích và có lộ trình rõ ràng, 2. các tác vụ cụ thể trong hoạt động đó đem lại phản hồi một cách nhanh chóng và rõ ràng, và 3. cá nhân có cảm nhận về mức độ thử thách trước mắt cân bằng với cảm nhận về năng lực của bản thân.

Nhìn từ quan điểm động lực, trạng thái “cuốn chảy” có thể được giải thích dưới dạng một vòng xoáy tích cực của động lực nội tại. Cụ thể, việc cảm thấy mức độ thử thách tương xứng với năng lực khiến cho cá nhân có tự tin vào năng lực của mình, và từ đó nảy sinh động lực nội tại đối với việc thực hiện tác vụ trước mắt để thỏa mãn hơn nữa nhu cầu năng lực của bản thân. Động lực nội tại đó khiến cho cá nhân có khả năng cao hơn trong việc hoàn thành tốt tác vụ, và việc tác vụ phản hồi nhanh chóng sẽ khiến cho nhu cầu năng lực của cá nhân lập tức được thỏa mãn, làm nảy sinh thêm động lực nội tại đối với hoạt động. Cuối cùng, việc có chủ ý, mục đích và lộ trình toàn cục cho hoạt động sẽ giúp cho cá nhân kết nối tới và bắt đầu tác vụ tiếp theo một cách nhanh chóng và trơn tru, bảo toàn được động lực nội tại đã nảy sinh và được bồi đắp từ tác vụ trước, làm nên một chuỗi “phản ứng dây chuyền” kéo dài và có thể càng lúc càng mạnh thêm.

Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng chú ý giữa động lực nội tại với hai loại động lực ngoại lai có tính tự chủ còn lại. Theo đúng định nghĩa, động lực nội tại phụ thuộc vào tính hấp dẫn của hành vi đối với cá nhân, và do đó thường chỉ tồn tại trong phạm vi từng tác vụ hoặc hoạt động cụ thể. Điều này trái ngược với động lực đồng nhất và tích hợp, vốn là các động lực nhắm tới việc đạt được một giá trị nào đó hoặc thể hiện một khía cạnh nào đó của nhân cách cá nhân, và do đó thường tồn tại một cách bao quát và liền mạch trong suốt quá trình đi đến một mục đích nhất định. Nói đơn giản hơn, động lực nội tại có xu hướng cục bộ và hướng tác vụ, trong khi động lực đồng nhất và tích hợp có xu hướng toàn cục và hướng mục đích. Sự khác biệt này khiến cho động lực nội tại thuần túy thường không đem lại kết quả cao so với động lực đồng nhất và tích hợp đối với những hoạt động “dài hơi”, đòi hỏi sự kiên trì cao và bao gồm trong nó nhiều hành vi kém hấp dẫn. Trạng thái động lực lý tưởng, do vậy, là một sự kết hợp giữa động lực nội tại trong từng tác vụ cụ thể với động lực đồng nhất hoặc tích hợp đứng sau hỗ trợ và duy trì hoạt động ở cấp độ bao quát hơn.

(còn tiếp)

 

Tóm tắt “Dân chủ và giáo dục” của Dewey

Chú ý: Bài viết vốn để cho cá nhân tác giả sử dụng và được bê nguyên xi không sửa chữa.

Dưới đây là tóm tắt những ý chính trong cuốn sách “Dân chủ và giáo dục” của John Dewey, nhà giáo dục học và triết gia người Mỹ viết ra lần đầu từ năm 1916, mà tôi đã viết lại hoặc dịch lại để cho bản thân tham khảo về sau. Đọc lại những gì Dewey viết từ tận đầu thế kỷ trước, chúng ta có thể thấy rằng những ý kiến sáng suốt của ông suốt hơn 100 năm vẫn chưa hề được tiếp thu đầy đủ, ngay trên đất Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới. Hay nói đúng hơn, ấy là nền giáo dục của nhân loại, trừ một số ngoại lệ, vẫn hầu như không tiến thêm được đáng kể về mặt bản chất và triết lý so với 100 năm trước đây. Hy vọng rằng bài viết này sẽ góp được phần nào cho việc thay đổi tình trạng ấy.


  • Trẻ em học được một điều gì đó từ người lớn là nhờ thông qua việc tham gia vào một hoạt động hay trải nghiệm chung với người lớn, qua đó điều được nói đến được mang cho một ý nghĩa trong đầu đứa trẻ giống với của người lớn. Sự truyền dạy bằng ngôn ngữ đơn thuần chỉ là một phương pháp mở rộng và chắt lọc ra từ nguyên tắc trải nghiệm chung, chứ không được phép đứng trên nguyên tắc ấy. Trên thực tế hoàn toàn không tồn tại việc truyền thụ các tư tưởng, hiểu biết, năng lực một cách trực tiếp bằng bất cứ cách nào. Cách duy nhất mà người lớn có thể kiểm soát được một cách có ý thức nền giáo dục mà những đứa trẻ nhận được là thông qua việc kiểm soát môi trường mà chúng hoạt động, và qua đó là suy nghĩ và cảm nhận.
  • Ba vai trò của trường học
    • Cung cấp một môi trường đơn giản hóa và phức tạp dần theo thứ bậc
    • Loại bỏ những mặt tiêu cực hiện diện trong xã hội ra khỏi môi trường học tập
    • Tạo ra một môi trường cân bằng giữa các yếu tố và đảm bảo mọi cá nhân đều có thể vượt ra khỏi giới hạn xã hội mình được sinh ra để tiếp xúc được với môi trường rộng lớn hơn
  • Việc hướng dẫn một hành động nhất định cần phải mang vai trò tập trung và đảm bảo tuần tự, tức là loại bỏ những yếu tố thừa thãi, tiêu cực và cản trở việc đi đến mục đích của hành động đó, đồng thời đảm bảo rằng hành động đó thừa hưởng được thành quả từ những hành động trước đó, cũng như chuẩn bị tốt được cho các hành động tiếp theo trong chuỗi thứ tự. Việc hướng dẫn chỉ có thể đóng vai trò đưa ra các kích thích để định hướng những khuynh hướng sẵn có, chứ không thể trực tiếp điều khiển hành vi. Đồng thời, việc hướng dẫn cũng có thể mang tính thiển cận, tuy đạt được mục đích trước mắt nhưng lại khiến cho đối tượng đưa ra những quyết định tệ hơn trong các hành vi sau đó.
  • Một đứa trẻ đặt trong một môi trường xã hội và tham gia vào các hoạt động chung sẽ tiếp nhận những áp lực cả có ý thức lẫn vô thức hướng tới việc hành xử giống với những người thành viên khác trong cùng môi trường xã hội đó. Điều này dẫn tới việc đứa trẻ sẽ bắt chước các hành động của những người xung quanh, từ đó học được ý nghĩa của các hành động cũng như sự vật được sử dụng trong hoạt động chung mà đứa trẻ đó tham gia. Tuy nhiên việc bắt chước khi đó chỉ là phương pháp để đạt tới mục đích là hòa nhập vào xã hội và duy trì vai trò thành viên xã hội, chứ bản thân nó không phải là một mục đích. Đứa trẻ thậm chí sẽ quan sát những người xung quanh để hiểu rõ hơn về vai trò của bản thân cũng như ý nghĩa của từng hành động để tìm ra cách cải thiện hành vi của bản thân cho phù hợp hơn. Đó là một sự bắt chước “thông minh” và mang tính giáo dục, đối lập với một sự bắt chước chỉ để bắt chước, bắt chước cái bề ngoài mà không có cái ý nghĩa ở bên trong.
  • Chúng ta ý thức rõ nhất về sự hướng dẫn định hướng khi chúng ta muốn kiểm soát trẻ em, tức là khi trẻ em làm điều gì đó trái ý chúng ta, hay khi chúng ta muốn trẻ em thay đổi hành vi gì đó. Và vì vậy chúng ta cũng ý thức được kết quả của việc kiểm soát rõ hơn nhiều so với sự hướng dẫn diễn ra một cách gián tiếp và thường xuyên thông qua môi trường xã hội, từ đó chúng ta có xu hướng phóng đại hiệu quả của việc kiểm soát và coi nhẹ hiệu quả của việc hướng dẫn gián tiếp so với thực tế.
  • Điều kiện cho sự phát triển là việc cảm thấy cần thiết những người xung quanh và sự mềm dẻo trong suy nghĩ, cả hai điều kiện đều ở mức cao nhất trong thời kỳ trẻ nhỏ và tuổi trẻ. Trẻ em phải phụ thuộc vào người lớn, nhưng cũng đồng thời có thể nói rằng trẻ em có năng lực và mong muốn khơi gợi và tiếp nhận sự trợ giúp từ phía người lớn. Sự phụ thuộc của trẻ em không dẫn đến sự sống bám, mà gắn liền với sự phát triển, cho thấy nó là một yếu tố tích cực.
  • Sự mềm dẻo là khả năng sử dụng kinh nghiệm để tạo nên những thói quen mới. Thói quen bao gồm cả việc quen với môi trường xung quanh thông qua việc dần bỏ qua việc phản ứng một cách tự nhiên với những sự kích thích không có giá trị, cũng như việc chủ động điều chỉnh hành vi để phù hợp với điều kiện mới. Điều đầu tiên chuẩn bị môi trường cho sự phát triển, trong khi điểm thứ hai làm nên sự phát triển. Thói quen tích cực bao gồm trong nó cả sự suy nghĩ, sáng tạo và chủ động trong việc thích ứng năng lực của bản thân với môi trường và mục tiêu mới, đối lập với thói quen bị động không bao gồm sự suy nghĩ và thể hiện cho sự ngưng trệ phát triển.
  • Sự phát triển là đặc tính của cuộc sống, do đó giáo dục cũng chính là sự phát triển. Sự phát triển có mục đích là chính bản thân nó, do đó nó không có điểm kết thúc, và giáo dục cũng vậy. Giá trị của một nền giáo dục nằm ở khả năng tạo nên sự ham muốn phát triển và cung cấp công cụ và phương pháp để ham muốn đó được sử dụng một cách có hiệu quả.
  • Mục đích của giáo dục là mở rộng khả năng tiếp thu giáo dục hơn nữa. Mục đích của giáo dục không phải là để chuẩn bị cho tương lai, bởi vì làm thế là đánh mất đi lợi ích của những động lực và nhu cầu của đối tượng giáo dục ở thời điểm hiện tại. Mục đích của giáo dục cũng không phải là rèn luyện những kỹ năng chung chung như quan sát, ghi nhớ, tính toán, đánh giá, trừu tượng hóa,… bởi vì làm thế là tách rời những hoạt động đó ra khỏi nhau và ra khỏi đối tượng cũng như môi trường cụ thể mà chúng diễn ra. Một nền giáo dục chăm chú vào việc rèn luyện những kỹ năng cụ thể và hạn hẹp sẽ hạn chế tính chủ động, sáng tạo và thích ứng, vì những phẩm chất này đòi hỏi việc sự tương tác liên tục ở phạm vi rộng của nhiều hoạt động cụ thể đối với nhiều đối tượng cụ thể trong nhiều môi trường cụ thể.
  • Giáo dục là một quá trình xã hội, do đó để xây dựng hay phê phán một mô hình giáo dục trước hết cần phải có một mô hình xã hội lý tưởng mà giáo dục hướng đến. Hai tiêu chí chính để đánh giá giá trị của một hình thái xã hội hay cộng đồng là mức độ chia sẻ những giá trị và lợi ích chung của các tất cả các thành viên trong cộng đồng đó, và mức độ tự do cũng như phong phú trong sự tương tác của cộng đồng đó với các cộng đồng khác. Một xã hội đạt điểm cao ở hai tiêu chí trên là một xã hội dân chủ, và cần có một nền giáo dục khiến cho từng cá nhân có hứng thú tự thân đối với lợi ích chung của xã hội, cũng như có những thói quen về mặt nhận thức có thể tạo nên thay đổi xã hội mà không đem lại sự hỗn loạn.
  • Một mục tiêu là kết quả được dự đoán trước sẽ xảy ra của một quá trình hay hoạt động. Nếu như mục tiêu là điểm kết thúc trong tương lai, thì điểm bắt đầu là việc quan sát các điều kiện của hiện tại, tìm ra các lựa chọn khác nhau, vạch ra một kế hoạch hành động, cũng như tiến hành các thử nghiệm dựa trên mục tiêu đã đặt ra. Điểm bắt đầu là công cụ để đạt đến điểm kết thúc, nhưng điểm kết thúc cũng lại là công cụ để định hướng và điều chỉnh điểm bắt đầu. Cả hai tác động qua lại mật thiết với nhau và làm nên sự uyển chuyển linh hoạt của toàn bộ hoạt động: mục tiêu quyết định việc quan sát và thử nghiệm, nhưng khi việc quan sát và thử nghiệm dẫn đến tình huống mới, thì mục tiêu cũng cần phải được điều chỉnh tương ứng. Một mục tiêu không phải là một thứ đứng trơ một mình, mà cũng không phải là một thứ tuyệt đối hay duy nhất. Một mục tiêu chỉ là một trong số vô vàn những kết quả có thể có từ những lựa chọn khác nhau đã được nghĩ tới từ việc quan sát các điều kiện ban đầu. Nó có tác dụng thúc đẩy và khiến cho hoạt động được bắt đầu và tiếp diễn. Số lượng các kết quả và lựa chọn khác nhau được nghĩ tới càng nhiều, thì chủ thể càng có thể linh hoạt ứng phó với nhiều tình huống, và do đó hoạt động càng có tính thông minh hơn, dù cho mục tiêu được lựa chọn chỉ có một. Một mục tiêu thực sự do vậy luôn phải là một phần không tách rời của bản thân hoạt động, được sinh ra từ việc quan sát hiện tại và suy nghĩ về tương lai của chính chủ thể hoạt động, thay vì đến từ bên ngoài và được áp đặt bằng quyền lực. Một mục tiêu từ bên ngoài sẽ luôn cứng nhắc và cố định, vì nó hoàn toàn tách rời khỏi các điều kiện và công cụ của hiện tại. Thay vì dẫn đến một hoạt động thông minh và linh hoạt, nó kìm kẹp hoạt động và giới hạn sự phát huy năng lực của chủ thể.
  • Bản thân giáo dục không có mục tiêu, mà mọi mục tiêu đều là của con người. Giáo dục do vậy có thể có rất nhiều mục tiêu khác nhau, tùy vào người làm giáo dục và các điều kiện cụ thể của môi trường, cộng đồng lẫn đối tượng giáo dục. Các mục tiêu này không nhất thiết phải loại bỏ lẫn nhau, mà một số có thể cùng tồn tại và bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, một mục tiêu giáo dục tốt cần đạt được ba tiêu chí sau.
    • Mục tiêu đó được xây dựng dựa trên những đặc tính, nhu cầu và hoạt động tự thân của cá nhân từng đối tượng giáo dục. Mục tiêu không nên được thuần túy dựa trên những mong muốn của người làm giáo dục mà không đoái hoài đến đối tượng giáo dục. Mục tiêu cũng không nên quá mức đồng đều mà không đoái hoài đến sự khác biệt giữa từng đối tượng giáo dục.
    • Mục tiêu đó có thể được biến thành một phương pháp để hợp tác với các hoạt động của đối tượng giáo dục, tức nó gợi ý về kiểu môi trường cần thiết để có thể giải phóng và tổ chức năng lực của đối tượng giáo dục. Mục tiêu cần phải giúp ích cho việc xây dựng nên những quy trình cụ thể, và những quy trình này cần phải có thể được dùng để kiểm nghiệm, hiệu chỉnh và tăng cường cho mục tiêu.
    • Mục tiêu không được quá mức rộng và mang tính tối thượng, vì khi đó nó sẽ trở nên trừu tượng và tách biệt khỏi mọi văn cảnh thực tế. Một mục tiêu rộng đơn thuần là một mục tiêu bao trùm một sự quan sát hiện thực đầy đủ và rộng lớn hơn, có tính đến nhiều kết quả và công cụ hơn.
  • Mọi mục tiêu của giáo dục được đặt ra đều chỉ là những quan điểm khác nhau để nhìn nhận về những vấn đề đang tồn tại trong giáo dục, chứ không có cái gì là mục tiêu duy nhất tối thượng cả. Mỗi nhà giáo dục khi đưa ra mục tiêu cho giáo dục đều là vì họ muốn nhấn mạnh vào một khía cạnh nào đó mà họ thấy là giáo dục đang thiếu hay làm sai. không ai lại đi nhấn mạnh thứ không cần nhấn mạnh, cũng có nghĩa là những gì giáo dục đang làm tốt thường sẽ không được nhắc tới.
  • Hứng thú là khi những thiên hướng và hoạt động tự nhiên của một người dẫn người đó đến việc nhận thấy một kết quả hay mục tiêu nào đó trong tương lai mà người đó cảm thấy có liên quan đến bản thân và mong muốn nó xảy ra, và hướng việc quan sát, thu thập thông tin, cũng như tương tác với xung quanh đến việc hiện thực hóa mục tiêu đó. Một người có hứng thú với một điều gì đó tức là người đó tiếp cận và tương tác với nó như một thành phần cần thiết của một quá trình, một hoạt động chuyển biến liên tục và có mục tiêu, thay vì coi nó như một sự vật sự việc tồn tại độc lập. Một hoạt động có mục tiêu đồng nghĩa với việc nó có một trạng thái chưa hoàn thiện và một trạng thái hoàn thiện được mong muốn, đòi hỏi chủ thể hoạt động phải có sự chú ý và chịu đựng liên tục để biến đổi môi trường và sự vật từ trạng thái đầu đến trạng thái sau. Thái độ chú ý và chịu đựng liên tục trong quá trình hướng tới mục tiêu ấy chính là ý chí, và thành quả đem lại từ thái độ đó là năng lực tập trung liên tục, hay chính là kỷ luật. Hứng thú và kỷ luật là hai khía cạnh có liên hệ chặt chẽ với nhau của một hoạt động có mục tiêu. Hứng thú và kỷ luật thực sự chỉ có thể đến từ một hoạt động hướng tới một mục tiêu mà chủ thể hoạt động đó thực sự cảm thấy có liên quan và gắn bó với bản thân. Vai trò của giáo dục là tạo ra môi trường để những thiên hướng và hoạt động tự nhiên của người học sẽ được sử dụng hết mức vào việc làm những điều mà người học cảm thấy hứng thú, đồng thời đảm bảo rằng việc làm những điều đó đòi hỏi người học phải có sự quan sát, thu thập thông tin và sử dụng trí tưởng tượng mang tính xây dựng.
  • Trải nghiệm bao gồm một kết hợp giữa việc làm hoặc thử một điều gì đó với việc nếm trải hệ quả của việc đó. Ý nghĩa của một trải nghiệm sẽ bị phá hủy nếu như hai giai đoạn hành động chủ động và nếm trải bị động bị tách rời. Suy nghĩ là việc thiết lập một cách chính xác và có chủ ý những sự liên hệ giữa những việc đã được làm và những hệ quả của chúng, không chỉ dừng ở mức có liên hệ, mà còn đi sâu vào chi tiết của những sự liên hệ đó. Con người suy nghĩ khi việc tình trạng hiện tại là chưa hoàn chỉnh, chưa được xác định theo một nghĩa nào đó và cần phải có một hành động để giải quyết nó. Khi đó chúng ta sẽ đưa ra dự đoán về hệ quả của các hành động có thể xảy ra, cũng tức là đưa ra các giải pháp có thể có cho tình trạng hiện tại, và tiến hành thử nghiệm một giải pháp đã được lựa chọn. Nếu giải pháp đem lại hệ quả như dự đoán, thì nó sẽ được chấp nhận là đúng đắn, nếu không thì nó sẽ được chỉnh sửa để tái thử nghiệm. Tất cả những quy trình này làm nên việc suy nghĩ. Việc đưa ra các hành động có thể có và dự đoán hệ quả của chúng đòi hỏi việc quan sát và thu thập thông tin về các điều kiện hiện tại và các mối quan hệ nhân quả đã được biết. Sự quan sát và thu thập càng đầy đủ toàn diện thì việc suy nghĩ càng mang tính thông minh thay vì thuần túy là thử nghiệm và thất bại. Và tuy mọi sự suy nghĩ đều dẫn đến tri thức, nhưng xét cho cùng tri thức vẫn chỉ đóng vai trò thấp bản thân việc suy nghĩ, vì thế giới chúng ta sống không hề hoàn thiện mà luôn luôn tiếp diễn, và nhiệm vụ chính của chúng ta là nhìn về phía trước, còn những cái trong quá khứ, tức tri thức, chỉ có giá trị trong việc giúp chúng ta có được sự chắc chắn, an toàn và phong phú khi đối phó với tương lai.
  • Suy nghĩ là một phương pháp của trải nghiệm giáo dục. Để việc suy nghĩ có được hiệu quả giáo dục thực sự cần phải có các bước và yếu tố sau:
    • Cần phải có một tình huống trải nghiệm chân thực và tự nhiên, tức là phải có một hoạt động nào đó mà người học cảm thấy có hứng thú đối với bản thân nó chứ không vì lý do nào khác.
    • Cần phải có một vấn đề chân thực và tự nhiên nảy sinh ra từ tình huống trải nghiệm đó để làm yếu tố kích thích cho việc suy nghĩ.
    • Người học cần phải có được các thông tin cần thiết và tự mình thực hiện việc quan sát hiện thực để xử lý vấn đề đó.
    • Người học cần phải sáng tạo ra hoặc nhận được những gợi ý để giải quyết vấn đề mà bản thân người học sẽ nhận lãnh trách nhiệm phát triển chúng thành lời giải hoàn thiện.
    • Người học cần phải có được cơ hội để áp dụng lời giải do mình xây dựng nên vào thực tế để tự mình thấy rõ ý nghĩa cũng như kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó.
  • Phương pháp là cách để một sự vật sự việc trong một trải nghiệm có thể phát triển một cách hiệu quả nhất. Phương pháp không bao giờ tồn tại tách biệt với sự vật sự việc mà nó mô tả, mà là tổng hòa giữa những tác động lên sự vật sự việc và những thay đổi đến từ sự tác động đó. Cách suy nghĩ tách biệt phương pháp ra khỏi sự vật sự việc đến từ cách suy nghĩ coi trí não và bản thân là tách biệt khỏi thế giới các sự vật xung quanh, và sẽ khiến cho việc hướng dẫn và học tập trở nên cứng nhắc, máy móc và bị hạn chế. Tuy mọi phương pháp đều có tính đặc thù đối với từng cá nhân từng trải nghiệm, có một số điểm chung có thể được chiết xuất ra từ các phương pháp có hiệu quả như sau:
    • Thẳng thắn: tức là việc tương tác hoàn toàn với sự vật sự việc mà không chú ý đến bản thân thái độ và hành vi của mình từ góc độ của một người đứng ngoài.
    • Suy nghĩ mở: tức là sẵn sàng để cho các trải nghiệm và ý tưởng mới được tiếp thu, thẩm định và kết hợp vào trí não hiện tại.
    • Trung thực: tức là khi mục đích và lợi ích hoàn toàn trùng hợp với sự vật sự việc đang được tương tác.
    • Trách nhiệm: tức là hiểu rõ ý nghĩa và dự đoán trước các hệ quả có thể xảy ra của từng hành động và chủ động chấp nhận chúng.
  • Hiểu biết của người giáo viên đối với các sự vật sự việc hay lĩnh vực thường vượt xa so với của người học, và đóng hai vai trò là định ra những tiêu chuẩn rõ ràng trong việc truyền tải và nhận ra được những khả năng tiềm ẩn trong hoạt động của người học. Tuy nhiên những hiểu biết đó không giúp cho người giáo viên biết được gì về hiện trạng hiểu biết của người học, bởi một sự khác biệt lớn về số lượng, trình độ cũng như phương thức tổ chức. Đối với người giáo viên, tri thức có thể rất rộng lớn, được định nghĩa chính xác, và kết nối với nhau một cách logic, nhưng đối với người còn đang học thì tri thức thường là dễ biến đổi, không đầy đủ và kết nối tới những trải nghiệm cá nhân cụ thể. Tâm trí của người giáo viên, do đó, không nên chăm chú vào bản thân sự vật sự việc mình đang cố truyền tải, mà phải hướng tới thái độ và phản ứng từ phía người học, để thấy được trí não của người học đang tương tác với sự vật sự việc như thế nào. Mục tiêu chính của việc giảng dạy là định hướng để cho những trải nghiệm của người học diễn ra theo hướng mà người giáo viên hiểu rõ.
  • Tri thức là những ý nghĩa làm nên nội dung của cuộc sống xã hội đang diễn ra, rất nhiều trong số đó xuất phát từ trải nghiệm của các thế hệ trước. Tri thức càng ngày càng tăng nhanh về số lượng và mức độ quan trọng theo đà phát triển của mức độ phức tạp của cuộc sống xã hội. Để truyền đạt lại cho thế hệ sau, tri thức cần được chọn lọc, định hình và tổ chức lại. Tuy nhiên chính quá trình này có xu hướng biến tri thức trở thành một thứ bản thân nó có giá trị, thay vì là công cụ giúp nhận thức được những ý nghĩa ẩn trong cuộc sống xã hội cũng như giải quyết các vấn đề nảy sinh. Từ đó, người giáo viên có xu hướng coi nhiệm vụ của mình là khiến cho học sinh tiếp thu được và trả lời được những tri thức đó bằng những ngôn từ đã định sẵn mà không chú ý đến mức độ chấp nhận và kết nối tri thức đó trong trí não người học. Để tránh điều đó, người học cần được để cho bắt đầu bằng những hoạt động thực thụ có nguồn gốc và công dụng xã hội, rồi từ đó tiến tới những hiểu biết khoa học về những sự vật và quy luật có liên quan thông qua việc kết nối vào trải nghiệm của mình những ý tưởng và tri thức của những người có hiểu biết hơn.
  • Tri thức ở mức độ cơ bản nhất là những hiểu biết về việc làm những việc cụ thể trực tiếp. Do vậy một trong những phương pháp giáo dục hiệu quả là sử dụng những hoạt động đơn giản tạo được hứng thú đối với những đứa trẻ và mô phỏng được tương đối chính xác những hoạt động xã hội đời thường. Khi đó những đứa trẻ sẽ thu được những kỹ năng và thông tin về các vật liệu, công cụ và quy luật trong quá trình tham gia vào những hoạt động đó vì bản thân sự hấp dẫn của chúng chứ không phải để học. Việc những hoạt động này mô phỏng đời sống xã hội cũng khiến cho những nội dung học được có thể dễ dàng được chuyển sang áp dụng vào các tình huống bên ngoài trường học. Các hoạt động này cần được đảm bảo là chúng phục vụ cho mục đích giáo dục. Nguyên tắc này loại bỏ những hoạt động bám theo hay tái hiện những khuôn mẫu mà không có một chút tự do nào để thay đổi hay đưa ra các đánh giá có suy nghĩ, đồng thời loại bỏ việc sử dụng những tư liệu đã qua xử lý quá hoàn hảo thay vì những tư liệu thô như trong môi trường thực tế. Thêm vào đó, các hoạt động cũng cần chứa đựng trong nó khả năng khiến người học mắc lỗi, cũng như một mức độ thử thách nhất định. Người giáo viên có vai trò trợ giúp và khiến người học nhận ra những sai lầm và yếu kém của bản thân. Trong các hoạt động này, việc tạo nên và giữ một thái độ sáng tạo và mang tính xây dựng ở người học quan trọng hơn là việc đi đến một kết quả hoàn hảo.
  • Bất cứ một trải nghiệm nào, dù ban đầu trông có vẻ đơn giản thế nào đi nữa, đều có thể ẩn chứa trong nó một lượng ý nghĩa lớn vô tận thông qua việc bổ sung thêm các kết nối đến các sự vật sự việc và trải nghiệm khác trong trí não. Một trong những cách đơn giản và hiệu quả nhất để bổ sung thêm ý nghĩa cho trải nghiệm là thông qua giao tiếp thông thường với những cá nhân khác, tức là sự giao tiếp mà trong đó cả hai phía có cùng chung một lợi ích hay hứng thú nào đó, khiến cho một phía hào hứng cho đi và phía còn lại hào hứng nhận về, thay vì một sự giao tiếp một chiều mà trong đó một phía nói ra một điều gì đó chỉ với mục đích áp đặt lên phía còn lại. Trong giáo dục, địa lý và lịch sử là hai lĩnh vực rất tốt cho việc mở rộng ý nghĩa của các trải nghiệm trực tiếp mang tính cá nhân. Địa lý làm điều đó bằng cách làm rõ các kết nối giữa trải nghiệm với tự nhiên, còn lịch sử thì bằng cách làm rõ các kết nối với con người, tuy nhiên cả hai khía cạnh này đều là các khía cạnh của cùng một tổng thể cuộc sống, bởi cuộc sống xã hội của con người luôn gắn chặt với tự nhiên
  • Khoa học là kết tinh của nhận thức trong trải nghiệm, nhắm tới việc đưa ra những phát biểu làm rõ được nguồn gốc, căn cứ và hệ quả của một niềm tin nào đó, thay vì đơn thuần chỉ thuật lại những trải nghiệm mang tính cá nhân và độc nhất. Điều này khiến cho các phát biểu khoa học có tính logic, nhưng cũng cần chú ý rằng tính logic này khác với phương thức suy nghĩ của người học, vì suy nghĩ của người học là đi theo tuần tự thời gian từ thô đến tinh trong tính trí óc của trải nghiệm. Nếu điều này không được chú ý tới, thì khoa học sẽ chỉ được tiếp thu như một đống thông tin đơn thuần, nhưng lại kém hấp dẫn hơn cả những thông tin thông thường, vì các thông tin khoa học được truyền tải bằng những ngôn ngữ xa lạ và mang tính kỹ thuật. Vai trò của khoa học trong giáo dục là nhằm giải thoát cho trí não người học khỏi tính cục bộ, tạm thời, ngẫu nhiên của trải nghiệm và mở ra những chân trời tri thức mới. Để làm được điều đó, khoa học bắt buộc phải thực hiện chức năng trừu tượng hóa và tổng quát hóa, giải phóng các ý niệm khỏi ngữ cảnh cụ thể mà nó bắt nguồn và kết nối nó một cách rộng rãi hơn, qua đó đưa thành quả trí óc của một người đến cho tất cả nhân loại.
  • Một hoạt động có thể có hai giá trị, một giá trị tự thân và một giá trị phương tiện. Giá trị tự thân là giá trị của hoạt động đó trong mắt chủ thể hoạt động khi nó được thực hiện với mục đích không gì khác ngoài chính nó. Giá trị tự thân của một hoạt động là không thể định lượng được và do vậy không thể được so sánh với hay thay thế bởi một hoạt động khác. Tuy nhiên sẽ có những lúc một người buộc phải so sánh hai hoạt động với nhau để lựa chọn một hoạt động đem lại lợi ích lớn hơn trong một hoàn cảnh nhất định. Giá trị được đưa ra so sánh khi đó chỉ còn là giá trị phương tiện, tức là giá trị của mỗi hoạt động trong việc hiện thực hóa một mục tiêu thứ ba nào đó trong hoàn cảnh cụ thể mà sự đánh giá giá trị được đưa ra. Trong giáo dục, mỗi nội dung học tập đều có thể có giá trị tự thân không thể so sánh hay thay thế được bởi một nội dung khác đối với một người học cụ thể nào đó, và do vậy việc xây dựng nên một thứ bậc trên dưới về giá trị giữa các nội dung học một cách chung chung là một điều vô nghĩa. Mọi nội dung học đều nên có những lúc được thưởng thức bằng giá trị tự thân của chúng. Khi nhất định phải so sánh các nội dung học, tức so sánh giá trị phương tiện của chúng, thì cần chú ý rằng tiêu chí đánh giá giá trị đúng đắn nhất phải nằm trong những tình huống cụ thể trong thực tế mà những nội dung đó được sử dụng. Giá trị của một nội dung học, do vậy, có thể và phải được minh chứng qua thái độ đón nhận và hào hứng của người học đối với nó (giá trị tự thân), hoặc thông qua việc khiến người học nhận thấy vai trò của nó trong việc đạt tới một mục tiêu nào đó mà bản thân người học có hứng thú (giá trị phương tiện). Một nội dung học nếu không tự thân hấp dẫn được người học thì ít nhất cần phải có ích một cách thiết thực và cụ thể, nhưng ngược lại nếu như một nội dung học tự thân khiến cho người học thấy hứng thú thì không còn cần bất cứ một lý do nào để biện minh cho giá trị của nó cả.
  • Những người làm giáo dục có xu hướng phân biệt và gán cho mỗi nội dung học một số ít giá trị nhất định khác nhau nào đó, và dựa vào đó để chứng minh tính cần thiết của bản thân nội dung học đó cũng như việc kết hợp các nội dung học cụ thể nhất định để làm thành một “nền giáo dục đầy đủ và hoàn chỉnh”, tức một nền giáo dục cung cấp một loạt các giá trị đủ rộng theo một tiêu chí chủ quan nào đó. Tuy nhiên trong thực tế một nội dung học có thể đem đến rất nhiều giá trị phong phú và rộng rãi tùy vào từng tình huống và cách tiếp cận cụ thể. Việc xây dựng nên những tiêu chuẩn đánh giá giá trị trong mỗi nội dung học cần phải dựa trên việc nhận ra những đóng góp mà nó mang lại đối với ý nghĩa thiết thực của các trải nghiệm cá nhân thông qua nhận thức trực tiếp của từng người học. Thêm vào đó, dù cho các nhà giáo dục có gán cho một nội dung học những giá trị gì đi nữa, thì cũng không chỉ vì thế mà nội dung học ấy bỗng nhiên có thể đem lại những kết quả đúng như vậy, mà ngược lại một nội dung học có những giá trị nhất định là vì nó đem lại những kết quả nhất định phù hợp, mà điều đó phụ thuộc phần lớn vào phương pháp tiếp cận của người giáo viên cũng như thiên hướng của từng người học cụ thể. Thế nhưng xu hướng chung vẫn là coi một phát biểu về giá trị của một nội dung học như thể nội dung học đó có một năng lực thần bí cố hữu tạo nên giá trị trong bản thân nó, bất chấp trong thực tế nó có đem lại được giá trị cho người học hay không, để từ đó nhất nhất bảo vệ tính cần thiết của nội dung học ấy. Điều này dẫn tới việc mỗi nhóm lợi ích đều tìm lấy cho mình một hay một vài nội dung học nào đó để cho rằng chúng đem lại những giá trị mà mình mong muốn và do đó cần phải đưa vào hệ thống trường học hay thậm chí lập ra hệ thống trường học riêng, từ đó khiến cho giáo dục luôn quá tải về số lượng và loại hình học. Người ta quên lãng đi bản thân giáo dục giữa biển khơi của các thể loại giáo dục khác nhau.
  • Một trong những sự phân biệt giá trị nổi bật nhất trong giáo dục hiện tại là giữa việc giáo dục văn hóa và giáo dục nghề. Điều này bắt nguồn từ lý do lịch sử khi xã hội xa xưa thịnh hành suy nghĩ chia con người thành hai tầng lớp: những người được xem là thiếu lý trí mà chỉ biết làm nô lệ cho những dục vọng thấp kém, đóng vai trò lao động trực tiếp làm nên của cải dịch vụ, và những người được xem là tinh hoa có năng lực trí óc vượt trội cần được giải phóng khỏi những thứ thấp kém và vật chất để truy tìm chân lý, được phép sống dựa trên thành quả lao động của tầng lớp trước. Khi đó, những nội dung học phục vụ cho việc lao động trực tiếp hay thậm chí chỉ là có tương tác trực tiếp với thế giới vật chất đều bị khinh thường và hầu như không được đả động tới trong hệ thống giáo dục chính thống, còn những nội dung học dành cho tầng lớp tinh hoa thì hoàn toàn tách biệt khỏi thực tiễn cuộc sống, tồn tại trong một thế giới riêng thuần túy trừu tượng. Điều này vẫn còn ảnh hưởng tới tận ngày nay khi mà tư tưởng chủ đạo là mọi người đều bình đẳng và mọi hình thức lao động đều có giá trị, và dẫn tới những hệ quả như những nội dung học được cho là có giá trị thực tiễn cao như toán và khoa học lại bị dạy theo một cách trừu tượng và xa rời thực tiễn. Nhiệm vụ của một nền giáo dục mới tốt hơn là gắn kết với các trải nghiệm thực tiễn của cá nhân trong khi vẫn hoàn thành được chức năng giải phóng trí não khỏi tính cục bộ và tạm thời của các trải nghiệm đó.
  • Thúc đẩy việc học là nhiệm vụ chính của giáo dục và trường học, nhưng để làm được việc đó một cách hiệu quả, việc học cần phải là kết quả phụ phái sinh từ việc tham gia vào các hoạt động hay công việc tiếp diễn liên tục mang trong nó một mục tiêu mang tính xã hội và sử dụng những tư liệu của các tình huống xã hội thường thấy. Trong điều kiện như vậy, bản thân trường học trở thành một dạng sinh hoạt xã hội, một cộng đồng xã hội thu nhỏ và tương tác chặt chẽ với những hình thức trải nghiệm mang tính gắn kết xã hội khác bên ngoài khuôn viên trường học. Bất cứ hình thức giáo dục nào xây dựng nên năng lực tham gia và chia sẻ một cách hiệu quả cuộc sống xã hội đều có tính đạo đức. Một nền giáo dục như vậy sẽ tạo nên một nhân cách không chỉ biết thực hiện những việc cần thiết về phương diện xã hội mà còn có hứng thú đối với việc liên tục điều chỉnh và thích ứng cần phải có cho việc phát triển. Hứng thú đối với việc học hỏi từ tất cả mọi mối tiếp xúc của cuộc sống là thứ hứng thú mang tính đạo đức cao nhất.

Bài toán của thầy và bài toán của em

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Democracy and Education” của John Dewey.

Có điểm khác biệt gì giữa một vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống và một vấn đề mà đứa trẻ đó gặp phải trên lớp học? Vì sao những đứa trẻ ở ngoài đời thường thì luôn tò mò hiếu kỳ về đủ các loại vấn đề và luôn bỏ bom người lớn bằng đủ các loại câu hỏi, nhưng cũng những đứa trẻ ấy sau một thời gian đến trường thì một phần ko nhỏ lại trở nên thờ ơ với những kiến thức trong sách vở?

Câu trả lời rất đơn giản: hứng thú.

Bất cứ một con người nào cũng đều có những thiên hướng và hành vi đặc trưng. Những thiên hướng và hành vi đó khi va chạm với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh sẽ dẫn đến những trải nghiệm và kích thích của riêng từng người. Những trải nghiệm và kích thích đó có thể làm nảy sinh ra những vấn đề hay câu hỏi nhất định cần lời giải đáp. Và suy nghĩ của con người ko gì khác chính là một phương pháp hay công cụ để giải quyết những vấn đề đó.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó là vì vấn đề ấy nằm trên con đường đi của những thiên hướng và hành vi tự nhiên của người đó. Có thể bản thân thiên hướng của người đó dẫn họ đến vấn đề ấy, mà cũng có thể là họ bắt gặp vấn đề ấy trên con đường để đi đến lời giải đáp cho một vấn đề khác mà họ có hứng thú. Điều này giống như việc một dòng nước chảy sẽ cuốn trôi đi những vật cản trên con đường của nó vậy.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó cũng đồng nghĩa với việc người đó cảm thấy một lợi ích nào đó của bản thân phụ thuộc vào việc tìm ra lời giải đáp cho vấn đề đó. Lợi ích ấy có thể là tiền nong, sức khỏe, quan hệ, quyền lực, hay có thể đơn giản chỉ là việc thỏa mãn sự tò mò, nhưng chắc chắn một điều là nó xuất phát từ những thiên hướng tự nhiên, hay chính là nhân cách tự thân của người đó.

Khi một người có hứng thú với một vấn đề, thì người đó sẽ có động lực để giải quyết vấn đề đó, để nhằm tiến lên phía trước và đem lại lợi ích cho bản thân. Khi đó chúng ta có thể nói rằng người đó cảm thấy có trách nhiệm với vấn đề đó, hay người đó coi vấn đề đó là “của mình”. Ngược lại với thái độ có hứng thú và trách nhiệm ko gì khác chính là sự thờ ơ.

Theo như tiêu chuẩn trên, rõ ràng có thể thấy rằng những vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống bên ngoài trường học đều là những vấn đề mà nó cảm thấy hứng thú. Bởi vì nếu ko có hứng thú thì đứa trẻ đó đã chẳng coi những vấn đề ấy là vấn đề. Đó là những vấn đề nảy sinh từ việc những thiên hướng và hành vi tự nhiên của đứa trẻ va chạm với thế giới xung quanh. Nói cách khác, đó là những vấn đề mà ko sớm thì muộn, bằng cách này hay cách khác đứa trẻ đó cũng sẽ gặp phải trong quá trình sống ở môi trường hiện tại.

Ngược lại, đại đa số những vấn đề và câu hỏi mà một đứa trẻ gặp phải trong trường học lại là những vấn đề “nhân tạo”, nếu ko muốn nói là “giả tạo”. Chúng ko phải là những vấn đề nảy sinh từ những thiên hướng và hành vi tự nhiên của những đứa trẻ, mà là được “chế tạo” ra để làm công cụ cho việc truyền tải những điều mà người lớn muốn trẻ em tiếp thu. Chúng ko hề có hoặc có rất ít sự gắn kết đối với những trải nghiệm thực tế mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày. Một phần lớn trong số chúng là những câu hỏi mà nếu như ko bị bắt buộc phải đến trường thì rất có thể đứa trẻ đó sẽ ko bao giờ bắt gặp.

Ko khó gì để thấy rằng hệ thống trường học hiện tại ko phải là một môi trường tốt để cho những đứa trẻ có thể bắt gặp các vấn đề một cách tự nhiên. Trong đa số các lớp học, trẻ em hầu như chỉ ngồi im một chỗ và ko được làm gì khác ngoài việc nghe giảng, chép bài và trả lời câu hỏi của giáo viên. Nội dung và thời điểm các môn học đều được định sẵn mà ko hề có tham khảo một chút nào đến mong muốn của từng đứa trẻ. Điều đó có nghĩa là những thiên hướng và hành vi tự nhiên của một đứa trẻ, ngoài những thứ phục vụ cho việc học trên lớp, hầu như ko có cơ hội thể hiện và được chấp nhận trong trường học. Khi đó đương nhiên đứa trẻ ấy cũng sẽ khó có thể bắt gặp những vấn đề mà nó thực sự có hứng thú.

Nếu như chỉ có vậy, thì những câu hỏi trong trường học, tuy có thể là vô bổ, nhưng vẫn còn là vô hại, vì những thiên hướng tự nhiên của một đứa trẻ sẽ tự biết loại bỏ những gì nó ko thấy có hứng thú và tập trung sự chú ý vào những thứ còn lại. Vấn đề lớn nhất của giáo dục trường học là việc những đứa trẻ ko được để cho tự do lựa chọn việc có suy nghĩ tìm cách giải quyết những câu hỏi được đặt ra cho chúng hay ko, mà những vấn đề ấy được áp đặt lên đầu chúng thông qua những công cụ như điểm số hay sự đánh giá từ giáo viên và cha mẹ.

Trong một môi trường như vậy, hứng thú của những đứa trẻ sẽ ko còn nằm trực tiếp ở những câu hỏi được đưa ra nữa, mà nằm ở việc đáp ứng những tiêu chuẩn và đòi hỏi từ người lớn. Việc giải quyết các vấn đề và trả lời các câu hỏi sẽ chỉ còn là một trong những công cụ để đạt được những điểm 10, để được thầy cô khen ngợi, để ko bị cha mẹ mắng mỏ. Nói cách khác, bài toán mà thầy đưa ra là chuyện của thầy, còn bài toán của em là làm sao để ko bị thầy cho ăn điểm xấu.

Và một cách hết sức tự nhiên, khi con đường thẳng là suy nghĩ giải quyết vấn đề có vẻ như quá gập ghềnh khó khăn, thì những đứa trẻ sẽ lựa chọn những con đường khác nhẹ nhàng hơn để đến cùng một cái đích là điểm số. Rất có thể trong những con đường ấy sẽ ko hề tồn tại sự suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo mà hệ thống giáo dục luôn mong muốn diễn ra, bởi vì bản thân việc giải quyết vấn đề ko phải là mục tiêu thực sự. Trái ngược lại với điều đó, chẳng có một ai lại nghĩ đến chuyện “gian lận thi cử” khi tự mình tìm cách học nấu một món ăn mới hay học chơi một nhạc cụ mới hay học nói một ngôn ngữ mới cả.

Hẳn nhiên, những điều trên ko có nghĩa là chúng ta nên phá bỏ hệ thống trường học và để mặc cho những đứa trẻ tự phát triển. Số lượng và chất lượng những kích thích mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội xung quanh, và do vậy thường sẽ mang tính hạn chế và cục bộ nếu ko có sự can thiệp có chủ ý. Nhiệm vụ của trường học là cung cấp một môi trường mà trong đó trí não của những đứa trẻ sẽ được kích thích nhiều hơn, rộng hơn và cân bằng hơn so với những sự kích thích mà chúng nhận được ngoài đời, và để cho chúng tự mình tìm ra từ đó những vấn đề mà chúng có hứng thú.

Nhiệm vụ của trường học còn là đảm bảo rằng việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi những đứa trẻ phải tự mình quan sát, tìm tòi, suy nghĩ cũng như sáng tạo, và cung cấp cho chúng những thông tin, công cụ và chỉ dẫn cần thiết và vừa đủ để làm được điều đó. Một đứa trẻ nếu như ko nhận được sự giúp đỡ thích hợp khi đứng trước một vấn đề quá khó sẽ có khả năng bỏ cuộc và đánh mất hứng thú. Nhưng nếu sự giúp đỡ vượt quá mức cần thiết thì đứa trẻ cũng sẽ ko còn cơ hội sử dụng trí não của riêng mình để tự tìm ra lời giải, và do đó việc giải quyết vấn đề sẽ mất đi phần lớn giá trị giáo dục. Nói cách khác, trường học cần phải là vườn ươm trí não đúng nghĩa, chứ ko phải là đấu trường hoang dại hay cái lò nuôi gà công nghiệp.

Tìm tòi học hỏi và suy nghĩ tìm cách giải quyết các vấn đề là những hành vi tự nhiên, nếu ko muốn nói là cần thiết phải có, của mọi con người. Việc biến những đứa trẻ từ những cái hố chân không bám lấy và hút vào đủ mọi loại tri thức thành những em học sinh chán chường và đôi khi căm ghét việc học phải nói là một thành tựu đòi hỏi công sức ko hề nhỏ của cả một hệ thống giáo dục sai lầm. Chừng nào trường học vẫn còn đâm đầu vào việc đơn thuần truyền tải những điều người lớn muốn trẻ em tiếp thu một cách cưỡng ép, và đánh giá các em thuần túy bằng khả năng ghi nhớ kiến thức và trả lời các câu hỏi nhân tạo, thì việc thờ ơ và gian lận trong giáo dục sẽ vẫn còn là điều phổ biến.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi là

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Tôi tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa xã hội, hay ít ra là có tư tưởng thiên về chủ nghĩa xã hội. Lý do ban đầu tôi trở nên “màu đỏ” có lẽ là vì kết quả của sự “nhồi sọ”, “tẩy não” qua 12 năm học “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”. Nhưng đến thời điểm này, sau khi đã tiếp xúc với một số luồng suy nghĩ và thông tin khác nhau, tôi có thể khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi đã tự mình lựa chọn, nếu không phải là với tư cách một triết lý rõ ràng, thì ít ra cũng là với tư cách một niềm tin và mơ ước. Trong bài này tôi xin trình bày một số suy nghĩ lặt vặt của bản thân mới nảy ra trong thời gian gần đây. Bài viết chủ yếu nhằm mục đích viết suy nghĩ thành lời, chứ không phải nhằm tranh luận hay chứng minh điều gì cả.


1. Chủ nghĩa xã hội và thư viện

Vài tháng trước, trong một lần đi chơi với bạn bè, tôi có tình cờ bắt gặp một “thư viện cộng đồng” trong một khu mua sắm tại Nhật Bản. Đó là nơi những người dân trong vùng đã tự nguyện đem những cuốn sách của mình góp lại và tạo nên một phòng đọc sách tự do. Ở đó tất cả mọi người đều có thể đến để góp sách, đọc sách và mượn sách. Tôi cũng không để ý thấy có ai làm nhiệm vụ quản lý cả. Khi nghe thầy giáo người Nhật của tôi giới thiệu như vậy, tôi đã buột miệng nói rằng, “đây chính là chủ nghĩa xã hội”, và thầy tôi cũng tán thành mà nói rằng “đúng là nó rất có tính xã hội”. Nó cũng làm cho tôi nhớ đến phòng đọc mở do những đồng chí tôi quen thời sinh viên xây dựng và vận hành tại địa chỉ 39 Lý Thường Kiệt (Hà Nội), dành cho những người có hứng thú với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và chính trị nói chung.

Chuyển sang một câu chuyện khác, gần đây tôi cũng lại tình cờ xem một chương trình truyền hình trên VTV về một ngôi làng nào đó ở Việt Nam mà người dân và nhất là học sinh lập nên đội tự nguyện làm vệ sinh môi trường làng, với một lý do rất đơn giản: “làng chúng tôi thì chúng tôi quét”. Không ai trả công cho họ, và cũng không ai bắt ép hay quản lý họ cả. Nó cũng giống như nhóm tình nguyện viên thu nhặt rác quanh Hồ Gươm mà một thầy giáo người Nhật khác của tôi là thành viên thường xuyên. Họ làm việc đó đều đặn hàng tuần cho đến nay chắc ít nhất cũng đã 5 năm, thi thoảng còn rủ nhau cùng đi du lịch, và thành viên thì có từ trẻ con bé tí cho đến các cựu thanh niên xung phong đầu đã bạc tóc.

Trở lại đề tài chính, nếu nhìn theo tiêu chí “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, và giới hạn phạm vi chỉ trong lĩnh vực đọc sách ở câu chuyện đầu và vệ sinh môi trường ở câu chuyện sau, thì cả hai ví dụ đều có thể được xem là biểu hiện của chủ nghĩa xã hội. Trong ví dụ đầu, tất cả mọi người đều được tự do lựa chọn có góp sách hay không, góp bao nhiêu, góp sách gì (làm theo năng lực). Đồng thời tất cả mọi người đều có thể tự do đến đọc và mượn sách (hưởng theo nhu cầu). Trong ví dụ sau, ít ra ở trường hợp nhóm nhặt rác Hồ Gươm, mọi người cũng đều được tự do lựa chọn có tham gia không, tham gia đều đặn ở mức nào, và làm việc đến mức nào (làm theo năng lực). Trong khi đó, tất cả mọi người đều có thể được hưởng một môi trường sạch đẹp chung như nhau (hưởng theo nhu cầu).

Như vậy, khẩu hiệu quen thuộc của chủ nghĩa xã hội mà nhiều người chế giễu là phi hiện thực và “đã bị vứt vào sọt rác từ lâu”, trong thực tế ở một hình thức này hay hình thức khác, và ở một phạm vi hạn hẹp hơn, vẫn đang diễn ra hàng ngày. Tất nhiên, điều đó không minh chứng cho việc một cộng đồng xã hội chủ nghĩa lý tưởng như nhiều người vẫn nghĩ tới có thể được xây dựng thành công ở thời điểm hiện tại. Nhưng ít nhất nó cho thấy chủ nghĩa xã hội, ở một dạng nhất định nào đó, không phải là điều bất khả thi về nguyên lý. Vậy điều gì đã dẫn đến thành công của những mô hình “chủ nghĩa xã hội” như trên?

Lý do trước hết rõ ràng nằm ở mức độ quan trọng của thành quả làm ra. Dù cho thư viện cộng đồng có biến mất hay đường làng với Hồ Gươm có không được quét dọn, thì mọi người cũng sẽ chỉ thấy bất tiện hay khó chịu, chứ cuộc sống về cơ bản không bị ảnh hưởng lớn. Ngược lại, nếu nền kinh tế của một xã hội ngưng sản xuất hay sản xuất không đủ đáp ứng những nhu cầu ăn mặc ở cơ bản của các thành viên thì sẽ là cả một thảm họa cho toàn xã hội đó. Bởi vậy, nếu suy nghĩ một cách bình thường chúng ta sẽ thấy việc để cho mọi người trong xã hội tự do quyết định có lao động hay không và lao động bao nhiêu, trong khi vẫn được nhận lại theo nhu cầu là một điều nguy hiểm và khó có thể duy trì được lâu dài.

Lý do tiếp theo nằm ở giá trị lao động mà mỗi người cảm thấy mình đang bỏ ra. Những cuốn sách được góp vào thư viện cộng đồng kia hầu hết là sách cũ. Thêm vào đó giá trị của một cuốn sách nằm chủ yếu ở thông tin chứa trong nó, chứ không phải nằm ở bản thân việc sở hữu cuốn sách. Và do đó đối với những người góp sách, việc cho đi cuốn sách không phải là một tổn thất đáng kể. Đối với nhóm nhặt rác, tôi không dám nói rằng sức lao động họ bỏ ra là nhỏ bé, nhưng họ chỉ làm một tuần một lần, trong một khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ. Nếu đem điều đó so với lượng lao động mỗi người trong xã hội hiện nay phải bỏ ra để có cơm ăn áo mặc hàng ngày thì rõ ràng có một khoảng cách rất lớn. (Chú ý rằng “lượng lao động” ở đây mang tính tương đối: một nhà tỷ phú có thể dễ dàng bỏ ra hàng trăm triệu đồng để làm từ thiện, nhưng một người nông dân bình thường thì một vài triệu đã là to.)

Hai điều trên dẫn chúng ta đến một tiền đề đã được Karl Marx đưa ra làm điều kiện dẫn đến chủ nghĩa xã hội: ấy là khi lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ cao, lượng của cải sản xuất trên lượng lao động bỏ ra trở nên rất lớn, khiến cho con người có thể vô cùng dễ dàng đáp ứng được nhu cầu hàng ngày của bản thân, và lao động trở thành một nhu cầu chứ không phải một gánh nặng bắt buộc nữa. Tuy rằng tại hầu như tất cả các cộng đồng người hiện nay điều này vẫn chưa thể đạt được, nhưng nếu nhìn vào lịch sử, có thể thấy rằng năng suất lao động của con người nhìn chung là tăng liên tục và gần đây có xu hướng tăng nhanh hơn. Chúng ta ngày càng làm việc ít giờ hơn, trong khi đó lại hưởng một mặt bằng mức sống ngày càng cao hơn. Cá nhân tôi tin rằng việc đạt tới ngưỡng năng suất cần thiết cho việc hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội ở quy mô quốc gia là điều không sớm thì muộn.

Chúng ta đứng ở thời điểm hiện tại, trong môi trường hiện tại, quen với năng suất lao động hiện tại của con người, thì có thể thấy rằng việc “làm cho thằng khác ăn” là một cái gì đó rất ngớ ngẩn và phi lý. Nhưng chúng ta cũng đồng thời đang làm điều tương tự, tuy rằng ở một quy mô nhỏ hơn nhiều, thông qua các hoạt động từ thiện và tình nguyện. Nếu như tưởng tượng rằng trong tương lai, khi mỗi người chỉ cần bỏ ra một lượng lao động tương tự như một buổi đi thu gom rác mỗi tuần hiện nay là đã có thể tạo ra đủ của cải cho bản thân trong vòng một tháng, thì có lẽ chủ nghĩa xã hội sẽ mang màu sắc hiện thực hơn nhiều. Điều đó hoàn toàn có thể trở thành hiện thực nếu như xu hướng tự động hóa vẫn tiếp diễn như ngày nay.

2. Chủ nghĩa xã hội và ích kỷ

Hiện tại, có một lý do rất thường được đưa ra để phủ nhận tính thực tế của chủ nghĩa xã hội, ấy là “bản năng ích kỷ của con người” sẽ khiến cho mọi người lợi dụng khẩu hiệu kia, chỉ hưởng mà không làm, dẫn đến hệ thống sụp đổ. Tôi xin hỏi ngược lại, vậy tại sao tất cả mọi người trong xã hội hiện nay đều không cùng đồng loạt cướp bóc chém giết lẫn nhau? Tại sao con người chúng ta lại tạo nên xã hội, luật pháp, nhà nước? Tại sao lại vẫn có những thư viện cộng đồng mở và những nhóm tình nguyện viên như tôi và chúng ta đều đã thấy?

Bản thân tôi là người hoàn toàn ủng hộ việc theo đuổi lợi ích cá nhân, nếu không muốn nói là tôi nghĩ mỗi người nên đặt lợi ích bản thân lên hàng đầu. Nhưng có hai điểm những người đưa ra lý luận trên dường như chưa tính đến. Thứ nhất, lợi ích của con người mang tính chủ quan, và không phải bao giờ cũng là vật chất hay hữu hình. Thứ hai, nếu một người nhận ra rằng việc tự nguyện đóng góp theo lý tưởng của chủ nghĩa xã hội đem lại lợi ích lớn nhất cho mình, thì khi đó chủ nghĩa xã hội và sự ích kỷ của cá nhân không còn mâu thuẫn nữa.

Đối với điểm thứ nhất, ngay từ xa xưa giá trị mà lao động của con người đem lại đã không chỉ thuần túy ở của cải vật chất làm ra. Việc cảm thấy rằng mình đang làm một việc gì đó có ý nghĩa, rằng mình đang làm thay đổi được thế giới, rằng mình đang trưởng thành và phát triển trong tư cách một con người,… tự bản thân nó đã mang lại một lợi ích về mặt tinh thần, mà đối với nhiều người là rất quan trọng. Đó là chưa kể, con người là một sinh vật có tính xã hội, và do đó việc cảm thấy rằng mình đang được xã hội chấp nhận, rằng mình đang là một phần của một cái gì đó to lớn hơn, cũng là một nguồn động lực lớn không thể bỏ qua.

Đối với những người xây dựng thư viện và thu nhặt rác nói trên, chỉ cần nhu cầu sống cơ bản không bị ảnh hưởng, thì tự bản thân những việc họ làm đã đủ mang lại lợi ích mà không cần bất cứ sự đền bù nào khác. Lợi ích ấy cụ thể ấy là gì thì tùy thuộc vào giá trị quan của mỗi người. Vì vậy, có thể nói rằng những người làm từ thiện hay tình nguyện đều làm vậy đơn giản vì họ cảm thấy những việc ấy đem lại cho họ lợi ích lớn hơn công sức bỏ ra. Nói cách khác, họ đều “ích kỷ” cả. Tương tự như vậy, trong một xã hội tương lai, khi mà lượng của cải vật chất làm ra trở nên thừa thãi, thời gian lao động cần thiết trở nên ngắn ngủi, và việc hưởng thụ đơn thuần trở nên nhàm chán, thì nhu cầu của con người cũng sẽ chuyển dần từ lợi ích vật chất sang những lợi ích tinh thần khác mà lao động mang lại. Khi đó, chính sự “ích kỷ” sẽ thúc đẩy con người làm việc dù không được trả công, chỉ để đi tìm sự thỏa mãn trong lao động và sản phẩm mình làm ra.

Về điểm thứ hai, tất cả các xã hội loài người từ trước đến nay đều tồn tại và hoạt động dựa trên tiền đề là mỗi cá nhân sẽ cảm thấy việc sống trong xã hội và tuân thủ các nguyên tắc thành văn lẫn bất thành văn của xã hội đem lại lợi ích to lớn cho bản thân hơn việc sống đơn độc một mình hay có các hành vi vụ lợi phản xã hội như giết người, trộm cướp, lừa đảo,… Dù đôi khi những quy định và nguyên tắc của xã hội khiến chúng ta cảm thấy mất tự do, và vẫn có một tỷ lệ những cá nhân phản xã hội, nhưng nhìn chung tuyệt đại đa số con người vẫn muốn hy sinh một phần tự do cá nhân để duy trì một xã hội hợp tác và ổn định ở mức độ nhất định hơn là sống trong một sự hỗn loạn mạnh ai người nấy tự lo lấy thân.

Điều tương tự chắc chắn cũng sẽ diễn ra nếu như chủ nghĩa xã hội minh chứng được lợi ích to lớn mà nó đem lại đối với đại đa số các cá nhân trong xã hội so với những mô hình đang có. Lợi ích to lớn đó sẽ không đến từ lượng của cải vật chất được làm ra, mà chủ yếu đến từ lợi ích về mặt tinh thần, khi con người cảm thấy được kết nối với lao động, thấy được niềm vui trong lao động và sáng tạo, thay vì bị buộc phải lao động chỉ để sinh tồn. Khi đó, mọi người sẽ vì cái “ích kỷ” của bản thân mà cùng hợp tác để xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội như chúng ta đang bảo vệ xã hội hiện nay vậy.

3. Chủ nghĩa xã hội và tôi

Đến đây, tôi lại tự hỏi rằng “thế rốt cuộc chủ nghĩa xã hội nó là cái gì vậy?”. Nói một cách thẳng thắn, cá nhân tôi vẫn chưa có một mô hình kinh tế và xã hội cụ thể của chủ nghĩa xã hội. Những gì tôi đọc về chủ nghĩa xã hội và Karl Marx vẫn còn rất ít, phần lớn vì tôi không đọc nổi những triết lý quá trừu tượng và khó hiểu mà không phải do mình viết ra. Tôi cũng không quan tâm đến chuyện chủ nghĩa xã hội nó phải là như thế nào mới “đúng kiểu”, phải là như thế nào mới là “Mác Lê”. Đối với tôi, chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi hướng đến, tương tự như việc những người tu theo đạo Phật hướng tới một sự “giải thoát” mà bản thân họ cũng chẳng ai biết được cụ thể nó như thế nào cho đến khi họ đạt được. Những tư tưởng và lý thuyết về chủ nghĩa xã hội của những người đi trước, trong đó có Karl Marx, chỉ đóng vai trò là nguồn cảm hứng và nguồn ý tưởng tham khảo mà thôi.

Trong cái lý tưởng còn mù mờ mà tôi hướng đến ấy, có một số điểm mà tôi đã xác định khá rõ ràng. Chủ nghĩa xã hội trong tôi, trước hết, là một môi trường mà trong đó từng người lao động đều làm chủ, và cảm thấy được làm chủ, đối với lao động của bản thân. Điều đó rất có thể sẽ được thực hiện thông qua một mô hình hợp tác xã, trong đó sở hữu đối với mọi tư liệu sản xuất là sở hữu chung của mọi thành viên trong hợp tác xã, và các thành viên hợp tác với nhau dựa trên các mối quan hệ dân chủ, bình đẳng và tự nguyện. Điều này là hoàn toàn có thể thực hiện được ngay tại thời điểm hiện tại, với minh chứng là các hợp tác xã sản xuất, nhà ở và tiêu dùng đang phát triển và thành công trên thế giới, ở Việt Nam và nhất là ở cả những nước kinh tế phát triển cao như Mỹ hay Nhật Bản.

Bên cạnh việc làm chủ theo nghĩa đen đối với tư liệu sản xuất, còn là cảm giác được làm chủ về mặt tinh thần đối với lao động và sản phẩm của bản thân. Sự “làm chủ” ở đây còn có thể được hiểu là sự “có trách nhiệm”, cũng đồng nghĩa với một cảm giác “tự do”, hay còn có thể nói là “được là chính mình”. Người lao động thực sự cảm thấy mình đã tự do lựa chọn công việc mình đang làm, cảm thấy niềm vui và động lực tự nhiên xuất phát từ bản thân nội dung công việc, thay vì cảm thấy bị bắt buộc phải lao động để kiếm sống và tìm kiếm động lực từ lợi ích vật chất mà lao động mang lại. Chỉ khi đó thì con người mới thực sự dành mọi thứ mình có cho lao động, và tiềm năng lẫn sức sáng tạo của họ mới được sử dụng ở mức cao nhất.

Tất nhiên, điều này không phải là không thể đạt được ở mức độ nhất định trong một môi trường làm việc phi xã hội chủ nghĩa, và thực tế là ngay đến giới chủ tư bản ở các nước Âu Mỹ gần đây cũng phải công nhận và tìm cách khích lệ “tính làm chủ” (ownership) trong những người làm thuê cho mình. Nhưng thực tế là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dựa trên mối quan hệ chủ tư bản – người làm thuê, tự nó về nguyên lý đã không khuyến khích và nhiều khi là làm thui chột đi tinh thần làm chủ của những người lao động. Đơn giản vì vai trò của họ trong phần lớn trường hợp thường không có hoặc có rất ít yếu tố “làm chủ”, cả về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, ra quyết định sản xuất lẫn phân chia thành quả lao động.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi, thêm vào đó, còn là một môi trường mà từng người sẽ có được tự do, và thậm chí là nhận được sự hỗ trợ, để thử nghiệm và sáng tạo trong phạm vi vẫn đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng. Những thử nghiệm và sáng tạo ấy có thể liên quan trực tiếp đến công việc sản xuất của mình, mà cũng có thể hoàn toàn là mang tính cá nhân. Đó có thể đơn giản chỉ là thử sức trong một công việc mới, thử nghiệm một sản phẩm hay phương pháp mới, mà cũng có thể những thí nghiệm khoa học hay sáng tạo nghệ thuật,… Sự “tự do” tôi nói đến ở đây không chỉ là theo nghĩa không bị ai ngăn cấm, mà còn theo nghĩa là có được cơ hội và công cụ để thực hiện, thay vì để cho tiềm năng bị chôn vùi bởi sự thiếu thốn về vật chất hoặc thời gian.

Tuy nhiên trên hết, có lẽ cái tôi hướng đến nhất trong suy nghĩ của mình về chủ nghĩa xã hội, ấy là một môi trường mà trong đó con người được cảm thấy “hoàn toàn”, được “là chính mình” kể cả trong lao động sản xuất lẫn khi tái sản xuất sức lao động, mà có lẽ theo lời Karl Marx thì đó là sự “giải phóng lực lượng sản xuất”. Cá nhân tôi hiểu từ “giải phóng” đó theo một nghĩa trừu tượng và thuộc về mặt tinh thần nhiều hơn là về mặt vật chất thực tế. Tất cả những lý thuyết khác chỉ là con đường để dẫn đến sự “giải phóng” ấy. Và vì một lý do nào đó, tôi cảm thấy rằng những lý thuyết của Marx về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản dường như là con đường đúng đắn nhất. Tôi sẽ, hay ít ra là có mơ ước sẽ sử dụng những lý thuyết ấy, và cả những lý thuyết khác nếu cần, để tìm cách xây dựng nên một “chủ nghĩa xã hội” của riêng mình.

Cái tôi xây dựng nên ấy có được gọi là chủ nghĩa xã hội hay không, là điều tôi không quan tâm lắm.

Phụ huynh Sudbury: Giao cho con có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Trong phần trước, tôi đã viết rằng điều mà “mô hình giáo dục Sudbury” coi trọng nhất chính là việc nhìn nhận trẻ em như những con người hoàn toàn độc lập với cha mẹ. Điều đó cũng có nghĩa là “tin tưởng 100% vào trẻ em, giao toàn bộ quyền lựa chọn cho trẻ em”.

Chẳng hạn như ở trường Tokyo Sudbury School, dù cho có là một đứa bé còn chưa đi học tiểu học, thì ý chí của riêng em đó vẫn được tôn trọng trên hết. Việc nhận học sinh không phải là phía trường chấp nhận việc “phụ huynh đưa con vào trường”, mà là chấp nhận việc “học sinh lựa chọn vào trường Sudbury”.

Thêm vào đó, cả sau khi đã vào trường, do trong mô hình Sudbury không có giờ học, nên các em học sinh chỉ làm những việc mà mình thích. Các em không hề nhận được sự chỉ dẫn “làm cái này đi” hay “nên làm cái này hơn” từ bất cứ ai cả. Việc học sinh làm gì trong khoảng thời gian ở trường là hoàn toàn dựa trên ý chí tự do của các em.

Và một vấn đề luôn luôn nảy sinh ở đây là “giao toàn quyền quyết định cho con liệu có ổn không?”.

Quả thực đã là trẻ con thì thường cũng có chỗ chưa được chín chắn. Trẻ con kinh nghiệm và tri thức đều ít, và có lẽ cũng không giỏi trong việc nhìn nhận một cách khách quan và quyết định một cách tỉnh táo. Nhìn những đứa trẻ “thiếu tin cậy” ấy, thì chuyện các bậc cha mẹ lo lắng rằng  “giao hết cho con có ổn không?” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, dù cho có là như vậy đi nữa thì tôi vẫn muốn tin vào con trẻ. Tôi cho rằng trẻ con có đầy đủ năng lực đánh giá và tự lựa chọn con đường đi cho riêng mình ngang bằng với người lớn.

Vì sao tôi lại có thể nghĩ như vậy? Đó là vì tôi nghĩ rằng chính việc chúng ta “đối xử như trẻ con” lại đang “giam cầm trẻ con trong cái vỏ bọc trẻ con”.

Tôi cho rằng trẻ con vốn ngay từ khi còn bé đã có năng lực phán đoán sự việc và lựa chọn cuộc đời mình. Cái đang cướp đi năng lực ấy, cái đang kìm hãm trẻ con trong hình ảnh “thiếu tin cậy” ấy chính là cách mà người lớn xung quanh đối xử với chúng “như trẻ con”.

Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được điều đó nếu nhìn vào những cô nhi ở Nhật Bản sau chiến tranh, hay những em bé ở các nước đang phát triển. Khi bị cuộc sống thúc bách, trẻ con có thể phát huy được năng lực vô cùng lớn, để sinh tồn một cách kiên cường với một sức sống còn vượt xa cả người lớn.

Lại nói, nếu nhìn vào những vận động viên đã đạt thành tích từ tuổi mười mấy như tuyển thủ golf Ishikawa Ryo, tuyển thủ trượt băng Asada Mao, hay tuyển thủ tennis Nishikori Kei, thì có thể rằng họ hoàn toàn không cho thấy một ấn tượng trẻ con nào. Vì sao mà phát ngôn của họ lại có thể chững chạc như người lớn đến vậy? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ ở trong một thế giới cạnh tranh nghiêm túc và do đó chẳng bao giờ được (bị) những người lớn xung quanh “đối xử như trẻ con” cả.

Hãy thử nghĩ về Nhật Bản ngày xưa mà xem. Trẻ em vừa tốt nghiệp tiểu học là đã lập tức ra xã hội làm việc. Ngay từ cái tuổi đầu mười những đứa trẻ ấy đã hoàn toàn đủ tư cách được coi là những thành viên có ích của xã hội.

Thêm vào đó, lễ “nguyên phục” (lễ trưởng thành) ngày xưa thường được tiến hành vào “khoảng từ 11 đến 17 tuổi”. Tuổi kết hôn đối với nam là từ 17 đến 20 tuổi, nữ là từ 13 đến 15 tuổi. Thế tức là trong xã hội ngày xưa chỉ cần trên 10 tuổi là được đối xử như người lớn rồi.

Nhưng đến ngày nay thì sao? Tuổi tương ứng với lễ nguyên phục là 20 tuổi. Cho đến khi ra khỏi trường đại học và bắt đầu đi làm, thì ngay đến cả một thanh niên râu ria xồm xoàm cũng vẫn bị xã hội “đối xử như trẻ con”.

Vì vậy mà tôi mới nghĩ rằng, cái đang cướp đi năng lực tiềm tàng của trẻ em chẳng phải chính là cha mẹ và trường học hay sao? Chúng ta đang dùng những lý lẽ như “vì các con vẫn còn là trẻ con”, “trẻ con thì im lặng mà nghe lời đi”, “cái đấy đợi đến khi nào con lớn rồi hẵng nghĩ tới” để mà cướp đoạt đi từ các con “năng lực tự mình suy nghĩ và lựa chọn”. Ấy thế nhưng mà trong lúc đó trẻ con vẫn bị người lớn nói những câu như “giới trẻ bây giờ chẳng biết tự lập là gì”, “toàn chỉ biết đợi lệnh chứ chẳng chịu tự suy nghĩ gì cả”. Đối với những đứa trẻ, thì quả đó là một điều bất công.

Ở trường Tokyo Sudbury School, học sinh không bao giờ bị những người xung quanh bắt ép phải học hành cả. Trường cũng chẳng có giờ học thể dục hay âm nhạc gì hết. Các em học sinh được có “tự do” làm những điều mình thích.

Thế nhưng, cái “tự do” ấy rất khác với cái “tự do” mà các em học sinh ở những trường học bình thường có được trong giờ nghỉ giải lao. Cái “tự do” ấy là cái “tự do” có kèm theo “trách nhiệm”, cũng tức là thứ “tự do” của người lớn.

Trong trường Sudbury không hề có giờ học toán hay quốc ngữ. Do đó, những học sinh không học thì dù có lớn đến đâu cũng không biết tính toán hay đọc viết.

Nếu các em cảm thấy “không biết tính toán thì không được”, thì các em có thể bắt đầu học toán. Nếu các em cảm thấy “muốn đọc sách”, thì các em có thể bắt đầu học đọc học viết. Đó là cách suy nghĩ theo phong cách Sudbury. Nó có nghĩa là các em phải tự suy nghĩ xem việc học có thực sự cần thiết cho mình hay không.

Nếu chỉ nhìn qua thì việc “làm gì cũng được” có vẻ như là đang nuông chiều các em, nhưng thực tế nhìn từ góc độ mỗi em đều phải tự chịu hoàn toàn trách nhiệm về tương lai của bản thân, thì có thể nói rằng đó là một phương pháp giáo dục hết sức “nghiêm khắc”.

Và cá nhân tôi muốn tin tưởng vào năng lực mà con tôi sẽ có được trong một môi trường như vậy. Đó chính là “năng lực phân biệt” được đâu là cái cần thiết cho mình và đâu là không, là “năng lực chịu trách nhiệm” đối với những lựa chọn dựa trên sự đánh giá của bản thân.

Trong xã hội ngày càng biến chuyển mạnh mẽ sắp tới, tôi tin rằng chính cái “năng lực tự mình đánh giá và quyết định mọi việc” ấy mới là điều quan trọng nhất.

Việc trẻ em tự lựa chọn con đường đời cho riêng mình dựa trên sự đánh giá của bản thân sẽ dẫn tới một tương lai như thế nào cho các em, ấy là điều chẳng ai có thể biết được.

Thế nhưng, một điều có thể chắc chắn nói được, đó là dù tương lai đang chờ đợi các em có là như thế nào chăng nữa, thì đó cũng là thứ mà chính bản thân các em đã lựa chọn. Và những đứa trẻ của chúng ta chắc chắn sẽ giang rộng vai đón nhận trách nhiệm đối với kết quả của sự lựa chọn ấy.

Từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, tôi đã tự mình đưa ra một quyết tâm. Ấy là việc ngừng suy nghĩ xem “cái gì mới là hạnh phúc cho con”. Và kèm theo đó là việc giao toàn bộ cuộc đời của con cho bản thân con. Làm như vậy, chắc chắn con sẽ có thể xây dựng nên được một “năng lực tự mình đánh giá, tự mình quyết định cuộc đời” và trưởng thành đến mức khiến cho bản thân tôi cũng không nhận ra được nữa.

Có dũng khí để mà chấp nhận cho con có một cuộc sống tự lập. Tôi nghĩ đó chính là “mô hình giáo dục Sudbury”.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【子どもにまかせて大丈夫?】

「サドベリー教育」が最も大切にしていることは、子どもを親とは独立した一個の人間として認めることであるということを前回書きました。それはつまり「子どもを100%信頼し、すべての選択を子どもの判断に委ねる」ということです。

たとえば東京サドベリースクールに入学するときは、たとえ小学校に上がる前の子でも、その子の意志がなにより尊重されます。親は子を「サドベリースクールに入れる」のではなく、「子がサドベリースクールを選んで入る」のを承認する形になるのです。 

また、スクールに通うようになってからも、サドベリーには授業がないので、子どもたちは自分の好きなことだけをします。誰からも「こうしなさい」とか「こうした方がいいよ」と指図されることはありません。学校で何をして過ごすかは、すべて子どもたちの自由意志に委ねられます。

そして、ここで常に問題になるのが、「子どもにすべての選択を任せて大丈夫か」ということです。

確かに子どもには未熟なところがあります。経験や知識も少ないし、客観的な視野に立って物事を冷静に判断することは苦手かもしれません。そんな“頼りない”子どもに、「すべての選択を任せて大丈夫?」と心配になる親の気持ちはよく分かります。

でも、それでも、私はあえて子どもの力を信じたいと思います。彼らには大人と同等の判断力があり、自分の人生を自分で選び取る能力があると思います。

なぜそう思えるのか。それは、大人が「子ども扱いすること」が、かえって「子どもを子どもの中に閉じ込めている」のではないかと考えるからです。

子どもは本来、小さなうちから物事を判断し自分の人生を選び取ってく力を有していると思います。その力を奪い、子どもをいつまでも“頼りない”存在にしているのは、周囲にいる大人たちの「子ども扱い」なのではないでしょうか。

たとえば、戦後の日本の孤児たちや、途上国の子どもたちを見ていると分かります。必要に迫られると、子どもはとてつもない能力を発揮し、大人顔負けの生命力で、逞しく生き抜いていくものです。

また、ゴルフの石川遼やスケートの浅田真央、テニスの錦織圭など、10代で活躍した選手たちを見ていると、まったく子供っぽい印象がありません。なぜ彼らの発言は大人びていて、立派なのでしょう。それはたぶん周囲にいる大人が勝負の世界に生きる彼らを「子ども扱い」しないからだと思います。

そして、もうひとつ「子どもを子どもの中に閉じ込めている」ものが現代にはあります。それは学校教育です。学校が子どもを必要以上に「子ども扱い」するために、卒業して社会に出るまで、子どもは大人になることを自らやめてしまうのです。

昔の日本を考えてみてください。子どもは小学校を出たら、すぐに社会に出て働いていました。10代で彼らは十分に実社会で役立つ即戦力になっていたのです。

また、かつての「元服」の年齢は「11歳から17歳の間」だったそうです。結婚する年齢も、平安時代は男性で17歳~20歳ぐらい、女性で13歳~15歳ぐらい。10歳を超えれば、昔の社会ではすっかり大人扱いされていたわけです。

それが今ではどうでしょう。元服にあたる成人式は20歳。大学を出て会社に就職するまでは、ヒゲの生えた立派な青年でも社会は「子ども扱い」をします。

私は思います。子どもの潜在能力を奪っているのは、むしろ親や学校なのではないかと。「あなたはまだ子どもだから」「子どもは黙って聞いていなさい」「それは大人になってから考えることよ」などと言い、子どもから「自ら考え、選択する力」を奪っているのです。それでいて、「今の子は自立していない」「指示待ちばかりで自分で考える力がない」などと言われるのですから、子どもにとってはいい迷惑です。

東京サドベリースクールでは、周囲から強制的に勉強させられることはありません。体育や音楽の授業もありません。子どもには好きなことをやっていい「自由」が与えられます。

でも、この「自由」は一般の学校にある休み時間の「自由」とは違います。それは自らに「責任」が伴う大人としての「自由」なのです。

スクールには算数や国語の授業がありません。なので、勉強しない子はいくつになっても計算や読み書きができません。

「計算できないのはいやだ」と思えば算数を勉強すればいい。「本が読みたい」と思えば読み書きを勉強すればいい。これがサドベリー流の考え方です。勉強が自分にとって必要かどうかは自分で考えなさいということです。

一見「何をやってもいい」と甘やかしているように見えますが、自分の将来に完全に責任を負わなければいけないという点において、非常に「厳しい」教育といえるのです。

このような環境で子どもに身につく力を、私は信じたいと思います。それは自分にとって必要なものとそうでないものを「見分ける力」であり、自分の判断において選んだことに対して「責任を持つ力」です。

変化の激しいこれからの社会においては、まさにこのような「自分で物事を判断し、決めていける力」がものを言うようになってくると思います。

自分の判断において子どもが自ら選択し、歩んでいった人生の先に、どのような未来が待っているのか、それは誰にも分かりません。

でも、ひとつ言えるのは、どんな未来が待っていようと、それは子ども自身が選び取ったものだということ。その結果に対して、子どもは胸を張って責任を取ることでしょう。

息子が東京サドベリースクールに通うようになって、私はひとつの決断をしました。それは「子どもにとって何が幸せか」を考えることをやめること。そして、息子の人生をそっくり彼に手渡してあげること。そうすることで、子どもは見違えるほど、「自分で判断」し、「自らの人生を決めていく力」を獲得していくはずです。

勇気をもって、子どもの独立した人生を認めること、それが「サドベリー教育」だと私は思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Chuyện học Tin của tôi

Tôi thích dùng máy tính từ nhỏ, nếu như việc “chơi game trên máy tính” cũng được xếp là “dùng máy tính”. Khi còn bé, nhà không có máy tính, tôi rất thích được đến nhà các bác để được chơi ké trên máy tính của anh chị họ. Đến khi StarCraft bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam một thời gian thì nhà tôi mới mua cái máy tính đầu tiên. Ban đầu đối với tôi máy tính chỉ là đồ chơi, nhưng đến khi vào cấp 2, tôi bắt đầu biết đến và học lập trình Pascal. Cho đến khi vào cấp 3, tôi đã thuộc vào loại “giỏi trên trung bình” trong lớp về khoản lập trình, dẫn đến việc tréo ngoe là dù đỗ và học lớp chuyên Toán nhưng tôi lại đi học đội tuyển Tin để thi học sinh giỏi (dù chẳng được giải gì), trong khi đó điểm Toán thì luôn bét lớp. Và đến thời điểm hiện tại, sau 5 năm làm kỹ sư hệ thống thông tin tại Nhật, có thể nói trong nhiều mặt máy tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi.

Nói đến học lập trình Pascal, tôi còn nhớ rằng cấp 2 có một thời gian tôi học thêm Pascal dưới trướng anh họ cùng với một hai người bạn cùng lớp. Họ là những người rất giỏi Toán ở trên lớp, và cái sự giỏi đó lan sang cả việc lập trình. Những lúc anh tôi giải thích một thuật toán hay kiến thức lập trình nào đó, trong khi tôi còn đang ù ù cạc cạc thì các bạn ấy đã có thể nhanh chóng nắm bắt được, và điều đó nhiều khi khiến cho tôi không khỏi nản chí. Có những thứ tôi không hiểu nhưng không hỏi, hay thậm chí nói dối rằng mình đã hiểu, phần vì sợ bị lộ là dốt, phần vì không muốn làm mất thời gian của anh và các bạn.

Điều đó tiếp diễn cho đến khi tôi bắt đầu được học một thầy một trò. Khi đó, cái sự dốt của tôi không còn chỗ nào để mà giấu, mà cũng chẳng còn ai để mà phải giấu nữa, và tôi cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Từ đó tôi rút ra rằng: trong một số trường hợp, việc trộn lẫn cùng lúc các học sinh có năng lực và tốc độ tiếp thu khác nhau sẽ vô tình tạo nên một hiệu ứng tâm lý đè bẹp và đẩy những học sinh yếu kém hơn “ra ngoài vòng”, mặc dù bản thân các em có thể không phải không có tiềm năng. Chúng ta hay nói với các em rằng “đừng sợ dốt/đừng giấu dốt”, nhưng chúng ta đâu có phải đứng vào vị trí các em để mà hứng chịu áp lực tinh thần từ bên ngoài lẫn bên trong, cả có thực lẫn tưởng tượng? Những lời nói như vậy chẳng khác nào một ông tướng ngồi trong lô cốt an toàn vừa đẩy binh lính ra trước làn đạn vừa hô hào “đừng sợ chết”. Cái chúng ta nên làm là để ý quan sát tâm lý cá nhân từng em, và tạo nên môi trường để mỗi em có thể cảm thấy yên tâm mà phát triển theo nhịp độ và thang bậc của riêng mình, dù có thể nó không vừa ý chúng ta, bởi một cái cây lớn chậm không có nghĩa là nó không thể lớn lên thật cao trong tương lai.

Một điều đáng nói nữa về việc học máy tính của tôi, đó là tôi chỉ bắt đầu thực sự làm chủ máy tính khi được có một cái máy của riêng mình. Trong suốt mấy năm đầu, một chiếc máy tính vừa là công cụ để mẹ tôi soạn bài giảng lên lớp, vừa là đồ chơi và công cụ học của tôi và thằng em trai. Máy hỏng đồng nghĩa với mẹ tôi không thể làm việc được. Điều này dẫn đến việc tôi không dám tò mò nghịch dại, mà thường phải đưa ra cửa hàng máy tính mỗi khi có vấn đề. Và kết quả là sau mấy năm dùng máy tính tôi vẫn hầu như mù tịt không biết gì ngoài trò chơi điện tử và Pascal. Tuy nhiên, một khi tôi đã có máy riêng, thì tình hình hoàn toàn khác hẳn. Tôi có thể tự mình ngồi mày mò thử nghiệm, tự format ổ rồi tự cài được Windows, dù không hề được bất cứ ai dạy cả. Sở dĩ tôi dám làm, là vì tôi biết rằng máy có hỏng thì cũng sẽ không gây ra vấn đề gì mà tôi không thể hay không dám nhận trách nhiệm, tức là tôi cảm thấy “an toàn” để có thể mày mò khám phá.

Từ những điều trên, có thể thấy rằng việc tạo môi trường an toàn cho việc khám phá, thử nghiệm cũng như thất bại là một tiền đề quan trọng của việc học, hay ít ra là tự học. Sự an toàn mà tôi nói đến ở đây không phải chỉ là an toàn thân thể, tuy rằng cái đó cũng rất quan trọng, mà là an toàn về mặt tinh thần. Đó là việc được che chở khỏi những áp lực, đe dọa, sợ hãi, và nói chung là bất cứ yếu tố tâm lý tiêu cực nào có thể ngăn cản việc học hỏi. Đáng tiếc rằng những yếu tố tâm lý tiêu cực này lại xuất hiện rất nhiều trong môi trường học đường ngày nay, mà đại diện tiêu biểu nhất là việc đánh giá học sinh bằng điểm số và hạnh kiểm, cũng như sự cai quản bằng quyền lực từ phía nhà trường và giáo viên.

Quay trở lại chuyện học Tin, có thể nói rằng hầu hết các thành tựu mà tôi đạt được trên con đường học và sử dụng Tin học đều gắn liền với việc tự mày mò. Trong đó phải kể đến việc những năm đầu cấp 3 tôi đã tự mình lập trình trò chơi bằng Pascal. Sự việc bắt đầu khi anh họ tôi giao cho tôi đề bài “viết trò dò mìn”. Khi đó tôi đã hăm hở viết một chương trình mô phỏng lại trò dò mìn của Windows bằng đồ họa dòng lệnh và các ký tự ASCII. Tuy rằng sản phẩm của tôi bị gạt đi vì cái anh tôi muốn tôi làm lại là một thuật toán để giải trò dò mìn, nhưng niềm hứng thú với việc tự mình viết nên một trò chơi, dù là viết lại ý tưởng có sẵn, thì đã được nhen nhóm. Từ đó, chỉ bằng một cuốn sách Pascal cơ bản có giải thích qua về thư viện đồ họa và một bài báo PC World, tôi đã viết lại ba trò chơi Line, Minesweeper (dò mìn) và Tetris (xếp hình) mà không cần sự chỉ dẫn thêm của bất cứ ai.

Đến tận bây giờ, sau khi đã trải qua hơn 15 năm lập trình, với đủ các chương trình phần mềm lớn nhỏ, từ những đề bài được giao trên lớp cho đến hệ thống cho hàng trăm người dùng của công ty, ba trò chơi bằng Pascal đó vẫn là một trong những thành tựu mà tôi tự hào nhất. Sau khi hoàn thành, tôi đã chơi đi chơi lại những trò chơi ấy đến cả tháng liền, mặc dù bản thân chúng không có gì mới mẻ hay đặc sắc hơn so với các phiên bản có sẵn trong máy hay băng điện tử. Thậm chí lúc đi phỏng vấn tuyển dụng ở hai công ty Nhật, trong đó một công ty tôi đang làm hiện nay, và một công ty khác chuyên về lập trình phần mềm, khi được hỏi về kinh nghiệm hay thành quả chuyên môn đã có trong quá khứ, thứ hiện ra trong đầu tôi trước tiên vẫn là ba trò chơi kia, và tôi đã không do dự gì mà trình bày một cách hết sức sôi nổi và tự hào về việc một đứa nhóc cấp 3 đã lập trình ra mấy trò ghẻ như thế nào (và kết quả là tôi đã đỗ cả hai nơi).

Tất nhiên, những trò chơi ấy rất đơn giản, và thậm chí có phần trẻ con. Nhưng điểm quan trọng ở đây là không hề có ai yêu cầu tôi viết ra chúng, và hoàn toàn cũng chẳng có ai đốc thúc và chỉ bảo tôi trong quá trình làm cả. Do vậy, có thể nói một cách hơi khoa trương rằng chúng là hiện thân của ý chí tự do và năng lực tự xoay sở của cá nhân tôi. Tôi biết chắc chắn rằng thành tựu ấy là do tự tay mình làm ra, và hoàn toàn có thể lặp lại lần nữa, chứ không phải là một thành tựu do vận may, càng chẳng phải là do một ai đó khác chỉ thị hay làm hộ. Nói cách khác, đó là một sự tự hào đối với chính mình, chứ không phải về những thứ mơ hồ xa xôi ngoài tầm tay như truyền thống dân tộc, chiến công cha anh, hay thành tựu của những bạn A bạn B nào ở tận Âu tận Mỹ.

Niềm tự hào đó có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên sự tự tin và đôi khi là táo bạo (táo tợn?) trong nhân cách của tôi ngày nay. Nó cũng là thứ mà tôi nghĩ rằng nhiều trẻ em hiện nay cần nhưng lại đang thiếu trong quá trình trưởng thành của mình. Phần đông các em đến trường vì bố mẹ bảo thế. Phần đông các em học hành vì muốn làm vui lòng bố mẹ thầy cô, hay nói toẹt ra là vì sợ điểm xấu. Những điều các em làm trên lớp đều đã được lên kế hoạch và quyết định từ trước bởi người lớn. Nội dung của những điều đó nhiều khi là rất vô nghĩa nhìn từ quan điểm của các em. Và những chuyện như bị trừ điểm chỉ vì làm bài “không đúng ý thầy/cô”, dù cho kết quả cuối cùng vẫn đúng hoặc không thể dễ dàng phán định đúng sai một cách khách quan, là chuyện vẫn còn phổ biến.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu có được bao nhiêu em sẽ cảm thấy thực sự tự hào về những thành tích học tập của bản thân, như tôi đã tự hào về ba trò chơi của mình? Có ai lại tự hào về một việc mình bị bắt buộc phải làm, hay bản thân không hiểu rõ ý nghĩa, hay bị buộc phải làm theo tiêu chuẩn của người khác cho đến từng chi tiết nhỏ nhặt mà không được một chút tự do nào? Nếu như trẻ em không có được một khoảng không tự do đủ lớn, cả về vật chất lẫn tinh thần, để có được những thành tựu do bản thân tự nhận trách nhiệm và tự mày mò thực hiện theo cách của mình, thì các em lấy đâu ra sự tự hào về chính mình để mà có tự tin trong cuộc sống? Nếu như các em không có chỗ nào khác để thể hiện nhân cách tự do của bản thân, thì việc các em đem “cái tôi” ấy thể hiện ra ở những hành vi mà chúng ta vẫn hay chụp mũ là “sự nổi loạn của tuổi dậy thì” cũng đâu có gì là khó hiểu?

Tất nhiên, nếu như nhân cách của một đứa trẻ đủ mạnh mẽ, thì dù trong hoàn cảnh bó buộc thiếu tự do hay phải chịu áp lực và đe dọa, em đó vẫn có thể mạnh dạn học hỏi, đồng thời tự nhận trách nhiệm về cuộc đời mình, qua đó có được tự do về tư tưởng, để từ đấy tìm thấy được những khoảnh khắc tự hào cho bản thân. Thế nhưng đó là chuyện của những đứa trẻ, không phải chuyện của người lớn chúng ta. Với tư cách là những người có nghĩa vụ nuôi nấng và giáo dục các em, thì chúng ta nên tự mình suy nghĩ tìm cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự trưởng thành của các em, hay là chỉ đơn thuần trông đợi nhân cách còn non yếu của các em có thể làm được một việc mà đến nhiều người lớn vẫn còn chưa làm được?

Phụ huynh Sudbury: Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bài viết lần này không phải do tôi viết ra, mà là một bài phát biểu của một người cha Nhật Bản mà tôi tình cờ đọc được. Con của ông được cho đi học tại trường Tokyo Sudbury School, một ngôi trường phỏng theo mô hình của trường Sudbury Valley School ở Mỹ. Mô hình Sudbury là mô hình trường học mà trong đó không có sự phân vai giữa “giáo viên” và “học sinh”, cũng như không tồn tại khái niệm “thời khóa biểu” hay “giảng dạy”. Thay vào đó, học sinh được toàn quyền tự do quyết định hoạt động của bản thân, cũng như việc điều hành cả ngôi trường theo nguyên tắc biểu quyết số đông. Việc tiếp xúc với một mô hình giáo dục mới mẻ như vậy đã khiến cho người cha này suy nghĩ nhiều hơn về các bậc cha mẹ và việc giáo dục con cái của họ. Tôi xin được dịch bài viết ra và giới thiệu ở đây để mọi người tham khảo.


Bản dịch tiếng Việt

“Cha mẹ là gì?”. Đó là câu hỏi chưa từng rời khỏi trí óc của tôi kể từ khi con trai bắt đầu đi học tại Tokyo Sudbury School. Nhờ được gặp gỡ với ngôi trường đặc biệt không có giáo viên mà cũng không có giờ học này, mà tôi mới có dịp đối mặt với vấn đề mang tính căn bản “giáo dục là gì”, và từ đó suy nghĩ đến câu hỏi “cha mẹ là gì”.

Đúng thế, tôi nghĩ rằng câu hỏi “giáo dục là gì” có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi “cha mẹ là gì”. Bởi vì cha mẹ là những người có nghĩa vụ cung cấp giáo dục cho con cái.

Thế nhưng thành thực phải nói rằng tôi không hiểu rõ về cái khái niệm “cha mẹ” đó. Lý do là vì khác với khi lựa chọn trường học hay công việc, việc làm cha của tôi bây giờ không phải là kết quả của một sự quyết tâm nào cả. Tôi không tự nói với mình rằng “ok, làm cha thôi” để rồi tự mình đưa ra quyết định làm cha. Nói một cách thành thực, thì cảm tưởng của tôi là kết hôn xong, vợ có thai, đẻ con ra, và đùng một cái, chẳng hiểu từ bao giờ tôi đã thành cha rồi.

Người ta hay nói “con cái là món quà trời ban tặng”. Cái từ “ban tặng” đó thật vi diệu, vì rõ ràng việc sinh đẻ là một sự kiện lớn lao mà chúng ta không thể dễ dàng đi tới thành công được chỉ bằng sức của bản thân mình. Và như ý nghĩa mà từ “ban tặng” đó ngầm thể hiện, việc sinh con ra và trở thành cha mẹ luôn có một cái gì đó mang tính thụ động.

Tuy nhiên, chỉ cần thử nghĩ qua thì chúng ta có thể thấy việc trở thành cha mẹ cũng đồng nghĩa với việc khoác lên mình một trách nhiệm trọng đại. Có thể nó không đến mức như việc mẫu thân Mạnh Tử ba lần đổi nhà, nhưng ảnh hưởng của cha mẹ lên con cái, trong đó bao gồm cả môi trường gia đình, là rất lớn đến mức không gì có thể đo đếm được. Đó là vì cha mẹ có vai trò trực tiếp và sâu sắc đối với thời thơ ấu, thời kỳ rất quan trọng hình thành nên nhân cách và thậm chí là có thể thay đổi cả cuộc đời của con, tức là thay đổi cuộc đời của cả một con người.

Từng lời nói và hành động của cha mẹ, từng cái giơ tay từng cái bước chân, đều có thể quyết định đến nhân cách của con cái. Một lời nói vu vơ cũng có thể tạo nên nỗi ám ảnh cả đời cho con. Thế nhưng thật xấu hổ khi phải nói rằng, tôi đã không hề chuẩn bị sẵn quyết tâm gánh vác trách nhiệm trọng đại đó trước khi trở thành cha. Đối với tôi, quả thực là bỗng một ngày chợt nhận ra thì đã thấy mình làm cha rồi.

Cơ mà chẳng phải hầu hết các bậc cha mẹ trên thế gian này đều đại khái giống như tôi sao? Hầu như tôi chưa từng nghe thấy có trường hợp nào quyết chí làm cha mẹ, dành ra hàng năm trời nghiên cứu “cha mẹ học”, chuẩn bị chu đáo tuyệt vời rồi mới làm cha mẹ thật cả.

Thực tế là hầu hết mọi người, ít nhất là đối với đứa con đầu tiên, đều trở thành cha mẹ khi chưa hề có tí kinh nghiệm nuôi con nào. Và như vậy thì chẳng phải có thể nói rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều là gà mờ trong việc nuôi con” hay sao? Nghĩ đến đây, tôi lại không khỏi phải thêm một lần nữa giật mình trước khoảng cách quá xa giữa “gánh nặng trách nhiệm” và “sự thiếu thốn quyết tâm” của các bậc cha mẹ, tất nhiên trong đó bao gồm cả chính tôi.

Mười mấy năm trời từ khi con trai tôi sinh ra cho đến nay, tôi đã làm cha trong tình trạng “lái xe không bằng cấp”. Tôi đã làm cha một cách “đại khái”, chẳng hề được ai dạy, cũng chẳng hề học hành một cách nghiêm túc, mà chỉ nhìn ngó bắt chước xung quanh.

Tôi đã từng có lần xẵng giọng “làm cái gì thế!” khi con làm đổ nước khỏi cốc, trong khi bản thân chỉ buông một lời xin lỗi gọn lỏn cho qua chuyện khi chính mình làm đổ. Tôi cũng đã từng có lần suýt giơ tay lên đánh con theo phản xạ khi con sờ vào đồ trưng bày trong cửa hàng, trong khi bản thân biết rằng con chỉ đưa tay sờ vì một sự tò mò thuần túy.

Mỗi khi mắng con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có lý do chính đáng để mà mắng mỏ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn thuần mắng mỏ dựa trên tâm trạng hay cảm xúc của bản thân. Mỗi khi dạy con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có tri thức chuyên môn để mà dạy dỗ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn giản lợi dụng sự thiếu hiểu biết của con cái và lên mặt dạy dỗ bằng kinh nghiệm sống lâu hơn đôi chút của bản thân.

Khi suy nghĩ về “giáo dục” sau khi con trai bắt đầu đến trường Sudbury, một câu hỏi khác lại hiện ra trong trí não của tôi: “Gượm đã, đừng nói tới giáo dục vội, mà nghĩ xem bản thân mình giờ đang thế nào?”. Liệu rằng tôi có đủ tư cách làm cha để mà khệnh khạng đưa ra những lời dạy dỗ con cái hay không? Khi nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy chiếc mặt nạ “bậc phụ mẫu” rơi ra, làm lộ nguyên hình hài một con người non kém của bản thân mình. Câu hỏi “cha mẹ là gì”, không gì khác, cũng chính là câu hỏi “bản thân mình là ai”.

Từ đó, nhận thức của tôi đã được thay đổi. Giờ đây tôi tin rằng giữa cha mẹ và con cái không phải là một mối “quan hệ trên dưới”, mà là “quan hệ giữa những con người ngang hàng”. Tất nhiên, trẻ con thiếu hiểu biết, nhưng người lớn cũng chẳng hiểu biết nhiều hơn bao nhiêu. Nếu đã cùng là những người còn thiếu hiểu biết, thì chẳng phải cha mẹ và con cái nên nói chuyện với nhau một cách bình đẳng hay sao? Đúng vậy, “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Đó chính là điều thay đổi lớn xuất hiện trong tôi sau khi con trai đến trường Sudbury.

Tuy nhiên, đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Thực ra vẫn còn một lý do nữa cho việc tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Lý do đó, tôi sẽ để cho lần phát biểu sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【すべての親は子育ての素人だ】

「親とは何か?」息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、 私の頭からはこの問いがずっと離れなくなりました。先生も授業もないという特殊な学校 との出会いによって、「教育とは何か」という根本的な問題に直面し、そこから「親とは何 か」について考えるようになったのです。

そう、「教育とは何か」という問いは、「親とは何か」という問いとつながっているように 思います。なぜなら親は子に教育を授ける義務を負うからです。

ところが困ったことに、その“親”というものが私にはよく分からない。学校や仕事を選択 したときと違って、自ら決意して親になったわけではないからです。「よし、親になるぞ」と 決心して親になったわけではない。結婚して、妻が妊娠し、出産を経て、いつのまにか、 なんとなく、気がついたら親になっていたというのが正直な感想です。

よく「子どもは神様からの授かり物」といいますね。「授かる」とはよくいったもので、出 産は自分たちの力だけではいかんともしがたい運命的なイベント。この“授かる”という言 葉に象徴されるように、子が生まれて親になるのには、どこか受動的なイメージがつき まといます。

とはいえ、考えてみれば、親になるということはたいへん重大な責任を背負うこと。 孟母三遷の教えではないけれど、家庭環境を含めて、親が子に与える影響は計り知れ ないほど大きいのです。子どもという一個の人間の、一生を左右してしまうかもしれない 人格形成の大事な時期に、親は深く関わることになります。

親の行動や言動の一つひとつ、一挙手一投足が、子の人格を左右する。何気なく 言った一言が、一生その子のトラウマになることだってあるかもしれません。ところが 困ったことに、そのような重大な責任を背負う覚悟をもって自分は親になったわけでは ない。なんとなく気がついたら、親になってしまっていたというのが実感です。

でも、世間の大方の親御さんも、だいたい私と同じではないでしょうか。「親になるぞ」 と決意して、何年間も「親学」を学び、完璧に準備をしてから親になったという話はあまり 聞きません。

そもそもほとんどの人が、少なくとも長男長女の場合は、育児未経験のままで親にな るわけで、そういう意味で「すべての親は子育ての素人だ」といえるのではないでしょう か。親が負う「責任の重大さ」と「自覚の足りなさ」、このギャップの大きさには(自戒の 念を込めて)あらためて驚かされます。

息子が生まれて十数年、ここまで私は“無免許運転”のまま親をやってきました。誰 から教わったわけでもなく、真剣に学んだわけでもなく、見よう見まねで“なんとなく” “テキトー”に、親をやってきたのです。

子どもがコップの水をこぼしたとき「何やってんだ!」と声を荒げたことがありました。 自分がこぼしたときには「ごめん」の一語で済ませるくせに。子どもが店の商品に触った ときには、思わず手をあげそうになったこともあります。子どもが純粋な好奇心から手を 伸ばしたことを知っていたのに。

子を叱るとき、親は必ずしも正統な理由があって叱るわけではありません。単なる気分、 感情で言葉を発するときもあります。子に何かを教えるとき、必ずしも専門的な知識が あって教えるわけではありません。子が知らないことをいいことに、ちょっとだけ長く生き た自分が偉そうに言っているだけのこともあります。

息子がサドベリーに通うようになって「教育」のことを考えたとき、待てよ、教育について 考える前に「自分はどうなんだ?」という問いが頭に浮かびました。親として偉そうなこと を言う資格が自分にあるのかと。そう考えたとき、親の仮面がはがれ落ち、未熟な自分 の姿がそこに見えてきたのです。「親とは何か」という問いかけは、まさに「自分とは何か」 という問いかけに他なりません。

それで私の意識は変わりました。親子は「上下の関係」ではなく、人間として「横並びの 関係」であるべきだと思うようになったのです。子はもちろん未熟ですが、親もまた未熟 です。未熟者同士、親と子は対等に語り合える関係であるべきではないのかと。そう、 「親と子は対等の関係であるべきだ」。これが、子どもが東京サドベリースクールに通う ようになって私に現れた、大きな変化のひとつです。

でも、これだけではありません。実はもうひとつ、「親子の関係が対等であるべき」と 考える理由があるのです。それについては次回、またこの場をお借りして話したいと 思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Bàn về “nhân cách”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trong những đánh giá về một con người, đôi khi chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của từ “nhân cách”. Chúng ta hay nói rằng nhân cách một con người là “lớn lao”, “cao cả”, “vĩ đại”, hay ngược lại là “thấp kém”, “nhỏ bé”, “xấu xa”. Chúng ta có thể cảm nhận lờ mờ được rằng dường như “nhân cách” là một thứ gì đó đại diện cho giá trị của một con người ở một khía cạnh nào đó. Vậy thực sự thì nhân cách là gì? Và nếu nhân cách là một thứ được dùng để đánh giá giá trị của chúng ta, thì chúng ta có thể làm gì để nâng cao giá trị đó? Bài viết dưới đây sẽ tập trung vào việc làm rõ khái niệm “nhân cách”, đồng thời nêu ra một số suy nghĩ mà cá nhân tôi cho rằng mọi người chúng ta nên có đối với khái niệm này.


1. Nhân cách là gì?

Nhân cách là tập hợp những nhận thức, hiểu biết, nguyên tắc, niềm tin của một con người về chính bản thân mình, và còn có thể được gọi là “tư cách làm người” hay “tính người” của người đó. Nhân cách là thứ trả lời cho những câu hỏi như “tôi là ai”, “tôi đến từ đâu”, “tôi là người thế nào”, “tôi mong muốn cái gì”, “tôi coi trọng cái gì”, “tôi tin vào cái gì”,… Tùy vào mức độ phát triển mà nội dung của nhân cách có thể rất phong phú:từ việc ý thức được mình là một “con người”, hay ít nhất là một “thực thể” tách biệt khỏi thế giới xung quanh, cho đến hiểu biết về những nhu cầu, sở thích, ham muốn, tính cách của bản thân, và cuối cùng là những nội dung trừu tượng như niềm tin, triết lý, đạo đức,… Ví dụ về từng khía cạnh riêng lẻ của nhân cách có thể là “tôi là người Việt Nam”, “tôi thích đồ ngọt”, “tôi rất giỏi ngoại ngữ”, “tôi muốn làm nghề dạy học”, “tôi coi trọng tự do tư tưởng”, “tôi tin rằng lợi ích cá nhân nên được đặt lên trên hết”,…

Nhân cách là nguồn gốc và căn cứ sâu xa nhất của tất cả những đánh giá và quyết định có ý thức của con người. Tất cả mọi đánh giá và quyết định có ý thức của chúng ta đều có thể được truy gốc về một hay nhiều mặt của nhân cách mỗi cá nhân. Những tiêu chuẩn và tiền đề “khách quan” mà người ta thường nói tới như đạo đức, truyền thống, tín ngưỡng, pháp luật, hay cả khoa học cũng đều chỉ là một trong những yếu tố được sử dụng trong quá trình đưa ra đánh giá hay quyết định. Trong quá trình đó, nhân cách mới là thứ có tiếng nói quyết định. Trong tâm trí của chúng ta, Trái Đất hình tròn không phải vì khoa học bảo thế, mà vì chúng ta lựa chọn việc tin vào điều đó, hoặc tin vào khoa học. Chúng ta không giết người không phải vì pháp luật cấm đoán, mà vì chúng ta không muốn phạm pháp, hoặc không muốn trở thành kẻ thù của xã hội. Một khi nhân cách đã đưa ra quyết định trái ngược thì bao nhiêu đạo đức khoa học hay pháp luật quy tắc cũng đều là đồ bỏ.

Cần chú ý rằng nhân cách khác với tính cách. Tính cách là một phần của nhân cách và bao gồm các khuynh hướng của cảm xúc, thái độ và hành động được thể hiện ra ngoài như xuề xòa, vui vẻ, hài hước, nóng nảy, khiêm tốn,… Trong cùng một con người có thể có rất nhiều tính cách đa dạng, đôi khi là trái ngược, cùng tồn tại. Việc tính cách nào được thể hiện ra bên ngoài sẽ tùy thuộc vào hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể. Một người có thể nhũn nhặn với cấp trên nhưng lại nóng nảy với cấp dưới, nhút nhát ở chỗ đông người nhưng sôi nổi khi bàn luận riêng. Những biểu hiện bên ngoài đó tuy có thể rất khác nhau nhưng đều xuất phát từ một nhân cách trung tâm ở bên trong, và sự khác biệt nảy sinh tùy vào hoàn cảnh là điều hoàn toàn bình thường và hợp lý. Có thể nói rằng, tính cách là những vai diễn, người đời là khán giả, và người diễn viên đằng sau những vai diễn đó, người quyết định sẽ đóng vai nào trong hoàn cảnh nào, chính là nhân cách.

Nhân cách cũng khác với tri thức hay hiểu biết thông thường. “Trái Đất (có thể) hình tròn” hay “Trái Đất (có thể) hình đĩa” đơn thuần chỉ là những giả thuyết hay ý tưởng, tương đương với một mệnh đề logic chưa được chứng minh, và bản thân chúng không mang thông tin gì cả. Khi chúng ta gắn cho những giả thuyết đó một giá trị chân lý đúng/sai dựa trên một số tiền đề nhất định thì chúng ta có thông tin, hay còn gọi là tri thức, tương đương với một khẳng định logic. Và cuối cùng, nhân cách của một người sẽ là thứ quyết định việc người đó tin hay không tin, tin ở mức độ nào, với điều kiện gì, gắn những giá trị và ý nghĩa gì, và sử dụng như thế nào đối với một thông tin hay tri thức nhất định. Nói cách khác, nhân cách là quan tòa tối cao, là bộ lọc cuối cùng đối với mọi tri thức mà chúng ta tiếp nhận, đồng thời cũng là một trong những mắt xích kết nối tri thức với những suy nghĩ, hành động và quyết định cụ thể của chúng ta.

2. Nhân cách tự thân và tiêm nhiễm

Đối với một con người sống trong một xã hội, nhân cách có thể được chia làm hai bộ phận: nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm. Nhân cách tự thân là nhân cách được hình thành một cách tự nhiên và tự do, không có sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài. Trái lại, nhân cách tiêm nhiễm là nhân cách có nguồn gốc từ bên ngoài, hoặc phải phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. Có thể nói rằng, nhân cách tự thân thể hiện cho con người thực của chúng ta, còn nhân cách tiêm nhiễm thường thể hiện cho một hình ảnh về chúng ta trong mắt người khác, hoặc hình ảnh một người khác bên trong chúng ta. Do đến từ bên ngoài hoặc phụ thuộc vào bên ngoài, nên nhân cách tiêm nhiễm thường mang lại cảm giác “xa xôi”, “bất biến”, “hiển nhiên”, “không thể chống lại”. Trong khi đó, nhân cách tự thân là thứ chúng ta cảm thấy hoàn toàn có thể và có quyền thêm bớt hay thay đổi theo ý muốn, tuy rằng có thay đổi và thay đổi được hay không lại là chuyện khác.

Nhân cách tiêm nhiễm thường thấy nhất là những chuẩn mực văn hóa và đạo đức của xã hội mà chúng ta đang sống. Chẳng hạn, trong xã hội Việt Nam từ trước đến nay người phụ nữ thường được (bị) giáo dục từ bé rằng cần phải hiền thục đảm đang, gánh vác việc nhà, hy sinh vì gia đình,… Rất nhiều người trong số đó khi lớn lên coi điều này là một chân lý hiển nhiên, hoặc ít nhất cảm thấy một áp lực vô hình hướng bản thân tới hình ảnh lý tưởng ấy. Một ví dụ khác thường thấy là những sự định hướng và kỳ vọng mang tính áp đặt của cha mẹ đối với con cái trong các vấn đề sự nghiệp, tình cảm, gia đình,… Ngược lại, nhân cách tự thân là những sở thích và mơ ước cá nhân, là những triết lý chúng ta tự khám phá ra, là những nguyên tắc cốt lõi không thể khoan nhượng, là sự tự hào đối với những thành tựu của bản thân,… Nhân cách tự thân là tất cả những điều gì khiến cho chúng ta cảm thấy mình đang được là chính mình.

Khái niệm nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm hoàn toàn chỉ mang tính tương đối và tượng trưng chứ không hề có một định nghĩa hay ranh giới chính xác. Và do đó một người đứng bên ngoài quan sát khó có thể kết luận rõ ràng rằng một hành vi hay một suy nghĩ nào đó của một cá nhân là biểu hiện của nhân cách tự thân hay nhân cách tiêm nhiễm. Điều đó phải do tự bản thân cá nhân đó quyết định lấy. Trong thực tế, một người hoàn toàn có thể đinh ninh rằng một điều gì đó là một phần nhân cách thực của bản thân, cho đến khi nhận ra rằng đó chỉ là một thứ bị tiêm nhiễm vào từ bên ngoài một cách vô thức. Nói cách khác, cùng một suy nghĩ, cùng một hành động, cùng một quyết định có thể là xuất phát từ nhân cách tự thân hoặc từ nhân cách tiêm nhiễm, tùy vào nội tâm của cá nhân chủ thể.

3. Sự xâm nhập nhân cách

Sự xâm nhập của nhân cách tiêm nhiễm có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau. Ban đầu, một người có thể bị buộc phải chấp nhận sống bằng một nhân cách nào đó do sự đe dọa về thể xác, lợi ích hoặc áp lực tinh thần. Khi đó, nhân cách tiêm nhiễm sẽ chỉ nắm được quyền điều khiển nếu sự đe dọa hay áp lực được duy trì. Ở mức độ này, có thể nói rằng nhân cách đến từ bên ngoài kia chưa hề được chấp nhận làm một phần nhân cách bên trong của cá nhân, mà chỉ được tuân thủ một cách máy móc. Khi đó nhân cách tự thân thường sẽ thể hiện sự kháng cự thông qua một cảm giác bị ép buộc, dẫn tới sự giận dữ, và có thể là sự chống đối công khai. Tất nhiên sự chống đối sẽ khó xảy ra nếu như nhân cách tự thân quá yếu ớt hay áp lực bên ngoài quá lớn. Bước đầu tiên của quá trình tiêm nhiễm này có thể dễ dàng thấy được khi trẻ em bị cha mẹ uốn nắn dạy dỗ một cách cưỡng ép, hay khi một thành viên xã hội bị kiểm soát và điều khiển bởi vũ lực của tầng lớp thống trị.

Khi nhân cách tiêm nhiễm đã xâm nhập sâu hơn, nó sẽ bám rễ bên trong tâm trí của cá nhân. Lúc này cá nhân đã chấp nhận, hay đúng hơn là bỏ cuộc, ở mức độ nào đó đối với sự xâm lấn từ bên ngoài. Nhân cách tiêm nhiễm sẽ có thể tự xuất hiện và giành quyền kiểm soát nội tâm mỗi khi cá nhân có suy nghĩ gì đó trái ngược với nó, mà không cần đến sự đe dọa hay áp lực có thực từ bên ngoài. Cá nhân bắt đầu mất dần ý thức về nguồn gốc ngoại lai của nhân cách tiêm nhiễm và chấp nhận nó như một phần khó có thể tách rời của nhân cách bản thân, dù muốn dù không. Sự khuất phục trước uy quyền, ví dụ như uy quyền của cha mẹ hay thần quyền, là một ví dụ điển hình của nhân cách tiêm nhiễm ở mức độ này. Có rất nhiều người dù đã có gia đình riêng và hoàn toàn tự lập về tài chính, nhưng vẫn không thể chống lại được lời cha mẹ, và sự khuất phục của hàng bao thế hệ người Châu Âu trước quyền uy của Giáo hội La Mã là một sự thật lịch sử khó ai có thể phủ nhận.

Nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể xâm nhập vào nội tâm một con người theo những con đường “ôn hòa” hơn. Một người có thể tự mình tạo nên nhân cách tiêm nhiễm bằng việc du nhập các tư tưởng bên ngoài một cách vô tội vạ mà không có sự chọn lọc kiểm tra bằng suy nghĩ của bản thân. Những hạn chế về môi trường, thông tin, hay đơn giản là sự may rủi cũng có thể khiến cho cá nhân tự mình chấp nhận một cách vô thức rằng một niềm tin hay cách suy nghĩ nào đó là điều hiển nhiên không thể thay đổi, chỉ bởi vì cá nhân không có cơ hội được tiếp xúc với những lựa chọn khác. Khi đó, những niềm tin hay cách suy nghĩ ấy có thể trở thành một phần vĩnh viễn của nhân cách nếu như bản thân cá nhân ngừng việc suy nghĩ, đặt câu hỏi, và tìm kiếm những khả năng mới. Chẳng hạn, một người sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ thường xuyên sử dụng vũ lực và áp đặt suy nghĩ lên con cái, rất có thể sẽ tin rằng đó là cách duy nhất để dạy dỗ những đứa con của chính mình, mặc dù có thể điều đó mâu thuẫn với tình yêu người đó dành cho con.

Sự xâm lấn và mở rộng của nhân cách tiêm nhiễm thường đi cùng với sự thu hẹp và phai nhạt của nhân cách tự thân. Cũng giống như kỹ năng hay tri thức, nhân cách chỉ có thể được duy trì và phát triển nếu như thường xuyên được sử dụng và bồi bổ. Việc thường xuyên sử dụng nhân cách tự thân sẽ giúp cho cá nhân dần hiểu rõ được bản thân, biết cách tin tưởng và sử dụng sở thích, tính cách và trực giác của bản thân, đồng thời chỉnh sửa, mở rộng nhân cách bản thân cho phù hợp với nhu cầu thực tế lẫn thiên hướng có sẵn. Ngược lại, nếu bị đè nén và phủ nhận, nhất là từ khi còn nhỏ, thì nhân cách tự thân sẽ không có cơ hội phát triển và do đó sẽ rất hoang sơ, rời rạc vô tổ chức, và quan trọng nhất là không được tin tưởng. Biểu hiện rõ ràng nhất của điều này là việc không biết mình thích gì, muốn gì, không có khả năng hay không dám tự suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm, mà luôn tìm kiếm sự chỉ dẫn từ một quyền lực nào đó như cha mẹ, giáo viên, cấp trên, thần quyền,… Đối với một người mà nhân cách tự thân đã bị xóa bỏ hoàn toàn, thì có lẽ đến cả việc tự chọn vị kem mình thích cũng là điều khó khăn.

Tất nhiên, không phải mọi tư tưởng có nguồn gốc ngoại lai đều trở thành nhân cách tiêm nhiễm. Khi tiếp xúc với một tư tưởng từ bên ngoài mà cá nhân cảm thấy hợp lý, tức là cảm thấy phù hợp với nhân cách tự thân của cá nhân tại thời điểm đó, cá nhân có thể ngay lập tức kết nối tư tưởng mới ấy vào thành một phần của nhân cách tự thân. Hay nói đúng hơn, khi đó đã diễn ra một quá trình sáng tạo: cá nhân lấy những tư tưởng nguyên liệu từ bên ngoài và sáng tạo lại thành một mảnh ghép mới của mô hình thế giới thu nhỏ bên trong trí não (tham khảo bài viết trước). Điều này cũng tương tự với việc các thầy cô giáo hay yêu cầu học sinh “biến kiến thức thành của mình” vậy. Điểm khác biệt của quá trình này so với sự du nhập vô tội vạ là do tư tưởng mới đã được diễn giải, kết nối và kiểm chứng bằng thế giới quan của chính mình, nên cá nhân có thể, và trong đa số trường hợp sẽ bảo vệ tư tưởng đó chỉ bằng năng lực và nhân cách tự thân (vd. “tôi thích nghĩ thế”), thay vì cảm thấy phải dựa dẫm vào những nguồn quyền lực và lý luận ở bên ngoài như “khoa học”, “thời trang”, “thuần phong mỹ tục”, “truyền thống đạo đức”, hay “cha mẹ bảo thế”.

4. Vai trò của nhân cách tự thân

Ở đây tôi không muốn nói rằng nhân cách tự thân là “tốt” và nhân cách tiêm nhiễm là “xấu”. Tuy nhiên, nhân cách tự thân có vai trò quan trọng đối với hạnh phúc của mỗi chúng ta, và việc để cho nhân cách tiêm nhiễm xâm lấn và chèn ép nhân cách tự thân có thể đem lại nhiều hậu quả không được mong muốn. Trước hết, vì “tôi hạnh phúc khi nào” cũng là một nội dung quan trọng của nhân cách, mà chỉ có nhân cách tự thân mới phản ánh đúng những quy luật cảm xúc tự nhiên của chính chúng ta, nên chỉ có nhân cách tự thân mới có thể chỉ ra cho chúng ta con đường để đi tới hạnh phúc thực sự và lâu bền cho bản thân. Mọi định nghĩa hạnh phúc mà nhân cách tiêm nhiễm mang lại, nếu không phải là sai lệch hoàn toàn, thì cùng lắm cũng chỉ có thể đem lại sự thỏa mãn một phần nào đó một số nhu cầu tâm lý nhất thời mà thôi.

Một điểm dễ thấy ở những người có nhân cách tự thân yếu ớt là họ thường sẽ ít cảm thấy có trách nhiệm với bản thân và thế giới xung quanh. Đó là vì trách nhiệm và tự do là hai mặt của cùng một đồng tiền. Nhân cách tiêm nhiễm thường là thứ chúng ta cảm thấy không có quyền hay không thể tự do lựa chọn. Mà đã không được tự do lựa chọn, thì chúng ta sẽ không thấy lựa chọn đó là “của mình”, hay nói cách khác chúng ta không cảm thấy có trách nhiệm với nó. Ngược lại, nhân cách tự thân là thứ chúng ta đã tự lựa chọn một cách có ý thức và có thể tự do thay đổi theo ý muốn. Chính điều này làm nên cảm giác trách nhiệm đối với lựa chọn của bản thân. Cảm giác trách nhiệm này là một yếu tố có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành công cũng như cảm giác thỏa mãn mang lại bởi các hoạt động của chúng ta trong thực tế cuộc sống.

Chú ý rằng, nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể tạo ra ở cá nhân một thứ có biểu hiện bề ngoài gần giống như tinh thần trách nhiệm, đó là sự sợ hãi. Điều này có thể thấy ở một số ví dụ như một đứa trẻ tỏ ra chăm chỉ học hành khi bị cha mẹ áp đặt định hướng vào một ngành nghề nào đó. Bên ngoài, đứa trẻ đó dường như đang thể hiện trách nhiệm đối với cuộc đời của chính mình, hoặc là đối với sự kỳ vọng của cha mẹ. Nhưng rất có thể bên trong nội tâm đứa trẻ đó, động lực thôi thúc hành vi học hành lại là nỗi sợ hãi đánh mất sự chấp nhận và tình cảm từ phía cha mẹ. Tương tự như vậy, một người phụ nữ cố gắng giữ vững hình ảnh hiền thục đảm đang rất có thể đơn giản là vì sợ hãi sự đánh giá từ xung quanh, chứ không phải vì một cảm giác trách nhiệm đối với vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội của bản thân.

Sự sợ hãi và cảm giác trách nhiệm có hai sự khác biệt chính. Thứ nhất, sự sợ hãi dẫn đến sự bị động, trong khi trách nhiệm tạo nên sự chủ động: một người có thể cố gắng đáp ứng tốt nhất mọi công việc được giao vì sợ hãi, nhưng chỉ có trách nhiệm thực sự mới khiến người đó tự mình suy nghĩ sáng tạo tìm cách cải thiện chất lượng công việc dù không được yêu cầu. Thứ hai, sự sợ hãi là động lực bên ngoài, trong khi trách nhiệm là động lực bên trong: khi tất cả các yếu tố bên ngoài gây nên sự sợ hãi đều biến mất, thì động lực còn sót lại chính là trách nhiệm thực sự. Chính vì sự khác biệt về bản chất này của động lực sản sinh bởi nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm, nên trong đại đa số trường hợp một người sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ không thể phát huy hết được năng lực tiềm tàng của bản thân, nhất là năng lực sáng tạo và tự chủ, so với khi người đó được sống bằng nhân cách thực của chính mình.

Một hệ quả tiêu cực khác của việc nhân cách tự thân yếu ớt là một cá nhân sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ để cho nội tâm của mình phụ thuộc nhiều vào tác động từ bên ngoài. Nói một cách đơn giản là người đó dễ mất phương hướng và bị dắt mũi bởi thế giới xung quanh. Một số ví dụ đơn giản cho điều này là việc chạy theo các xu hướng thời trang, tin theo tất cả các thông tin có gắn mác “khoa học”, hay dễ bị dụ dỗ bởi những lời đường mật kiểu “bán hàng đa cấp”. Trong các ví dụ này, một bộ phận nào đó của nhân cách cá nhân (vd. “thế nào là đẹp”, “thế nào là đáng tin”, “thế nào là thành công”) đã được tiêm nhiễm vào từ bên ngoài hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố bên ngoài về mặt nội dung, chứ không được dựa trên những suy nghĩ của bản thân, và do đó nằm ngoài tầm kiểm soát của cá nhân. Điều này dẫn tới việc suy nghĩ của cá nhân dễ bị thao túng, hay nhẹ hơn là dễ biến động hoặc hoang mang khi môi trường xung quanh liên tục cung cấp các thông tin thiếu thống nhất hay thậm chí trái ngược nhau.

Một ví dụ khác của điều được nói đến ở trên là việc danh tính (identity) của cá nhân, một bộ phận rất quan trọng của nhân cách, được gắn chặt hay thậm chí là định nghĩa hoàn toàn bởi những cái mác bên ngoài như tên tuổi, xuất thân, bằng cấp, tài sản, quốc tịch, dân tộc, hay thậm chí là tình trạng hôn nhân. Đối với những cá nhân đó, những cái mác này làm nên con người họ, chứ không đơn thuần chỉ là một số thuộc tính họ ngẫu nhiên mang theo mình nữa. Đối với họ, việc đánh mất một cái mác tương đương với việc đánh mất một phần sự tồn tại của bản thân, và việc một cái mác gặp phải sự chỉ trích hay bôi nhọ tương đương một đòn đánh trực diện vào nhân cách của chính họ. Điều này có nghĩa là nhân cách của họ rất dễ bị tổn thương, và nếu nhân cách đó không còn gì khác ngoài những cái mác, thì đó là một nhân cách nghèo nàn và thiếu thực chất. Một nhân cách như vậy sẽ không phải là một lá chắn tốt giúp giữ vững sự ổn định tinh thần của một con người.

Điều này mang lại nhiều bất lợi cho cá nhân, bởi tất cả những yếu tố bên ngoài, kể cả những thứ tưởng chừng như trường tồn như quốc gia hay dân tộc, đều có thể biến mất hay bị quên lãng bất cứ lúc nào. Nhân cách, ý chí và năng lực tự thân mới là những thứ thực sự chắc chắn sẽ đi theo một con người suốt từ khi sinh ra cho đến (gần) khi chết đi, đồng thời tạo nên ở con người đó sức hấp dẫn và lôi cuốn bền bỉ đối với những người xung quanh. Bất lợi này càng rõ ràng hơn khi cá nhân phải sinh sống và làm việc tại một môi trường hoàn toàn mới lạ như ở nước ngoài, nơi mà những cái mác vốn có bỗng dưng hoàn toàn mất giá trị. Có thể nói rằng một trong những phép thử cho nhân cách một con người là xem xem sau một thời gian ở một môi trường mới, có được bao nhiêu người xung quanh nhìn người đó như một con người hoàn toàn, hay hầu hết vẫn nhận diện người đó bằng những cái mác như “thằng Việt Nam”.

Cuối cùng, một nhân cách tự thân dù cho có yếu ớt và bị chèn ép đến đâu, cũng rất khó có thể biến mất hoàn toàn, mà chỉ có thể bị chôn vùi xuống đáy tâm hồn và bị quên lãng đi mà thôi. Khi nhân cách tiêm nhiễm khiến cho cá nhân có những suy nghĩ hay hành động trái ngược với một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân đã bị vùi lấp, nhân cách đó sẽ trỗi dậy và tạo nên một sự xung đột tâm lý trong nội tâm cá nhân, dù có thể là yếu đuối. Điều này có thể được cảm nhận qua một cảm giác lấn cấn, do dự, “có cái gì đó sai”, hay đơn giản chỉ là một sự khó chịu không rõ nguyên nhân. Những xung đột tâm lý này, nếu không được lý giải rõ ràng và giải quyết tận gốc, thì qua thời gian có thể sẽ tích tụ và lớn dần lên, tạo nên sự mâu thuẫn nội tâm ngày càng gay gắt, và cuối cùng có thể dẫn đến những triệu chứng của các loại bệnh tâm thần.

5. Xây dựng nhân cách của chính mình

Chính vì nhân cách tự thân có vai trò quan trọng như vậy, nên mỗi người chúng ta đều nên để ý xây dựng nên cho mình một nhân cách độc lập và vững vàng theo mong muốn của bản thân. Nhiều người cho rằng tính cách hay nhân cách là do môi trường tạo nên. Khẳng định đó có thể phần nào phản ánh đúng hiện thực, nhưng nó gián tiếp phủ nhận vai trò của ý chí tự do của mỗi cá nhân, cũng tức là thể hiện sự lảng tránh trách nhiệm đối với nhân cách và qua đó là vận mệnh của chính mình. Vậy, chúng ta có thể làm gì để phát triển nhân cách của bản thân?

a. Phát triển

Trước hết, nếu một người không hề ý thức được gì về một thứ nào đó, thì cũng có nghĩa là thứ đó không hề tồn tại đối với người ấy, và một thứ không tồn tại thì không có cách nào phát triển được. Do vậy, điều đầu tiên chúng ta nên làm là tự quan sát và ý thức được sự tồn tại của nhân cách tự thân. Điều này không nhất thiết phải là cái gì to tát, mà có thể đơn giản bắt đầu từ việc để ý xem mình thích ăn món gì, thích nghe nhạc gì, thích mặc đồ gì,… Mở rộng ra, chúng ta có thể dành thời gian để quan sát và suy nghĩ về tính cách, năng lực, đạo đức của bản thân: mình đối xử với xung quanh thế nào, mình thích làm và làm tốt việc gì, mình cảm thấy tức giận vì điều gì,… Một phần rất lớn nhân cách của chúng ta vốn đã tồn tại sẵn ở bên trong nội tâm mỗi người, vấn đề chỉ là chúng ta có ý thức được sự tồn tại của chúng, và diễn đạt những nội dung đó ra thành hình ảnh hay ngôn từ được hay không mà thôi.

Song song với việc tự quan sát chính bản thân, chúng ta cũng nên thường xuyên tìm kiếm và tiếp xúc với những ý tưởng, suy nghĩ, quan điểm mới mẻ để có thêm nguyên liệu cho quá trình xây dựng nhân cách, thông qua những phương tiện như sách vở, báo chí, internet, nói chuyện, hay đơn giản là quan sát từ xung quanh,… Ý tưởng hay suy nghĩ mới không nhất thiết phải là từ những sách vở chuyên ngành nhất định, mà có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, thậm chí ở cả những nơi tưởng chừng như chẳng hề liên quan. Chú ý rằng quá trình thu thập thông tin này cần gắn liền với sự chọn lọc, lý giải và kiểm chứng bằng nhân cách tự thân, chứ không nên là sự tiếp thu vô điều kiện. Có thể nói rằng, đây là quá trình tìm kiếm những công cụ mới để mô tả một cách ngày càng rõ ràng và chính xác hơn về nhân cách tự thân đã có sẵn, đồng thời mở rộng hoặc cải biến nhân cách đó mà vẫn giữ được tính thống nhất và hợp lý của nó, chứ không đơn thuần là sự chắp vá một cách tùy tiện.

Một trong những phương pháp tốt nhất để quan sát và xây dựng nhân cách tự thân là tự đặt mình vào trong một môi trường sống mới, mà ví dụ điển hình là một cuộc sống ở một vùng đất mới, trong một cộng đồng mới. Chúng ta chỉ có thể nhận ra sự tồn tại của một thứ gì đó khi có một thứ khác biệt đứng bên cạnh để so sánh. Cũng giống như việc con người không thể nhận ra sự tồn tại của không khí nếu như không có chân không, chúng ta không thể nhận ra một thói quen hay một khuôn mẫu tư tưởng của chính mình nếu như tất cả mọi người xung quanh đều có chung thói quen hay khuôn mẫu đó. Một môi trường hoàn toàn mới sẽ buộc chúng ta phải tiếp xúc với rất nhiều tư tưởng và suy nghĩ xa lạ từ xung quanh, dù muốn dù không, và qua đó có cơ hội nhận thức được rõ ràng hơn về nhân cách của chính mình, cũng như chọn lọc tiếp thu được những điều mới mà có thể trước đây chúng ta chưa bao giờ có cơ hội tiếp xúc.

b. Bảo vệ & sử dụng

Để cho nhân cách tự thân có thể trở nên vững vàng hơn, chúng ta cũng cần để ý bảo vệ và tin tưởng sử dụng nó vào thực tế. Điều này tưởng chừng như đơn giản nhưng có thể lại rất khó khăn. Nếu như nhân cách tự thân của chúng ta đã bị đè nén quá lâu, chúng ta có thể sẽ không có lòng tin vào nhân cách của chính mình, mà sẽ lựa chọn việc sống theo những chuẩn mực, thói quen hay lòng tin của những người xung quanh, vì những điều đó dù gì cũng (có lẽ) ít nhiều đã được kiểm chứng bằng thực tế, và nhất là vì kể cả khi thất bại chúng ta cũng không cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thất bại ấy. Cứ như thế, chúng ta càng thiếu tin tưởng và không sử dụng nhân cách tự thân, thì nhân cách tự thân của chúng ta càng không được phát triển, bị quên lãng đi, và do đó càng trở nên thiếu tin cậy hơn. Vòng xoáy tiêu cực này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là chúng ta phó mặc hoàn toàn việc suy nghĩ, đánh giá và quyết định của bản thân cho thế giới bên ngoài.

Điều đầu tiên chúng ta có thể làm được để phá vỡ vòng xoáy đó là thường xuyên khẳng định sự tồn tại và thể hiện những nội dung của nhân cách tự thân một cách rõ ràng bằng ngôn từ, hành động, hay ít nhất là suy nghĩ. Kể cả khi hoàn cảnh khiến cho chúng ta đưa ra những quyết định hay hành động trái ngược với mong muốn, chúng ta cũng nên lắng nghe tiếng nói của nhân cách tự thân, tôn trọng ý kiến đó, và nhận trách nhiệm hoàn toàn với từng quyết định hay hành động cuối cùng của mình. Điều đó đơn giản có nghĩa là: tôi biết thực sự mình thích gì và muốn gì, nhưng trong trường hợp này tôi tự lựa chọn việc làm trái với những điều đó bởi những lý do mà tôi tự chấp nhận. Có thể sẽ có người cho rằng đây là một suy nghĩ kiểu AQ chủ nghĩa, nhưng cách suy nghĩ này sẽ giúp cho nhân cách tự thân được duy trì và trở nên mạnh mẽ hơn trong mọi hoàn cảnh kể cả là khắc nghiệt và tù túng.

Mở rộng ra, trong mọi trường hợp chúng ta đều nên hướng tới việc lấy nhân cách tự thân làm chuẩn mực để đánh giá và đưa ra quyết định cho bản thân, kể cả khi điều đó có thể khiến cho một số lợi ích vật chất hay trước mắt khác bị ảnh hưởng ở một mức độ nhất định. Việc cân bằng giữa sự tôn nghiêm của nhân cách tự thân với các lợi ích vật chất và tinh thần khác như thế nào là việc mỗi người nên tự suy nghĩ và quyết định lấy, vì đó cũng là một phần của nhân cách tự thân. Tuy nhiên, một khi chúng ta cảm thấy một giá trị cốt lõi nền tảng của nhân cách tự thân bị đe dọa, nhất là khi đó là một nguyên tắc đạo đức tối cao của bản thân, thì rất có thể đó là lúc chúng ta cần phải đứng lên khẳng định và bảo vệ nhân cách của chính mình bằng mọi giá, vì sự phản bội nghiêm trọng một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân là một quyết định mà trong đa số trường hợp sẽ khiến chúng ta day dứt và hối hận cho đến mãi về sau.

c. Chú ý

Trong quá trình xây dựng nhân cách tự thân, có hai điểm mà chúng ta cần phải chú ý. Thứ nhất, đó là mọi nội dung của nhân cách tự thân đều cần phải có tính chân thực, tức là xuất phát từ những cảm xúc và suy nghĩ thực sự tự nhiên và tự do của bản thân. Nói cách khác, chúng ta nên trung thực với chính mình. Chúng ta không nên xây dựng nhân cách chỉ để hòa đồng, để khác người, hay vì bất cứ mục đích nào khác. Sự độc đáo khác biệt, hay bất cứ lợi ích gì khác nếu có, chỉ nên là hệ quả phụ của việc khám phá và xây dựng nhân cách mà thôi. Vị kem mà bạn thích có thể đơn giản là “vị gì cũng được”, miễn là bạn thực sự nghĩ như vậy, chứ không nên là “khoai môn cam chanh thêm sầu riêng” chỉ vì mọi người xung quanh đều thích vanila. Việc xây dựng nhân cách với một mục đích khác ngoài mục đích hoàn thiện nhân cách bản thân cũng chính là một biểu hiện của nhân cách tiêm nhiễm, vì khi đó nhân cách tự thân đã không còn là chuẩn mực đánh giá cao nhất nữa.

Thứ hai, chúng ta nên thận trọng đối với từng lời nói, hành động và quyết định của bản thân. Con người nhìn chung đánh giá cao và đòi hỏi ở nhau một sự thống nhất ở một mức độ nhất định trong lời nói và hành động. Và do đó trong mỗi cá nhân đều có một nhu cầu, hay đúng hơn là sự thôi thúc, phải đưa ra những hành vi thống nhất ở mức nào đó với những gì mình đã nói hay làm trong quá khứ. Nói theo một cách khác, từng lời nói, từng hành động, từng suy nghĩ của chúng ta đều có tác dụng định hướng nhân cách của chúng ta theo một cách nhất định, dù có thể đó không phải điều chúng ta mong muốn. Một khi chúng ta đã thể hiện một nhân cách nhất định trong một môi trường bên ngoài nào đó, thì áp lực từ môi trường ấy, dù là có thực hay tưởng tượng, sẽ luôn tìm cách trói buộc chúng ta vào nhân cách đó. Nếu như nhân cách được thể hiện không đúng với nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta đã tự tạo ra và khóa mình vào một nhân cách giả tạo, cho đến khi nào chúng ta có thể trốn thoát khỏi môi trường ban đầu, hoặc có đủ sự dũng cảm để trút bỏ nhân cách ấy.

Chúng ta hãy lấy một ví dụ đơn giản về một người giáo viên trước mặt học sinh luôn tỏ vẻ, hay thậm chí tin tưởng, rằng mình biết nhiều hơn học sinh, đúng hơn học sinh, và đáng được học sinh tôn trọng. Khi đó, áp lực từ xung quanh, mà trong trường hợp này chúng ta thường gọi là sự sĩ diện, sẽ khiến cho người giáo viên đó không thể chấp nhận được rằng mình có thể biết ít hơn học sinh, không đúng bằng học sinh, hay không được học sinh tôn trọng, kể cả khi đó là sự thật. Sự mâu thuẫn giữa hình ảnh về bản thân trong tâm trí với bản thân của hiện thực sẽ tạo nên sự xung đột trong nội tâm người giáo viên, khiến người đó cảm thấy mất khả năng kiểm soát đối với cuộc sống, và chỉ có thể được giải quyết khi người đó chịu từ bỏ nhân cách giả tạo của mình. Chính vì lẽ đó, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta nên chủ động trung thực với chính mình: nếu bạn ích kỷ, hãy nói rằng mình ích kỷ, nếu bạn ganh tị, hãy nói rằng mình ganh tị, nếu bạn kém cỏi, hãy nói rằng mình kém cỏi,… Điều này sẽ giúp cho tâm lý của chúng ta được thoải mái hơn rất nhiều.


Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhân cách là một khái niệm có vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tinh thần của mỗi con người. Có thể nói rằng, nhân cách là sự tổng hợp tất cả “tính người” của một cá nhân, là phần “người” trong “con người”. Nhân cách tự thân, song hành cùng với ý chí tự do, là điều làm nên sự khác biệt giữa một con người với một cỗ máy hay một con vật. Tuy nhiên, nếu như không được để ý phát hiện, xây dựng, bảo vệ và sử dụng thì nhân cách tự thân của chúng ta có thể sẽ trở nên yếu ớt, lép vế trước sự xâm lấn của nhân cách tiêm nhiễm. Nếu như chúng ta để cho nhân cách tiêm nhiễm lấn át hoàn toàn nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta tự đánh mất bản sắc con người cùng với những suy nghĩ và cảm xúc chân thực của bản thân, và quan trọng hơn cả là đánh mất tự do tư tưởng của chính mình.

Khi chúng ta xung đột

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A new psychology of freedom” của William Glasser và “Getting to Yes: Negotiating an agreement without giving in” của Roger Fisher, William Ury.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên phải đối mặt với đủ mọi loại xung đột từ lớn cho đến nhỏ với những người từ thân thiết, quen biết, cho đến hoàn toàn lạ mặt. Việc có xử lý được những xung đột này một cách suôn sẻ hay không ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc cá nhân của chúng ta. Có thể nói, kỹ năng xử lý xung đột là một kỹ năng thiết yếu của mỗi cá nhân sống trong xã hội con người. Dưới đây tôi muốn chia sẻ một số suy nghĩ của bản thân về vấn đề này.


1. Xung đột ở khắp mọi nơi

Xung đột xảy ra giữa hai hoặc nhiều bên khi niềm tin hoặc hành vi của một bên không được chấp nhận hoặc gặp phải sự chống đối bởi một hoặc nhiều bên còn lại (chôm chỉa từ Wikipedia). Xung đột có thể có nguyên nhân từ sự trùng lặp phạm vi của lợi ích, hoặc từ sự xung khắc về tư tưởng. Xung đột có thể có yếu tố bạo lực, mà cũng có thể là phi bạo lực thông qua các phương tiện xã hội thông thường. Xung đột có thể xảy ra trên phạm vi thế giới, quốc gia , cộng đồng, giữa cá nhân với nhau, hay thậm chí là bên trong nội tâm mỗi cá nhân. Xung đột là một hiện tượng rất thường thấy trong xã hội con người. Chưa nói đến những xung đột hiển hiện như xung đột sắc tộc hay xung đột quốc gia, xung đột hiện hữu ngay xung quanh chúng ta: không được trộm cướp → cứ trộm cướp → xung đột, không được ăn thịt chó → cứ thích ăn thịt chó → xung đột, mẹ muốn con ăn cơm → con không muốn ăn cơm → xung đột,… Có thể nói rằng ở đâu có con người chung sống ở đó sẽ có xung đột.

Một đặc điểm nhận dạng dễ thấy của xung đột là khi một bên A muốn một bên B làm điều gì đó mà bên B không muốn làm. Khi đó, bên A đứng trước ba lựa chọn: 1. sử dụng các biện pháp cưỡng ép để khiến cho đối phương làm theo ý mình bất kể đối phương có đồng ý hay không, 2. sử dụng các biện pháp ôn hòa để cùng đi đến một kết quả mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được, và 3. từ bỏ mong muốn của bản thân. Nhìn vào thực trạng của xã hội con người ngày nay, chúng ta hẳn không khó nhận ra lựa chọn nào đang được sử dụng nhiều nhất. Là một loài động vật mang tính xã hội cao, hạnh phúc và thịnh vượng của mỗi cá thể con người phụ thuộc rất nhiều vào những người xung quanh. Do vậy, việc một người mong muốn, yêu cầu và đi đến là bắt buộc người xung quanh hành động và suy nghĩ theo ý muốn của bản thân là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, lựa chọn đó có thực sự phục vụ tốt nhất cho lợi ích lâu dài và sâu xa của mỗi chúng ta hay không?

2. Quyền lực đến từ đâu

Tạm gác lại vấn đề xung đột, chúng ta hãy thử suy nghĩ về khái niệm “quyền lực”. Theo quan niệm của tôi, quyền lực của một con người là khả năng khiến cho người khác làm theo ý muốn của mình, bất kể là bằng phương pháp nào. Nhà nước khiến người dân làm theo ý mình bằng hệ thống pháp luật, tuyên truyền và giáo dục, đó là quyền lực. Kẻ cướp khiến nạn nhân làm theo ý mình bằng đe dọa vũ lực, đó là quyền lực. Người thông thái khiến người khác làm theo ý mình bằng lý lẽ và nhân cách, đó là quyền lực. Trẻ con khiến người lớn làm theo ý mình bằng sự đáng yêu, đó là quyền lực. Người có địa vị chính trị, kinh tế hoặc xã hội cao hơn thường có nhiều quyền lực hơn, nhưng người ở địa vị thấp hơn vẫn có thể có quyền lực của riêng mình. Giữa hai bên, việc mỗi bên đều có quyền lực nhất định đối với bên còn lại là việc bình thường và rất dễ gặp.

Nhiều người thường nghĩ rằng quyền lực của một người nằm ở bản thân người đó hoặc ở vị trí của người đó trong xã hội, trong hệ thống,… Nếu quả thực là như vậy, thì vì sao cùng một hệ thống pháp luật có người phạm tội có người không? Vì sao có lúc cha mẹ nói thì con nghe mà có lúc thì không? Đó là vì quyền lực của một người không do người đó kiểm soát, mà nằm ở những người xung quanh. Chúng ta không thể điều khiển người khác làm theo ý mình. Chúng ta chỉ có thể đưa ra yêu cầu và thúc đẩy người khác lựa chọn làm theo ý mình mà thôi. Chỉ cần đối phương lựa chọn không làm theo ý chúng ta nữa, thì quyền lực của chúng ta cũng biến mất, bất kể chúng ta có vũ lực, địa vị, lý lẽ, nhân cách hay quan hệ như thế nào. Điều này có thể thấy rõ nhất trong các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như khi con cái chống đối cha mẹ.

3. Cái giá của chiến thắng

Trở lại vấn đề chính, trong một xung đột thường ai cũng muốn giành lấy phần thắng tuyệt đối về mình. Nhưng một chiến thắng tuyệt đối không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích lớn nhất cho kẻ thắng cuộc, và thậm chí còn có thể ẩn chứa nhiều thiệt hại vô hình và rủi ro về sau. Trừ khi một bên tiêu diệt hoàn toàn bên còn lại, một chiến thắng càng triệt để và áp đảo càng có khả năng để lại thương tích sâu sắc cho người thua cuộc, từ đó dẫn đến sự thù hằn cũng như phản kháng ngấm ngầm kéo dài sau khi xung đột đã đi qua. Đó là chưa kể việc mất mát những lợi ích tiềm năng đáng lẽ có thể đạt được nếu như cả hai bên có thể cùng bàn bạc để đi đến thỏa hiệp và hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp cả hai bên bị lôi cuốn theo xung đột mà không ý thức được bản thân mình thực sự muốn đạt được điều gì. Do đó nhiều khi chiến thắng chỉ là một thứ trống rỗng và không giải quyết được những nhu cầu sâu xa của kẻ thắng cuộc.

Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về xung đột giữa xã hội với một người phạm tội. Từ những gì tôi quan sát được, đa số mọi người có cùng một phản ứng trước một tội phạm đã bị bắt: phạt nặng vào, bỏ tù nó đi, 3 năm ít quá 10 năm luôn cho bõ,… Tôi không phủ nhận giá trị của luật pháp và hình phạt, cái tôi muốn nói đến là thái độ muốn dồn kẻ thua cuộc vào đường cùng của nhiều người trong xã hội. Chúng ta nên nhớ rằng một người có đi tù thì vẫn là một thành viên xã hội, và sẽ đến lúc họ trở lại cộng đồng. Khi đó, chúng ta muốn nhận lại một con người có mong muốn hoàn lương và tái hòa nhập xã hội, hay là một con người mang trong lòng sự hận thù đối với cái xã hội đã dẫm đạp mình xuống đáy sâu? Một hệ thống công lý sử dụng các hình phạt nặng nề, hoạt động dựa trên sự sợ hãi với mục đích trả thù và răn đe có thể sẽ khiến ít người phạm tội hơn, nhưng chắc chắn sẽ tạo nên nhiều kẻ phạm tội nguy hiểm và bất trị hơn, một khi quyền lực đến từ sự sợ hãi đã mất đi tác dụng.

Đó là chưa kể, trong thời đại ngày nay đại đa số những xung đột mà chúng ta gặp phải hàng ngày thường là với những người có mối quan hệ tương đối gần gũi với chúng ta: vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè, học sinh,… Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ thực sự có quyền và có khả năng điều khiển hoàn toàn hành động và suy nghĩ của duy nhất một người, đó là chính bản thân mình. Khi một người có quan hệ gần gũi với chúng ta chấp nhận đầu hàng để kết thúc xung đột, điều đó không có nghĩa là chúng ta đã điều khiển được họ, mà là họ đã lựa chọn việc hy sinh tự do của bản thân để gìn giữ mối quan hệ giữa hai người. Nói cách khác, chúng ta đã đem mối quan hệ giữa hai người ra làm con tin để chiến thắng. Điều trái khoáy là càng những người gần gũi với chúng ta, chúng ta càng có xu hướng cho rằng họ là vật sở hữu của bản thân và do đó chúng ta có quyền sử dụng mối quan hệ giữa chúng ta với họ để điều khiển họ làm theo ý mình. Điều này có thể thấy rõ nhất ở mối quan hệ giữa bố mẹ với con cái và vợ chồng với nhau.

Nhưng một chiến thắng trong những xung đột như vậy có thể đem lại những hậu quả gì? Sự tự chủ trong suy nghĩ là nền tảng then chốt làm nên nhân cách con người. Việc bị cướp mất quyền tự chủ thông qua việc bị bắt làm một điều mình không muốn là một đòn đánh rất nặng vào tâm lý của nạn nhân, nặng hơn rất nhiều những gì người ngoài có thể thấy được. Để giảm thiểu thiệt hại tinh thần, người đó có thể phản ứng bằng cách 1. tự triệt tiêu đi quyền tự chủ và tự do của bản thân, phản ứng thường thấy ở những người yếu thế như trẻ nhỏ, hoặc 2. tìm cách giảm bớt quyền lực của mối quan hệ đang bị lợi dụng trong thế giới nội tâm của mình. Điều đó có nghĩa là, mỗi khi chúng ta bắt ép một người làm một điều họ thực sự không muốn, thì tức là chúng ta đang bào mòn nhân cách của họ, hoặc bào mòn mối quan hệ giữa họ với chúng ta, hoặc là cả hai.

Một người, một khi đã tự mình từ bỏ tự do tư tưởng, sẽ chôn sâu nhân cách thực xuống đáy tâm hồn và sống bằng một nhân cách giả tạo như một con rối, để tránh cho bản thân phải nhận thêm thương tổn từ trách nhiệm với hành động và suy nghĩ của chính mình. Một nhân cách giả tạo sẽ không bao giờ có thể phát huy hết được những năng lực và sự sáng tạo tiềm tàng của mỗi con người. Một người sống bằng nhân cách giả tạo sẽ khó có thể tìm thấy được hạnh phúc và sự thỏa mãn thực sự với cuộc sống, và sẽ không cảm thấy có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình, chừng nào người đó còn chưa được sống đúng với nhân cách thực của bản thân, chưa được “trở lại làm người”. Nhìn theo một cách nào đó, khi chúng ta bắt con cái làm gì đó và chúng chống đối lại, thì chúng ta nên vui mừng, vì điều đó nghĩa là chúng vẫn còn giữ được nhân cách của riêng mình, vẫn còn muốn đấu tranh để bảo vệ quyền tự chủ, và vẫn đang sống như một con người đúng nghĩa.

Nếu như người thua cuộc trong xung đột quyết định không từ bỏ quyền tự chủ của bản thân, thì họ thường sẽ tìm cách đẩy dần kẻ thắng cuộc ra khỏi thế giới nội tâm nhằm hạn chế quyền lực về mặt tinh thần của người đó đối với mình. Đó là lý do vì sao đối với nhiều người, chúng ta càng tìm cách cưỡng ép và điều khiển họ thì họ lại dường như càng rời xa khỏi tầm kiểm soát của chúng ta. Chúng ta có thể vẫn giữ được quyền lực đối với họ bằng vũ lực hay lợi ích vật chất, nhưng thứ quyền lực quan trọng nhất, thứ quyền lực mà đối phương tự nguyện giao cho chúng ta – quyền lực đến từ tình cảm con người, thì sẽ nhanh chóng biến mất. Chuyện những người con tốt nghiệp xong đem bằng về ném trả cha mẹ, hay đơn giản hơn là những đứa trẻ “bất trị” mà chúng ta hay gọi là “nhờn”, là minh chứng rõ ràng cho sự sụp đổ của quyền lực cha mẹ khi thiếu đi sợi dây gắn kết về mặt tình cảm.

4. Con đường trung đạo

Đến đây có lẽ sẽ có người muốn hỏi tôi rằng: Thế anh có phương pháp nào hay hơn không? Tôi sẽ trả lời lại rằng: Cái bạn thực sự muốn biết là gì vậy? Có phải bạn muốn biết một phương pháp để chiến thắng trong mọi xung đột, để bắt tất cả các đối thủ phải khuất phục, mà không cần phải chịu một hệ quả tiêu cực nào từ chiến thắng đó? Nếu là như vậy thì e rằng tôi không thể giúp gì được cho bạn, và tôi tin là sẽ chẳng có ai làm được điều đó. Nhưng nếu bạn thực lòng muốn giải quyết các xung đột một cách ôn hòa sao cho có thể đem lại hạnh phúc và những gì tốt đẹp nhất cho bản thân và cả những người bạn yêu quý, thì tôi nghĩ là những điều dưới đây có thể sẽ có ích.

Đầu tiên, khi xảy ra xung đột, trước khi tung ra những đòn tấn công cả bằng vật chất và tâm lý, chúng ta nên dành thời gian để suy nghĩ kỹ xem thực sự bản thân chúng ta đang muốn cái gì. Phần đông mọi người khi đưa ra một yêu sách không nghĩ xem thực sự tại sao mình lại muốn điều đó. Một yêu sách thường chỉ là một phương tiện để thỏa mãn một mong muốn sâu xa nào đó. Chúng ta cảm nhận thấy một vấn đề, và trong vô thức nghĩ ra một cách mà chúng ta cho là có thể giải quyết vấn đề đó, đưa nó thành yêu sách, và rồi quên bẵng đi luôn vấn đề gốc là gì mà chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương thực hiện yêu sách cụ thể ấy. Kết quả là nhiều khi bắt được đối phương thực hiện yêu sách xong, chúng ta mới nhận ra rằng mong muốn sâu xa của mình vẫn chẳng hề được thỏa mãn, trong khi đó rất có thể cả chúng ta và đối phương, cũng như cả mối quan hệ giữa hai bên, đều đã phải chịu những thiệt hại không nhỏ.

Không chỉ có vậy, việc tìm hiểu và nắm được những nhu cầu và lợi ích đứng đằng sau sự kháng cự từ phía đối phương cũng quan trọng không kém. Có thể họ muốn bảo vệ một lợi ích cốt lõi nào đó đang bị chúng ta đe dọa. Nhưng cũng rất có thể là cách đặt vấn đề của chúng ta khiến cho họ cảm thấy không hề có chút tiếng nói hay quyền lựa chọn nào, và họ chỉ muốn bảo vệ tự do và nhân cách của bản thân. Một khi đã nắm được những nhu cầu sâu xa thực chất của cả đối phương lẫn chính mình, chúng ta có thể tìm ra được những cách tiếp cận và phương án mới nhằm giải quyết nhu cầu của bản thân mà vẫn tôn trọng những nhu cầu và lợi ích sâu xa của đối phương, thay vì tìm cách bắt ép đối phương chấp nhận yêu sách của mình. Đạo Phật dạy rằng, trong một cuộc xung đột, đừng tìm cách triệt hạ đối phương, cũng đừng để đối phương triệt hạ, mà hãy tìm ra con đường đi mới ở giữa hai con đường cực đoan đó, tức là con đường “trung đạo”, để giải quyết vấn đề.

Một ví dụ là trong cuộc sống gia đình, có những khi người phụ nữ muốn người đàn ông làm việc này việc kia, khi thì rửa bát, khi thì nấu cơm, khi thì chăm con. Có những khi người đàn ông vui vẻ đồng ý, có những khi họ tìm cách trốn tránh và thoái thác, thế là xung đột nổ ra. Nhưng từ những gì tôi cảm nhận được, vấn đề cốt lõi thường không phải ở việc ai làm việc gì và làm bao nhiêu, mà nằm ở mối quan hệ tình cảm giữa hai người: có thể người phụ nữ cảm thấy cô đơn, thiếu sự chia sẻ, thiếu sự yêu thương, khiến cho công việc nội trợ vốn có thể rất vui vẻ buổi ban đầu trở nên ngày một nặng nề và khó chịu hơn. Người đàn ông cũng có thể có những lý do của riêng mình để từ chối việc nội trợ, dù lý do đó có thể chỉ là sự tự ái đàn ông, nhưng nó vẫn có sức nặng nhất định đối với suy nghĩ của họ. Điểm quan trọng là một khi đã xác định được rõ vấn đề, xung đột có thể được giải quyết bằng nhiều cách khác thay vì cãi cọ xem ai phải làm việc gì trong nhà: người đàn ông có thể đơn giản là trò chuyện nhiều hơn, bày tỏ sự quan tâm và yêu thương nhiều hơn đến người phụ nữ ở một khía cạnh khác, với những phương thức khác.

5. Chuyện nào ra chuyện nấy

Khi đứng trước một vấn đề gì đó trong công việc và cuộc sống, con người có thể suy nghĩ theo hai hướng: 1. mình có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng bản thân”, và 2. người khác có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng đối phương”. Trong đó, hướng bản thân là hướng suy nghĩ tích cực và tự chủ, còn hướng đối phương là hướng suy nghĩ tiêu cực và phụ thuộc. Sai lầm lớn nhất của rất nhiều người trong xử lý xung đột là chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương phải làm cái này cái kia để giải quyết vấn đề, mà gần như quên bẵng đi việc suy nghĩ xem mình có thể/nên/cần/phải làm gì. Khi cả hai bên trong một cuộc xung đột đều bị cuốn vào suy nghĩ hướng đối phương, thì cuộc xung đột đó sẽ nhanh chóng sa lầy và trở thành một cuộc chiến tranh đổ lỗi qua lại. Tình hình sẽ trầm trọng hơn nữa nếu như mỗi bên lại lấy việc đối phương nhượng bộ làm điều kiện tiên quyết cho bất cứ sự nhượng bộ nào từ phía mình.

Tại sao tôi lại nói suy nghĩ “hướng đối phương” là tiêu cực và phụ thuộc? Việc giải quyết tốt đẹp một xung đột, nhất là với một người gần gũi với chúng ta, có ý nghĩa rất lớn đối với hạnh phúc của mỗi người. Nếu như chúng ta cho rằng xung đột chỉ có thể được giải quyết khi đối phương nhượng bộ, thì cũng tức là vô hình trung chúng ta đã giao quyền định đoạt hạnh phúc của bản thân cho người khác. Thêm vào đó, như đã nói ở trên chúng ta chỉ có thể điều khiển hoàn toàn được suy nghĩ và hành động của bản thân chứ không của ai khác, do vậy việc yêu cầu người khác hành động thay vì tự mình hành động, nhìn qua thì có vẻ như là một lựa chọn dễ dàng hơn, nhưng thực chất lại khó khăn hơn, kém hiệu quả hơn, và nhiều khi là bất khả thi.

Nhiều người hay cho rằng “người kia có lỗi, cớ gì tôi phải làm nọ làm kia”. Lỗi thuộc về ai không quan trọng, quan trọng là xung đột là một vấn đề trong cuộc sống của chúng ta, và chúng ta có thực sự muốn giải quyết nó hay không. Tất nhiên chúng ta có thể gửi tín hiệu đến đối phương để cho đối phương biết mong muốn của mình, nhưng song song với đó chúng ta cũng có thể tự mình hành động một cách độc lập để thực hiện mong muốn ấy. Đối phương có chấp nhận thực hiện mong muốn của chúng ta hay không là chuyện của đối phương, còn việc tìm cách thỏa mãn mong muốn của bản thân là chuyện của chúng ta. Chuyện nào phải ra chuyện nấy. Chúng ta cần tôn trọng tự do lựa chọn và quyền tự chủ của đối phương, nhưng đồng thời cũng phải nắm lấy quyền kiểm soát cuộc đời và hạnh phúc của bản thân. Đừng tự biến mình trở thành nạn nhân của bất cứ ai khác, nhưng cũng đừng biến người khác thành nạn nhân của mình.

Trong công việc với tư cách người quản lý hệ thống CNTT của công ty, hàng ngày tôi phải đối mặt với đủ kiểu thao tác vi phạm quy định, hay đơn giản là trái với ý đồ thiết kế, từ phía người dùng hệ thống. Mỗi lần như vậy tôi có thể lựa chọn việc nhắc nhở và yêu cầu người dùng phải chú ý, phải làm đúng thế này thế kia. Nhưng từ kinh nghiệm thực tế tôi hiểu rằng dù vô tình hay cố ý, những thao tác như vậy sẽ không bao giờ biến mất, và công sức nhắc nhở của tôi sẽ chỉ là công cốc: tôi đang chiến đấu với mấy trăm cái đầu có thể lơ đễnh bất cứ lúc nào. Tôi vẫn có thể nhắc nhở, nhưng đồng thời tôi sẽ lựa chọn tập trung hơn vào việc tạo nên những hệ thống mà người dùng có muốn cũng không thể thao tác sai được. Đối với những kỹ sư CNTT chuyên nghiệp thì điều đó gần như được xem như một yêu cầu hiển nhiên. Tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng lối suy nghĩ tương tự vào việc xử lý tất cả những xung đột khác, đặc biệt là với những người gần gũi với mình.

6. Lựa chọn thứ ba

Tôi xin nhắc lại một lần nữa: chúng ta chỉ có thể điều khiển được hành động và suy nghĩ của chính mình chứ không của ai khác. Trong một cuộc xung đột, nếu như đối phương đã nhất quyết không nhượng bộ, các biện pháp ôn hòa đã thất bại, thì chúng ta nên hiểu rằng việc muốn đối phương làm theo ý mình là điều không thể. Nếu như tư cách làm người hay các nguyên tắc đạo đức cốt lõi của chúng ta đang bị đe dọa, thì việc đấu tranh đến cùng bằng mọi giá thường là điều cần thiết và nên làm. Nhưng đối với đại đa số các xung đột hàng ngày khác, việc cố bám lấy một mong muốn bất khả thi sẽ chỉ khiến cho chúng ta thêm tuyệt vọng và khổ sở, hay tệ hơn là bắt đầu sử dụng đến những biện pháp cực đoan và vũ lực hơn. Thay vào đó, chúng ta hãy nắm giữ quyền tự chủ cuộc sống của mình bằng cách lựa chọn việc chấp nhận từ bỏ yêu sách, và tự tách mình khỏi tầm ảnh hưởng của đối phương nếu cần thiết, thay vì tiếp tục sa lầy trong một cuộc xung đột vô nghĩa.

Trong những mối quan hệ với những người gần gũi thân thiết, rộng ra là những người mà chúng ta không dễ gì cắt đứt được sợi dây liên hệ, ví dụ như giữa cha mẹ với con cái hoặc giữa xã hội với một thành viên trong xã hội, việc chấp nhận chung sống với sự khác biệt càng quan trọng hơn. Nếu như chúng ta thường xuyên sử dụng những biện pháp cưỡng ép và kiểm soát vi phạm vào tự do và nhân cách của đối phương, rất có thể chúng ta sẽ triệt tiêu đi một thứ còn quan trọng hơn sự phục tùng, đó là mối quan hệ tình cảm giữa con người với nhau. Tình cảm con người mới là thứ giúp cho xã hội, cộng đồng và gia đình trở nên gắn kết, và là cột chống tạo nên sự ổn định của tâm lý con người. Kẻ tội phạm nguy hiểm nhất là kẻ đã mất niềm tin vào tình cảm con người. Bạn muốn một đứa con ngỗ nghịch sống một mình một kiểu nhưng vẫn còn tôn trọng và yêu quý bạn trong lòng, hay bạn muốn một đứa trẻ nói gì cũng gật đầu nhưng từ lâu đã không còn coi bạn là cha mẹ nữa?

Đối với đa số chúng ta, việc chấp nhận thua cuộc và từ bỏ yêu sách trong một cuộc xung đột là một điều rất khó khăn. Có lẽ một phần lý do chính là vì điều đó khiến cho chúng ta cảm thấy mình mất khả năng kiểm soát cuộc sống của bản thân khi thấy một thứ đáng lẽ phải diễn ra theo ý mình thì thực tế lại không được như vậy. Tạm không nói về chuyện cái “đáng lẽ” đó có căn cứ gì hay không, nếu như chúng ta biết chấp nhận rằng có rất nhiều thứ mình không kiểm soát được, và không nên kiểm soát, thì chúng ta sẽ có thể bớt đi rất nhiều gánh nặng vô ích cho bản thân, cũng như có thể dành nhiều thời gian, sự chú ý cũng như công sức cho những việc khác chúng ta thực sự có thể kiểm soát thành công để đem lại hạnh phúc cho mình. Khi trên bước đường đi có một tảng đá lớn chặn đường, chúng ta có thể đi vòng tránh hoặc tìm con đường khác, cớ gì cứ nhất thiết mỗi lần lại phải ôm bộc phá dọn đường?


Nói một cách ngắn gọn, về nguyên tắc mọi xung đột nên được giải quyết một cách ôn hòa, trên cơ sở tôn trọng quyền tự do định đoạt của đối phương. Để có thể làm được điều đó, trước hết chúng ta cần phải suy nghĩ thật kỹ và xác định được những lợi ích và nhu cầu sâu xa đằng sau những mong muốn của chúng ta cũng như của đối phương, để có thể tìm ra một phương án có thể đảm bảo được lợi ích của cả hai bên. Thêm vào đó, chúng ta cũng nên tập trung suy nghĩ nhiều hơn vào việc bản thân mình có thể làm được gì để giải quyết xung đột, thay vì mải yêu cầu đối phương nhượng bộ. Cuối cùng, chúng ta nên biết chấp nhận rằng chúng ta không có quyền và cũng không có khả năng điều khiển suy nghĩ và hành động của bất kỳ ai khác ngoài bản thân, và rằng nhiều khi một mối quan hệ không ràng buộc dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau quan trọng hơn nhiều việc bắt được người khác phải làm theo ý mình.

Bàn về “tự do”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy nội dung chính từ cuốn sách “Why we do what we do” của Edward L. Deci và Richard Flaste.

Trong chúng ta có lẽ không ai phủ nhận giá trị của tự do. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận không biết bao nhiêu cuộc cách mạng, bao nhiêu vị anh hùng chiến đấu vì tự do. Cho đến bây giờ con người ở khắp nơi trên thế giới vẫn ngày ngày đấu tranh vì tự do. Dường như đối với chúng ta, “tự do” là một cái gì đó rất vĩ đại, rất to lớn, rất thiêng liêng, rất xa xăm. Tôi không nghĩ vậy. Tôi nghĩ tự do nằm sẵn ở trong đầu chúng ta. Tự do nằm trong từng quyết định, từng suy nghĩ, từng hành động dù là nhỏ nhặt của chúng ta. Mỗi chúng ta đều có khả năng quyết định đến tự do của bản thân, đồng thời gây ảnh hưởng đến tự do của người khác. Trong bài này tôi xin nói qua về những suy nghĩ của tôi về tự do.


1. Tự do là gì

Chữ “tự” (自) chỉ bản thân, chính mình (tự chủ, tự thân). Chữ “do”(由) thể hiện nguyên nhân, nguồn gốc, tùy vào (lý do, do đâu). “Tự do”, nói một cách ngắn gọn, tức là “do tự mình”. Giải thích cụ thể hơn, “tự do” thể hiện việc một người nào đó đưa ra một hành động, quyết định, suy nghĩ nào đó dựa trên những lý do và động lực hoàn toàn đến từ bên trong “cái tôi” thực chất của người đó. Trái ngược với tự do là khi một người làm việc gì đó, quyết định gì đó, suy nghĩ gì đó vì những nguyên nhân bên ngoài hoặc những nguyên nhân tiêm nhiễm từ bên ngoài như sự đe dọa, bắt ép, áp lực, thậm chí là văn hóa và đạo đức xã hội. Chúng ta hành động một cách tự do khi chúng ta muốn hoặc không muốn làm một cái gì đó, và chúng ta quyết định làm theo mong muốn đó của bản thân. Khi chúng ta cảm thấy hay nghĩ rằng mình phải/cần/nên hoặc không được/không thể/không nên làm một việc gì đó, thì rất có thể chúng ta đang không có tự do.

Nếu hiểu theo cách như trên, thì tự do hoàn toàn là một thứ nằm bên trong chúng ta, và do đó, trên lý thuyết, tự do của chúng ta chỉ phụ thuộc vào quyết định của bản thân chúng ta. Không ai có thể tước đi hay ban phát tự do cho chúng ta cả. Chúng ta chỉ mất tự do khi chúng ta không ý thức được tự do của bản thân, hoặc vì một lý do nào đó mà tự mình chối bỏ tự do đó. Ngược lại, trên lý thuyết, dù bị đặt trong hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta vẫn hoàn toàn có thể thể hiện ý chí tự do. Nếu bạn thấy điều này quen quen, thì đó là vì tự do và trách nhiệm là hai mặt của cùng một đồng xu. Chúng ta nhận trách nhiệm hoàn toàn về cuộc đời mình, cũng tức là chúng ta đang thực thi ý chí tự do của bản thân. Tất nhiên, trong thực tế nếu môi trường của chúng ta khích lệ và hỗ trợ tự do thì chúng ta sẽ dễ dàng suy nghĩ và hành động tự do hơn. Ngược lại, nếu một quyết định tự do có thể dẫn đến thiệt hại to lớn về quyền lợi, thì chúng ta sẽ có xu hướng từ bỏ tự do của bản thân.

Như vậy, tự do không có nghĩa là có thể làm điều mình muốn mà không cần phải chịu hậu quả. Tự do là một trạng thái tinh thần chứ không phải một sự đảm bảo hay một đặc quyền. Điều đó có nghĩa là tự do là quyết định làm một điều gì đó dù biết những hậu quả phát sinh mà mình phải gánh chịu. Điều đó cũng có nghĩa là hai hành động nhìn bề ngoài có thể rất giống nhau, nhưng tùy vào suy nghĩ đằng sau nó mà hành động đó có thể là tự do, có thể là không. Tự do cũng không phải một thứ gì đó “đúng” hay “tốt” tuyệt đối, và một quyết định tự do không có nghĩa là nó “đúng”, “tốt” hay thậm chí là “có lợi” cho bản thân chúng ta hoặc bất kỳ ai khác. Một người bỏ công việc ổn định lương cao để theo đuổi đam mê của bản thân có thể là một con người tự do, nhưng rất có thể quyết định đó sẽ dẫn đến việc gia đình anh ta gặp khó khăn, bản thân anh ta gặp thất bại, và khiến anh ta hối hận về quyết định của mình.

2. Tại sao lại cần tự do

Trước hết, tự do là một trong những nhu cầu tâm lý thiết yếu của con người. Những nhà tâm lý học nghiên cứu về Thuyết tự định đoạt (self-determination theory) cho rằng con người có ba nhu cầu tâm lý cơ bản là cảm thấy được làm chủ bản thân, cảm thấy bản thân có năng lực, và cảm thấy được kết nối với người xung quanh. Việc các nhu cầu này không được đáp ứng sẽ dẫn đến sức khỏe tâm lý bị ảnh hưởng, dẫn đến những hậu quả tâm lý như tuyệt vọng, trầm cảm, bức bối, vô cảm,…  và có thể dẫn đến bùng nổ hoặc suy sụp tâm lý. Trong đó, cảm giác được làm chủ bản thân, hay nói cách khác là được tự do, có sự gắn kết chặt chẽ với cảm nhận của chúng ta về nhân cách, hay “mức độ con người”, của bản thân. Khi cảm thấy bị tước mất tự do hay buộc phải từ bỏ tự do, chúng ta sẽ cảm thấy dường như nhân cách của mình bị phủ nhận, dường như mình không được “làm người”, và điều này sẽ dẫn đến một loạt các cảm xúc tiêu cực khác.

Xét từ góc độ hiệu suất làm việc, tự do sẽ giúp cho chúng ta làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn, sáng tạo hơn. Khi chúng ta làm việc mình thích, suy nghĩ của chúng ta sẽ không bị vướng bận gì và có thể được dành toàn bộ cho việc xử lý công việc. Nhưng khi chúng ta phải làm một việc trái mong muốn, tức không có tự do, não bộ chúng ta sẽ phải dành ra một lượng năng lượng tinh thần nhất định để bắt buộc bản thân làm việc đó. Điều này làm tăng tổng mức độ tiêu hao năng lượng tinh thần và giảm bớt lượng năng lượng dùng cho công việc, khiến chúng ta thiếu tập trung và mau chóng kiệt quệ hơn. Thêm vào đó, khi phải vừa làm việc vừa kiềm chế bản thân, chúng ta sẽ sử dụng suy nghĩ lý trí nhiều hơn suy nghĩ cảm tính, trong khi suy nghĩ cảm tính mới là thứ làm nên tính sáng tạo. Điều này khiến chúng ta có xu hướng làm việc thiếu sáng tạo, dựa nhiều vào lối mòn, và chọn cách an toàn hơn là thử nghiệm cái mới.

Đứng ở vai trò người tác động đến hành vi của người khác như cha mẹ với con cái, giáo viên với học sinh, thì việc tôn trọng tự do của đối tượng sẽ giúp cho những tác động của chúng ta dễ được chấp nhận hơn, có hiệu quả lâu bền hơn, và hạn chế hậu quả tiêu cực hơn. Khi chúng ta bắt ép đối tượng làm một việc trái với mong muốn tự do bằng bất cứ phương pháp nào đi nữa, thì cái chúng ta tạo ra được chỉ là sự phục tùng hoặc chống đối mà thôi. Nhìn bề ngoài, phục tùng có vẻ là bằng chứng cho thành công, nhưng phục tùng và chống đối có cùng bản chất là sự cự tuyệt ở bên trong, chỉ khác cách thể hiện ra bên ngoài. Phục tùng không phải là sự thay đổi về suy nghĩ như chúng ta thường mong muốn. Phục tùng có thể biến thành chống đối trong chốc lát chỉ bằng một giọt nước tràn ly. Đó là chưa kể để duy trì sự phục tùng cần có sự giám sát và đốc thúc thường xuyên, vì nó không xuất phát từ lý do bên trong. Khi lý do để phục tùng biến mất, thì sự phục tùng cũng sẽ biến mất.

3. Làm sao để có tự do

Như đã nói ở trên, tự do không phải là một đặc quyền đến từ bên ngoài. Vì vậy đừng mong chờ người khác đem tự do đến cho mình mà hãy bắt đầu từ bản thân. Nếu bản thân chúng ta không có suy nghĩ tự do thì kể cả khi được thoải mái làm điều mình thích, chúng ta cũng sẽ chẳng biết làm gì cả. Do đó, bước đầu tiên để xây dựng suy nghĩ tự do không phải là đòi hỏi tự do, hay vùng lên “làm cách mạng”, mà là nhận trách nhiệm về cuộc đời mình. Cuộc sống của chúng ta sẽ luôn chịu ảnh hưởng, thậm chí là bị quyết định, bởi những yếu tố bên ngoài mà chúng ta không thể cưỡng lại. Tuy nhiên, việc nhìn nhận và thay đổi cuộc đời theo chiều hướng tốt đẹp hơn là việc của chúng ta, chỉ có chúng ta mới có thể làm được. Và kể cả khi phải từ bỏ tự do trong một vấn đề nào đó, ít ra chúng ta cũng có được sự an ủi rằng bản thân mình là người đưa ra quyết định đó, chứ không phải một nạn nhân bất lực trước hoàn cảnh.

Tiếp theo, cái chúng ta cần làm là xây dựng nên một nhận thức về “cái tôi”. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần suy nghĩ xem mình là ai, mình là người như thế nào, tính cách mình ra sao, mình thích gì, mình ghét gì, mình coi trọng cái gì, mình có đam mê gì, mình có năng lực gì, mình phù hợp với công việc gì, đạo đức của mình là gì,… Nhận thức đó không nhất thiết phải “đúng” hoàn toàn, mà có thể được thay đổi chỉnh sửa theo thời gian. Cái quan trọng là chúng ta có một nhận thức rõ ràng và một niềm tin vào “cái tôi” để làm cơ sở cho những suy nghĩ tự do của bản thân, thay vì phải du nhập những tư tưởng, chuẩn mực, đánh giá từ bên ngoài. “Cái tôi” của chúng ta tồn tại độc lập với khả năng nhận thức của chúng ta về nó, nên những thứ du nhập mà không phù hợp với “cái tôi” sẽ gây ra xung đột bên trong mà không sớm thì muộn chúng ta sẽ phải nhận ra, và người chịu ảnh hưởng nhất chỉ có chúng ta mà thôi.

Cuối cùng, chúng ta cần phải không ngừng tu dưỡng bản thân cả về tri thức, suy nghĩ lẫn kỹ năng thực tế. Người thông minh, hiểu biết và có kỹ năng hơn sẽ tự do hơn, đơn giản vì người đó sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm ra cách thực thi và bảo vệ ý chí tự do của bản thân trước những khó khăn và áp lực của hoàn cảnh, thay vì phải từ bỏ tự do để bảo vệ những lợi ích khác. Người lái đò sông Đà có thể di chuyển tự do trên con sông hung dữ không phải vì con sông “cho phép” ông đi bất cứ đâu mình muốn, mà là vì ông hiểu về cách con sông vận hành, và có kỹ năng lái đò tương xứng để có thể đi tới những cái đích mà ông muốn tới. Trong cuộc sống, chúng ta có thể bảo vệ tự do của mình “chỉ bằng niềm tin”, nhưng trong hầu hết trường hợp sẽ phải hy sinh nhiều lợi ích khác. Hiểu biết, suy nghĩ và kỹ năng sẽ giúp chúng ta giảm thiểu sự hy sinh đó.

4. Hãy khích lệ và nuôi dưỡng tự do

Nếu đứng ở vị trí cha mẹ, giáo viên, cấp trên, hay bất cứ ai có trách nhiệm hướng dẫn hành vi của người khác, đặc biệt là đối với những đối tượng còn nhỏ tuổi, tôi thành thực mong muốn rằng chúng ta hãy biết công nhận, khích lệ và nuôi dưỡng sự tự do trong con em, học sinh, hay cấp dưới của chúng ta. Sự tự do đó không chỉ cần thiết và có lợi cho sức khỏe tinh thần của đối tượng, mà trong hầu hết trường hợp còn mang lại lợi ích cho chính chúng ta. Chúng ta hay nghĩ rằng một đứa trẻ, một cấp dưới “biết nghe lời” sẽ “an toàn” hơn, “yên tâm” hơn. Nhưng tôi cho rằng một con người tự do mới là người sẽ biết hành động có suy nghĩ hơn, có trách nhiệm hơn, và nhìn chung là thành công và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, suy nghĩ tự do là một thứ rất mong manh, khó xây dựng mà lại rất dễ bị hủy hoại, nhất là ở tuổi nhỏ. Do vậy chúng ta cần lưu ý đến một số điểm dưới đây nếu muốn nuôi dưỡng một con người tự do.

Trước hết, chúng ta nên để cho đối tượng được tự do quyết định hết mức có thể. Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải để mặc cho đối tượng làm bất cứ thứ gì tùy thích, mà chúng ta cần xác định những gì là cốt lõi, những gì chúng ta sẽ không thỏa hiệp, và để cho đối tượng được tự do lựa chọn đối với những thứ còn lại. Ví dụ, bạn có thể yêu cầu con giúp bạn việc nhà, nhưng để cho con tự do lựa chọn giúp việc gì cụ thể. Nếu con giúp việc rửa bát, bạn có thể để con tự do lựa chọn rửa bát lúc nào, miễn là hoàn thành xong trước một thời hạn nào đó. Nhìn từ phía chúng ta, những quyết định đó có thể là nhỏ nhặt không đáng kể, và kết quả đem lại có thể không phù hợp với kết quả lý tưởng mà chúng ta nghĩ tới, nhưng nếu vì thế mà chúng ta tước đi hoàn toàn cơ hội quyết định của đối tượng, thì tức là chúng ta đã dập tắt những suy nghĩ tự do từ trong trứng nước.

Thứ hai, chúng ta không nên dựa vào những nguồn động lực bên ngoài để khiến đối tượng làm theo chúng ta muốn, bất kể nguồn động lực đó là hình phạt, đe dọa, phần thưởng, hay thậm chí là lòng tự trọng, đạo đức hay lý lẽ. Nhất là đối với những việc vốn sẵn đối tượng đã thích làm, nếu chúng ta cho thêm nguồn động lực bên ngoài vào thì sẽ vô tình phá hoại nguồn động lực bên trong của đối tượng. Dấu hiệu nhận biết chung cho những nguồn động lực bên ngoài là “tình yêu có điều kiện”: mẹ sẽ không đánh con, mẹ sẽ không giận con, mẹ sẽ yêu con, mẹ sẽ khen con, mẹ sẽ thưởng con, con “ngoan”, con “người lớn”, con “đúng đắn” chỉ với điều kiện con làm theo ý mẹ muốn. Nếu chúng ta muốn nuôi dưỡng sự tự do, cái chúng ta nên làm là cung cấp cho đối tượng thông tin về những lựa chọn có thể có và những hệ quả của từng lựa chọn, và chấp nhận sự lựa chọn của đối tượng với một “tình yêu vô điều kiện”, dù lựa chọn đó có thể không hoàn toàn vừa ý mình.

Thứ ba, khi cần phải yêu cầu đối tượng làm một điều gì đó, nhất là một việc đối tượng không thích thú, chúng ta nên tìm cách yêu cầu sao cho đối tượng cảm thấy nhân cách của họ được tôn trọng. Cụ thể, chúng ta có thể nói với đối tượng rằng chúng ta biết đối tượng không thích làm việc đó. Điều này giúp đối tượng cảm thấy cảm xúc của mình được công nhận. Tiếp theo, chúng ta có thể đưa ra lý do cho yêu cầu của mình. Lý do đó không nhất thiết phải “hợp lý” hay “khách quan”, nhưng ít nhất không nên dừng ở mức “vì tôi muốn thế”. Điều này sẽ giúp đối tượng cảm thấy việc mình phải làm là có lý do, chứ không phải một việc vô nghĩa, hay chỉ vì bị người khác sai khiến. Chúng ta cũng nên nói thẳng thắn rằng đây là một yêu cầu (“bố muốn con làm …”) thay vì nói gián tiếp vòng vo (“con cần phải …”, “bố ước gì …”) hay tệ hơn là ngụy trang dưới dạng câu hỏi chỉ có một đáp án.

Cuối cùng, chúng ta nên giao kèo rõ ràng từ trước và sau đó thi hành những hậu quả đặt ra đối với từng lựa chọn của đối tượng. Ví dụ bạn có thể yêu cầu con phải liên lạc mỗi khi đi chơi về muộn, nếu không sẽ bị cấm đi chơi một tuần. Điều này có vẻ đi ngược lại với tự do và quyền lựa chọn, nhưng đó là điều cần thiết để khiến đối tượng hiểu rằng mọi lựa chọn đều có hậu quả, và tự do tức là chấp nhận hậu quả của điều mình đã lựa chọn, cũng tức là có trách nhiệm với lựa chọn của bản thân. Điểm cốt lõi là chúng ta cần chú ý đặt ra hậu quả tương xứng với mức độ nghiêm trọng của lựa chọn, và thi hành hậu quả không phải vì đối tượng đã lựa chọn “sai”, vì chúng ta muốn đối tượng làm theo ý mình, mà đơn giản chỉ là làm theo đúng giao kèo đã đặt ra giữa hai bên. Việc thể hiện “tình yêu vô điều kiện” song song với việc thi hành hậu quả là yếu tố rất quan trọng để đối tượng tiếp nhận đúng thông điệp mà chúng ta muốn truyền tải.


Tự do không phải một thứ đặc quyền mà chúng ta nhận được từ bên ngoài. Tự do là trạng thái tinh thần của chúng ta khi đưa ra một quyết định hay hành động dựa trên những giá trị, những suy nghĩ, những mong muốn của chính bản thân chúng ta. Khi đưa ra một quyết định tự do chúng ta sẽ thấy thanh thản và nhẹ nhàng. Ngược lại khi phải từ bỏ tự do chúng ta sẽ thấy nặng nề và bức bối. Tự do của chúng ta là do chúng ta tự quyết định. Tuy nhiên khi phải chịu áp lực quá lớn, chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng không nhận thức được tự do của bản thân, hoặc phải quyết định từ bỏ nó. Vì vậy, khi đứng ở vị trí là người hướng dẫn và tác động lên hành vi người khác, chúng ta nên chú ý khích lệ và nuôi dưỡng, hay ít nhất là tránh hủy hoại suy nghĩ tự do của đối tượng nếu như mục đích của chúng ta không phải là tạo ra những cái máy hay những kẻ nổi loạn, mà là tạo nên những con người biết tự mình suy nghĩ một cách có trách nhiệm.