Bài toán của thầy và bài toán của em

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Democracy and Education” của John Dewey.

Có điểm khác biệt gì giữa một vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống và một vấn đề mà đứa trẻ đó gặp phải trên lớp học? Vì sao những đứa trẻ ở ngoài đời thường thì luôn tò mò hiếu kỳ về đủ các loại vấn đề và luôn bỏ bom người lớn bằng đủ các loại câu hỏi, nhưng cũng những đứa trẻ ấy sau một thời gian đến trường thì một phần ko nhỏ lại trở nên thờ ơ với những kiến thức trong sách vở?

Câu trả lời rất đơn giản: hứng thú.

Bất cứ một con người nào cũng đều có những thiên hướng và hành vi đặc trưng. Những thiên hướng và hành vi đó khi va chạm với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh sẽ dẫn đến những trải nghiệm và kích thích của riêng từng người. Những trải nghiệm và kích thích đó có thể làm nảy sinh ra những vấn đề hay câu hỏi nhất định cần lời giải đáp. Và suy nghĩ của con người ko gì khác chính là một phương pháp hay công cụ để giải quyết những vấn đề đó.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó là vì vấn đề ấy nằm trên con đường đi của những thiên hướng và hành vi tự nhiên của người đó. Có thể bản thân thiên hướng của người đó dẫn họ đến vấn đề ấy, mà cũng có thể là họ bắt gặp vấn đề ấy trên con đường để đi đến lời giải đáp cho một vấn đề khác mà họ có hứng thú. Điều này giống như việc một dòng nước chảy sẽ cuốn trôi đi những vật cản trên con đường của nó vậy.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó cũng đồng nghĩa với việc người đó cảm thấy một lợi ích nào đó của bản thân phụ thuộc vào việc tìm ra lời giải đáp cho vấn đề đó. Lợi ích ấy có thể là tiền nong, sức khỏe, quan hệ, quyền lực, hay có thể đơn giản chỉ là việc thỏa mãn sự tò mò, nhưng chắc chắn một điều là nó xuất phát từ những thiên hướng tự nhiên, hay chính là nhân cách tự thân của người đó.

Khi một người có hứng thú với một vấn đề, thì người đó sẽ có động lực để giải quyết vấn đề đó, để nhằm tiến lên phía trước và đem lại lợi ích cho bản thân. Khi đó chúng ta có thể nói rằng người đó cảm thấy có trách nhiệm với vấn đề đó, hay người đó coi vấn đề đó là “của mình”. Ngược lại với thái độ có hứng thú và trách nhiệm ko gì khác chính là sự thờ ơ.

Theo như tiêu chuẩn trên, rõ ràng có thể thấy rằng những vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống bên ngoài trường học đều là những vấn đề mà nó cảm thấy hứng thú. Bởi vì nếu ko có hứng thú thì đứa trẻ đó đã chẳng coi những vấn đề ấy là vấn đề. Đó là những vấn đề nảy sinh từ việc những thiên hướng và hành vi tự nhiên của đứa trẻ va chạm với thế giới xung quanh. Nói cách khác, đó là những vấn đề mà ko sớm thì muộn, bằng cách này hay cách khác đứa trẻ đó cũng sẽ gặp phải trong quá trình sống ở môi trường hiện tại.

Ngược lại, đại đa số những vấn đề và câu hỏi mà một đứa trẻ gặp phải trong trường học lại là những vấn đề “nhân tạo”, nếu ko muốn nói là “giả tạo”. Chúng ko phải là những vấn đề nảy sinh từ những thiên hướng và hành vi tự nhiên của những đứa trẻ, mà là được “chế tạo” ra để làm công cụ cho việc truyền tải những điều mà người lớn muốn trẻ em tiếp thu. Chúng ko hề có hoặc có rất ít sự gắn kết đối với những trải nghiệm thực tế mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày. Một phần lớn trong số chúng là những câu hỏi mà nếu như ko bị bắt buộc phải đến trường thì rất có thể đứa trẻ đó sẽ ko bao giờ bắt gặp.

Ko khó gì để thấy rằng hệ thống trường học hiện tại ko phải là một môi trường tốt để cho những đứa trẻ có thể bắt gặp các vấn đề một cách tự nhiên. Trong đa số các lớp học, trẻ em hầu như chỉ ngồi im một chỗ và ko được làm gì khác ngoài việc nghe giảng, chép bài và trả lời câu hỏi của giáo viên. Nội dung và thời điểm các môn học đều được định sẵn mà ko hề có tham khảo một chút nào đến mong muốn của từng đứa trẻ. Điều đó có nghĩa là những thiên hướng và hành vi tự nhiên của một đứa trẻ, ngoài những thứ phục vụ cho việc học trên lớp, hầu như ko có cơ hội thể hiện và được chấp nhận trong trường học. Khi đó đương nhiên đứa trẻ ấy cũng sẽ khó có thể bắt gặp những vấn đề mà nó thực sự có hứng thú.

Nếu như chỉ có vậy, thì những câu hỏi trong trường học, tuy có thể là vô bổ, nhưng vẫn còn là vô hại, vì những thiên hướng tự nhiên của một đứa trẻ sẽ tự biết loại bỏ những gì nó ko thấy có hứng thú và tập trung sự chú ý vào những thứ còn lại. Vấn đề lớn nhất của giáo dục trường học là việc những đứa trẻ ko được để cho tự do lựa chọn việc có suy nghĩ tìm cách giải quyết những câu hỏi được đặt ra cho chúng hay ko, mà những vấn đề ấy được áp đặt lên đầu chúng thông qua những công cụ như điểm số hay sự đánh giá từ giáo viên và cha mẹ.

Trong một môi trường như vậy, hứng thú của những đứa trẻ sẽ ko còn nằm trực tiếp ở những câu hỏi được đưa ra nữa, mà nằm ở việc đáp ứng những tiêu chuẩn và đòi hỏi từ người lớn. Việc giải quyết các vấn đề và trả lời các câu hỏi sẽ chỉ còn là một trong những công cụ để đạt được những điểm 10, để được thầy cô khen ngợi, để ko bị cha mẹ mắng mỏ. Nói cách khác, bài toán mà thầy đưa ra là chuyện của thầy, còn bài toán của em là làm sao để ko bị thầy cho ăn điểm xấu.

Và một cách hết sức tự nhiên, khi con đường thẳng là suy nghĩ giải quyết vấn đề có vẻ như quá gập ghềnh khó khăn, thì những đứa trẻ sẽ lựa chọn những con đường khác nhẹ nhàng hơn để đến cùng một cái đích là điểm số. Rất có thể trong những con đường ấy sẽ ko hề tồn tại sự suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo mà hệ thống giáo dục luôn mong muốn diễn ra, bởi vì bản thân việc giải quyết vấn đề ko phải là mục tiêu thực sự. Trái ngược lại với điều đó, chẳng có một ai lại nghĩ đến chuyện “gian lận thi cử” khi tự mình tìm cách học nấu một món ăn mới hay học chơi một nhạc cụ mới hay học nói một ngôn ngữ mới cả.

Hẳn nhiên, những điều trên ko có nghĩa là chúng ta nên phá bỏ hệ thống trường học và để mặc cho những đứa trẻ tự phát triển. Số lượng và chất lượng những kích thích mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội xung quanh, và do vậy thường sẽ mang tính hạn chế và cục bộ nếu ko có sự can thiệp có chủ ý. Nhiệm vụ của trường học là cung cấp một môi trường mà trong đó trí não của những đứa trẻ sẽ được kích thích nhiều hơn, rộng hơn và cân bằng hơn so với những sự kích thích mà chúng nhận được ngoài đời, và để cho chúng tự mình tìm ra từ đó những vấn đề mà chúng có hứng thú.

Nhiệm vụ của trường học còn là đảm bảo rằng việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi những đứa trẻ phải tự mình quan sát, tìm tòi, suy nghĩ cũng như sáng tạo, và cung cấp cho chúng những thông tin, công cụ và chỉ dẫn cần thiết và vừa đủ để làm được điều đó. Một đứa trẻ nếu như ko nhận được sự giúp đỡ thích hợp khi đứng trước một vấn đề quá khó sẽ có khả năng bỏ cuộc và đánh mất hứng thú. Nhưng nếu sự giúp đỡ vượt quá mức cần thiết thì đứa trẻ cũng sẽ ko còn cơ hội sử dụng trí não của riêng mình để tự tìm ra lời giải, và do đó việc giải quyết vấn đề sẽ mất đi phần lớn giá trị giáo dục. Nói cách khác, trường học cần phải là vườn ươm trí não đúng nghĩa, chứ ko phải là đấu trường hoang dại hay cái lò nuôi gà công nghiệp.

Tìm tòi học hỏi và suy nghĩ tìm cách giải quyết các vấn đề là những hành vi tự nhiên, nếu ko muốn nói là cần thiết phải có, của mọi con người. Việc biến những đứa trẻ từ những cái hố chân không bám lấy và hút vào đủ mọi loại tri thức thành những em học sinh chán chường và đôi khi căm ghét việc học phải nói là một thành tựu đòi hỏi công sức ko hề nhỏ của cả một hệ thống giáo dục sai lầm. Chừng nào trường học vẫn còn đâm đầu vào việc đơn thuần truyền tải những điều người lớn muốn trẻ em tiếp thu một cách cưỡng ép, và đánh giá các em thuần túy bằng khả năng ghi nhớ kiến thức và trả lời các câu hỏi nhân tạo, thì việc thờ ơ và gian lận trong giáo dục sẽ vẫn còn là điều phổ biến.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi là

Tôi tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa xã hội, hay ít ra là có tư tưởng thiên về chủ nghĩa xã hội. Lý do ban đầu tôi trở nên “màu đỏ” có lẽ là vì kết quả của sự “nhồi sọ”, “tẩy não” qua 12 năm học “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”. Nhưng đến thời điểm này, sau khi đã tiếp xúc với một số luồng suy nghĩ và thông tin khác nhau, tôi có thể khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi đã tự mình lựa chọn, nếu không phải là với tư cách một triết lý rõ ràng, thì ít ra cũng là với tư cách một niềm tin và mơ ước. Trong bài này tôi xin trình bày một số suy nghĩ lặt vặt của bản thân mới nảy ra trong thời gian gần đây. Bài viết chủ yếu nhằm mục đích viết suy nghĩ thành lời, chứ không phải nhằm tranh luận hay chứng minh điều gì cả.


1. Chủ nghĩa xã hội và thư viện

Vài tháng trước, trong một lần đi chơi với bạn bè, tôi có tình cờ bắt gặp một “thư viện cộng đồng” trong một khu mua sắm tại Nhật Bản. Đó là nơi những người dân trong vùng đã tự nguyện đem những cuốn sách của mình góp lại và tạo nên một phòng đọc sách tự do. Ở đó tất cả mọi người đều có thể đến để góp sách, đọc sách và mượn sách. Tôi cũng không để ý thấy có ai làm nhiệm vụ quản lý cả. Khi nghe thầy giáo người Nhật của tôi giới thiệu như vậy, tôi đã buột miệng nói rằng, “đây chính là chủ nghĩa xã hội”, và thầy tôi cũng tán thành mà nói rằng “đúng là nó rất có tính xã hội”. Nó cũng làm cho tôi nhớ đến phòng đọc mở do những đồng chí tôi quen thời sinh viên xây dựng và vận hành tại địa chỉ 39 Lý Thường Kiệt (Hà Nội), dành cho những người có hứng thú với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và chính trị nói chung.

Chuyển sang một câu chuyện khác, gần đây tôi cũng lại tình cờ xem một chương trình truyền hình trên VTV về một ngôi làng nào đó ở Việt Nam mà người dân và nhất là học sinh lập nên đội tự nguyện làm vệ sinh môi trường làng, với một lý do rất đơn giản: “làng chúng tôi thì chúng tôi quét”. Không ai trả công cho họ, và cũng không ai bắt ép hay quản lý họ cả. Nó cũng giống như nhóm tình nguyện viên thu nhặt rác quanh Hồ Gươm mà một thầy giáo người Nhật khác của tôi là thành viên thường xuyên. Họ làm việc đó đều đặn hàng tuần cho đến nay chắc ít nhất cũng đã 5 năm, thi thoảng còn rủ nhau cùng đi du lịch, và thành viên thì có từ trẻ con bé tí cho đến các cựu thanh niên xung phong đầu đã bạc tóc.

Trở lại đề tài chính, nếu nhìn theo tiêu chí “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, và giới hạn phạm vi chỉ trong lĩnh vực đọc sách ở câu chuyện đầu và vệ sinh môi trường ở câu chuyện sau, thì cả hai ví dụ đều có thể được xem là biểu hiện của chủ nghĩa xã hội. Trong ví dụ đầu, tất cả mọi người đều được tự do lựa chọn có góp sách hay không, góp bao nhiêu, góp sách gì (làm theo năng lực). Đồng thời tất cả mọi người đều có thể tự do đến đọc và mượn sách (hưởng theo nhu cầu). Trong ví dụ sau, ít ra ở trường hợp nhóm nhặt rác Hồ Gươm, mọi người cũng đều được tự do lựa chọn có tham gia không, tham gia đều đặn ở mức nào, và làm việc đến mức nào (làm theo năng lực). Trong khi đó, tất cả mọi người đều có thể được hưởng một môi trường sạch đẹp chung như nhau (hưởng theo nhu cầu).

Như vậy, khẩu hiệu quen thuộc của chủ nghĩa xã hội mà nhiều người chế giễu là phi hiện thực và “đã bị vứt vào sọt rác từ lâu”, trong thực tế ở một hình thức này hay hình thức khác, và ở một phạm vi hạn hẹp hơn, vẫn đang diễn ra hàng ngày. Tất nhiên, điều đó không minh chứng cho việc một cộng đồng xã hội chủ nghĩa lý tưởng như nhiều người vẫn nghĩ tới có thể được xây dựng thành công ở thời điểm hiện tại. Nhưng ít nhất nó cho thấy chủ nghĩa xã hội, ở một dạng nhất định nào đó, không phải là điều bất khả thi về nguyên lý. Vậy điều gì đã dẫn đến thành công của những mô hình “chủ nghĩa xã hội” như trên?

Lý do trước hết rõ ràng nằm ở mức độ quan trọng của thành quả làm ra. Dù cho thư viện cộng đồng có biến mất hay đường làng với Hồ Gươm có không được quét dọn, thì mọi người cũng sẽ chỉ thấy bất tiện hay khó chịu, chứ cuộc sống về cơ bản không bị ảnh hưởng lớn. Ngược lại, nếu nền kinh tế của một xã hội ngưng sản xuất hay sản xuất không đủ đáp ứng những nhu cầu ăn mặc ở cơ bản của các thành viên thì sẽ là cả một thảm họa cho toàn xã hội đó. Bởi vậy, nếu suy nghĩ một cách bình thường chúng ta sẽ thấy việc để cho mọi người trong xã hội tự do quyết định có lao động hay không và lao động bao nhiêu, trong khi vẫn được nhận lại theo nhu cầu là một điều nguy hiểm và khó có thể duy trì được lâu dài.

Lý do tiếp theo nằm ở giá trị lao động mà mỗi người cảm thấy mình đang bỏ ra. Những cuốn sách được góp vào thư viện cộng đồng kia hầu hết là sách cũ. Thêm vào đó giá trị của một cuốn sách nằm chủ yếu ở thông tin chứa trong nó, chứ không phải nằm ở bản thân việc sở hữu cuốn sách. Và do đó đối với những người góp sách, việc cho đi cuốn sách không phải là một tổn thất đáng kể. Đối với nhóm nhặt rác, tôi không dám nói rằng sức lao động họ bỏ ra là nhỏ bé, nhưng họ chỉ làm một tuần một lần, trong một khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ. Nếu đem điều đó so với lượng lao động mỗi người trong xã hội hiện nay phải bỏ ra để có cơm ăn áo mặc hàng ngày thì rõ ràng có một khoảng cách rất lớn. (Chú ý rằng “lượng lao động” ở đây mang tính tương đối: một nhà tỷ phú có thể dễ dàng bỏ ra hàng trăm triệu đồng để làm từ thiện, nhưng một người nông dân bình thường thì một vài triệu đã là to.)

Hai điều trên dẫn chúng ta đến một tiền đề đã được Karl Marx đưa ra làm điều kiện dẫn đến chủ nghĩa xã hội: ấy là khi lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ cao, lượng của cải sản xuất trên lượng lao động bỏ ra trở nên rất lớn, khiến cho con người có thể vô cùng dễ dàng đáp ứng được nhu cầu hàng ngày của bản thân, và lao động trở thành một nhu cầu chứ không phải một gánh nặng bắt buộc nữa. Tuy rằng tại hầu như tất cả các cộng đồng người hiện nay điều này vẫn chưa thể đạt được, nhưng nếu nhìn vào lịch sử, có thể thấy rằng năng suất lao động của con người nhìn chung là tăng liên tục và gần đây có xu hướng tăng nhanh hơn. Chúng ta ngày càng làm việc ít giờ hơn, trong khi đó lại hưởng một mặt bằng mức sống ngày càng cao hơn. Cá nhân tôi tin rằng việc đạt tới ngưỡng năng suất cần thiết cho việc hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội ở quy mô quốc gia là điều không sớm thì muộn.

Chúng ta đứng ở thời điểm hiện tại, trong môi trường hiện tại, quen với năng suất lao động hiện tại của con người, thì có thể thấy rằng việc “làm cho thằng khác ăn” là một cái gì đó rất ngớ ngẩn và phi lý. Nhưng chúng ta cũng đồng thời đang làm điều tương tự, tuy rằng ở một quy mô nhỏ hơn nhiều, thông qua các hoạt động từ thiện và tình nguyện. Nếu như tưởng tượng rằng trong tương lai, khi mỗi người chỉ cần bỏ ra một lượng lao động tương tự như một buổi đi thu gom rác mỗi tuần hiện nay là đã có thể tạo ra đủ của cải cho bản thân trong vòng một tháng, thì có lẽ chủ nghĩa xã hội sẽ mang màu sắc hiện thực hơn nhiều. Điều đó hoàn toàn có thể trở thành hiện thực nếu như xu hướng tự động hóa vẫn tiếp diễn như ngày nay.

2. Chủ nghĩa xã hội và ích kỷ

Hiện tại, có một lý do rất thường được đưa ra để phủ nhận tính thực tế của chủ nghĩa xã hội, ấy là “bản năng ích kỷ của con người” sẽ khiến cho mọi người lợi dụng khẩu hiệu kia, chỉ hưởng mà không làm, dẫn đến hệ thống sụp đổ. Tôi xin hỏi ngược lại, vậy tại sao tất cả mọi người trong xã hội hiện nay đều không cùng đồng loạt cướp bóc chém giết lẫn nhau? Tại sao con người chúng ta lại tạo nên xã hội, luật pháp, nhà nước? Tại sao lại vẫn có những thư viện cộng đồng mở và những nhóm tình nguyện viên như tôi và chúng ta đều đã thấy?

Bản thân tôi là người hoàn toàn ủng hộ việc theo đuổi lợi ích cá nhân, nếu không muốn nói là tôi nghĩ mỗi người nên đặt lợi ích bản thân lên hàng đầu. Nhưng có hai điểm những người đưa ra lý luận trên dường như chưa tính đến. Thứ nhất, lợi ích của con người mang tính chủ quan, và không phải bao giờ cũng là vật chất hay hữu hình. Thứ hai, nếu một người nhận ra rằng việc tự nguyện đóng góp theo lý tưởng của chủ nghĩa xã hội đem lại lợi ích lớn nhất cho mình, thì khi đó chủ nghĩa xã hội và sự ích kỷ của cá nhân không còn mâu thuẫn nữa.

Đối với điểm thứ nhất, ngay từ xa xưa giá trị mà lao động của con người đem lại đã không chỉ thuần túy ở của cải vật chất làm ra. Việc cảm thấy rằng mình đang làm một việc gì đó có ý nghĩa, rằng mình đang làm thay đổi được thế giới, rằng mình đang trưởng thành và phát triển trong tư cách một con người,… tự bản thân nó đã mang lại một lợi ích về mặt tinh thần, mà đối với nhiều người là rất quan trọng. Đó là chưa kể, con người là một sinh vật có tính xã hội, và do đó việc cảm thấy rằng mình đang được xã hội chấp nhận, rằng mình đang là một phần của một cái gì đó to lớn hơn, cũng là một nguồn động lực lớn không thể bỏ qua.

Đối với những người xây dựng thư viện và thu nhặt rác nói trên, chỉ cần nhu cầu sống cơ bản không bị ảnh hưởng, thì tự bản thân những việc họ làm đã đủ mang lại lợi ích mà không cần bất cứ sự đền bù nào khác. Lợi ích ấy cụ thể ấy là gì thì tùy thuộc vào giá trị quan của mỗi người. Vì vậy, có thể nói rằng những người làm từ thiện hay tình nguyện đều làm vậy đơn giản vì họ cảm thấy những việc ấy đem lại cho họ lợi ích lớn hơn công sức bỏ ra. Nói cách khác, họ đều “ích kỷ” cả. Tương tự như vậy, trong một xã hội tương lai, khi mà lượng của cải vật chất làm ra trở nên thừa thãi, thời gian lao động cần thiết trở nên ngắn ngủi, và việc hưởng thụ đơn thuần trở nên nhàm chán, thì nhu cầu của con người cũng sẽ chuyển dần từ lợi ích vật chất sang những lợi ích tinh thần khác mà lao động mang lại. Khi đó, chính sự “ích kỷ” sẽ thúc đẩy con người làm việc dù không được trả công, chỉ để đi tìm sự thỏa mãn trong lao động và sản phẩm mình làm ra.

Về điểm thứ hai, tất cả các xã hội loài người từ trước đến nay đều tồn tại và hoạt động dựa trên tiền đề là mỗi cá nhân sẽ cảm thấy việc sống trong xã hội và tuân thủ các nguyên tắc thành văn lẫn bất thành văn của xã hội đem lại lợi ích to lớn cho bản thân hơn việc sống đơn độc một mình hay có các hành vi vụ lợi phản xã hội như giết người, trộm cướp, lừa đảo,… Dù đôi khi những quy định và nguyên tắc của xã hội khiến chúng ta cảm thấy mất tự do, và vẫn có một tỷ lệ những cá nhân phản xã hội, nhưng nhìn chung tuyệt đại đa số con người vẫn muốn hy sinh một phần tự do cá nhân để duy trì một xã hội hợp tác và ổn định ở mức độ nhất định hơn là sống trong một sự hỗn loạn mạnh ai người nấy tự lo lấy thân.

Điều tương tự chắc chắn cũng sẽ diễn ra nếu như chủ nghĩa xã hội minh chứng được lợi ích to lớn mà nó đem lại đối với đại đa số các cá nhân trong xã hội so với những mô hình đang có. Lợi ích to lớn đó sẽ không đến từ lượng của cải vật chất được làm ra, mà chủ yếu đến từ lợi ích về mặt tinh thần, khi con người cảm thấy được kết nối với lao động, thấy được niềm vui trong lao động và sáng tạo, thay vì bị buộc phải lao động chỉ để sinh tồn. Khi đó, mọi người sẽ vì cái “ích kỷ” của bản thân mà cùng hợp tác để xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội như chúng ta đang bảo vệ xã hội hiện nay vậy.

3. Chủ nghĩa xã hội và tôi

Đến đây, tôi lại tự hỏi rằng “thế rốt cuộc chủ nghĩa xã hội nó là cái gì vậy?”. Nói một cách thẳng thắn, cá nhân tôi vẫn chưa có một mô hình kinh tế và xã hội cụ thể của chủ nghĩa xã hội. Những gì tôi đọc về chủ nghĩa xã hội và Karl Marx vẫn còn rất ít, phần lớn vì tôi không đọc nổi những triết lý quá trừu tượng và khó hiểu mà không phải do mình viết ra. Tôi cũng không quan tâm đến chuyện chủ nghĩa xã hội nó phải là như thế nào mới “đúng kiểu”, phải là như thế nào mới là “Mác Lê”. Đối với tôi, chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng mà tôi hướng đến, tương tự như việc những người tu theo đạo Phật hướng tới một sự “giải thoát” mà bản thân họ cũng chẳng ai biết được cụ thể nó như thế nào cho đến khi họ đạt được. Những tư tưởng và lý thuyết về chủ nghĩa xã hội của những người đi trước, trong đó có Karl Marx, chỉ đóng vai trò là nguồn cảm hứng và nguồn ý tưởng tham khảo mà thôi.

Trong cái lý tưởng còn mù mờ mà tôi hướng đến ấy, có một số điểm mà tôi đã xác định khá rõ ràng. Chủ nghĩa xã hội trong tôi, trước hết, là một môi trường mà trong đó từng người lao động đều làm chủ, và cảm thấy được làm chủ, đối với lao động của bản thân. Điều đó rất có thể sẽ được thực hiện thông qua một mô hình hợp tác xã, trong đó sở hữu đối với mọi tư liệu sản xuất là sở hữu chung của mọi thành viên trong hợp tác xã, và các thành viên hợp tác với nhau dựa trên các mối quan hệ dân chủ, bình đẳng và tự nguyện. Điều này là hoàn toàn có thể thực hiện được ngay tại thời điểm hiện tại, với minh chứng là các hợp tác xã sản xuất, nhà ở và tiêu dùng đang phát triển và thành công trên thế giới, ở Việt Nam và nhất là ở cả những nước kinh tế phát triển cao như Mỹ hay Nhật Bản.

Bên cạnh việc làm chủ theo nghĩa đen đối với tư liệu sản xuất, còn là cảm giác được làm chủ về mặt tinh thần đối với lao động và sản phẩm của bản thân. Sự “làm chủ” ở đây còn có thể được hiểu là sự “có trách nhiệm”, cũng đồng nghĩa với một cảm giác “tự do”, hay còn có thể nói là “được là chính mình”. Người lao động thực sự cảm thấy mình đã tự do lựa chọn công việc mình đang làm, cảm thấy niềm vui và động lực tự nhiên xuất phát từ bản thân nội dung công việc, thay vì cảm thấy bị bắt buộc phải lao động để kiếm sống và tìm kiếm động lực từ lợi ích vật chất mà lao động mang lại. Chỉ khi đó thì con người mới thực sự dành mọi thứ mình có cho lao động, và tiềm năng lẫn sức sáng tạo của họ mới được sử dụng ở mức cao nhất.

Tất nhiên, điều này không phải là không thể đạt được ở mức độ nhất định trong một môi trường làm việc phi xã hội chủ nghĩa, và thực tế là ngay đến giới chủ tư bản ở các nước Âu Mỹ gần đây cũng phải công nhận và tìm cách khích lệ “tính làm chủ” (ownership) trong những người làm thuê cho mình. Nhưng thực tế là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dựa trên mối quan hệ chủ tư bản – người làm thuê, tự nó về nguyên lý đã không khuyến khích và nhiều khi là làm thôi chụt đi tinh thần làm chủ của những người lao động. Đơn giản vì vai trò của họ trong phần lớn trường hợp thường không có hoặc có rất ít yếu tố “làm chủ”, cả về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, ra quyết định sản xuất lẫn phân chia thành quả lao động.

Chủ nghĩa xã hội trong tôi, thêm vào đó, còn là một môi trường mà từng người sẽ có được tự do, và thậm chí là nhận được sự hỗ trợ, để thử nghiệm và sáng tạo trong phạm vi vẫn đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng. Những thử nghiệm và sáng tạo ấy có thể liên quan trực tiếp đến công việc sản xuất của mình, mà cũng có thể hoàn toàn là mang tính cá nhân. Đó có thể đơn giản chỉ là thử sức trong một công việc mới, thử nghiệm một sản phẩm hay phương pháp mới, mà cũng có thể những thí nghiệm khoa học hay sáng tạo nghệ thuật,… Sự “tự do” tôi nói đến ở đây không chỉ là theo nghĩa không bị ai ngăn cấm, mà còn theo nghĩa là có được cơ hội và công cụ để thực hiện, thay vì để cho tiềm năng bị chôn vùi bởi sự thiếu thốn về vật chất hoặc thời gian.

Tuy nhiên trên hết, có lẽ cái tôi hướng đến nhất trong suy nghĩ của mình về chủ nghĩa xã hội, ấy là một môi trường mà trong đó con người được cảm thấy “hoàn toàn”, được “là chính mình” kể cả trong lao động sản xuất lẫn khi tái sản xuất sức lao động, mà có lẽ theo lời Karl Marx thì đó là sự “giải phóng lực lượng sản xuất”. Cá nhân tôi hiểu từ “giải phóng” đó theo một nghĩa trừu tượng và thuộc về mặt tinh thần nhiều hơn là về mặt vật chất thực tế. Tất cả những lý thuyết khác chỉ là con đường để dẫn đến sự “giải phóng” ấy. Và vì một lý do nào đó, tôi cảm thấy rằng những lý thuyết của Marx về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản dường như là con đường đúng đắn nhất. Tôi sẽ, hay ít ra là có mơ ước sẽ sử dụng những lý thuyết ấy, và cả những lý thuyết khác nếu cần, để tìm cách xây dựng nên một “chủ nghĩa xã hội” của riêng mình.

Cái tôi xây dựng nên ấy có được gọi là chủ nghĩa xã hội hay không, là điều tôi không quan tâm lắm.

Phụ huynh Sudbury: Giao cho con có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Trong phần trước, tôi đã viết rằng điều mà “mô hình giáo dục Sudbury” coi trọng nhất chính là việc nhìn nhận trẻ em như những con người hoàn toàn độc lập với cha mẹ. Điều đó cũng có nghĩa là “tin tưởng 100% vào trẻ em, giao toàn bộ quyền lựa chọn cho trẻ em”.

Chẳng hạn như ở trường Tokyo Sudbury School, dù cho có là một đứa bé còn chưa đi học tiểu học, thì ý chí của riêng em đó vẫn được tôn trọng trên hết. Việc nhận học sinh không phải là phía trường chấp nhận việc “phụ huynh đưa con vào trường”, mà là chấp nhận việc “học sinh lựa chọn vào trường Sudbury”.

Thêm vào đó, cả sau khi đã vào trường, do trong mô hình Sudbury không có giờ học, nên các em học sinh chỉ làm những việc mà mình thích. Các em không hề nhận được sự chỉ dẫn “làm cái này đi” hay “nên làm cái này hơn” từ bất cứ ai cả. Việc học sinh làm gì trong khoảng thời gian ở trường là hoàn toàn dựa trên ý chí tự do của các em.

Và một vấn đề luôn luôn nảy sinh ở đây là “giao toàn quyền quyết định cho con liệu có ổn không?”.

Quả thực đã là trẻ con thì thường cũng có chỗ chưa được chín chắn. Trẻ con kinh nghiệm và tri thức đều ít, và có lẽ cũng không giỏi trong việc nhìn nhận một cách khách quan và quyết định một cách tỉnh táo. Nhìn những đứa trẻ “thiếu tin cậy” ấy, thì chuyện các bậc cha mẹ lo lắng rằng  “giao hết cho con có ổn không?” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, dù cho có là như vậy đi nữa thì tôi vẫn muốn tin vào con trẻ. Tôi cho rằng trẻ con có đầy đủ năng lực đánh giá và tự lựa chọn con đường đi cho riêng mình ngang bằng với người lớn.

Vì sao tôi lại có thể nghĩ như vậy? Đó là vì tôi nghĩ rằng chính việc chúng ta “đối xử như trẻ con” lại đang “giam cầm trẻ con trong cái vỏ bọc trẻ con”.

Tôi cho rằng trẻ con vốn ngay từ khi còn bé đã có năng lực phán đoán sự việc và lựa chọn cuộc đời mình. Cái đang cướp đi năng lực ấy, cái đang kìm hãm trẻ con trong hình ảnh “thiếu tin cậy” ấy chính là cách mà người lớn xung quanh đối xử với chúng “như trẻ con”.

Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được điều đó nếu nhìn vào những cô nhi ở Nhật Bản sau chiến tranh, hay những em bé ở các nước đang phát triển. Khi bị cuộc sống thúc bách, trẻ con có thể phát huy được năng lực vô cùng lớn, để sinh tồn một cách kiên cường với một sức sống còn vượt xa cả người lớn.

Lại nói, nếu nhìn vào những vận động viên đã đạt thành tích từ tuổi mười mấy như tuyển thủ golf Ishikawa Ryo, tuyển thủ trượt băng Asada Mao, hay tuyển thủ tennis Nishikori Kei, thì có thể rằng họ hoàn toàn không cho thấy một ấn tượng trẻ con nào. Vì sao mà phát ngôn của họ lại có thể chững chạc như người lớn đến vậy? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ ở trong một thế giới cạnh tranh nghiêm túc và do đó chẳng bao giờ được (bị) những người lớn xung quanh “đối xử như trẻ con” cả.

Hãy thử nghĩ về Nhật Bản ngày xưa mà xem. Trẻ em vừa tốt nghiệp tiểu học là đã lập tức ra xã hội làm việc. Ngay từ cái tuổi đầu mười những đứa trẻ ấy đã hoàn toàn đủ tư cách được coi là những thành viên có ích của xã hội.

Thêm vào đó, lễ “nguyên phục” (lễ trưởng thành) ngày xưa thường được tiến hành vào “khoảng từ 11 đến 17 tuổi”. Tuổi kết hôn đối với nam là từ 17 đến 20 tuổi, nữ là từ 13 đến 15 tuổi. Thế tức là trong xã hội ngày xưa chỉ cần trên 10 tuổi là được đối xử như người lớn rồi.

Nhưng đến ngày nay thì sao? Tuổi tương ứng với lễ nguyên phục là 20 tuổi. Cho đến khi ra khỏi trường đại học và bắt đầu đi làm, thì ngay đến cả một thanh niên râu ria xồm xoàm cũng vẫn bị xã hội “đối xử như trẻ con”.

Vì vậy mà tôi mới nghĩ rằng, cái đang cướp đi năng lực tiềm tàng của trẻ em chẳng phải chính là cha mẹ và trường học hay sao? Chúng ta đang dùng những lý lẽ như “vì các con vẫn còn là trẻ con”, “trẻ con thì im lặng mà nghe lời đi”, “cái đấy đợi đến khi nào con lớn rồi hẵng nghĩ tới” để mà cướp đoạt đi từ các con “năng lực tự mình suy nghĩ và lựa chọn”. Ấy thế nhưng mà trong lúc đó trẻ con vẫn bị người lớn nói những câu như “giới trẻ bây giờ chẳng biết tự lập là gì”, “toàn chỉ biết đợi lệnh chứ chẳng chịu tự suy nghĩ gì cả”. Đối với những đứa trẻ, thì quả đó là một điều bất công.

Ở trường Tokyo Sudbury School, học sinh không bao giờ bị những người xung quanh bắt ép phải học hành cả. Trường cũng chẳng có giờ học thể dục hay âm nhạc gì hết. Các em học sinh được có “tự do” làm những điều mình thích.

Thế nhưng, cái “tự do” ấy rất khác với cái “tự do” mà các em học sinh ở những trường học bình thường có được trong giờ nghỉ giải lao. Cái “tự do” ấy là cái “tự do” có kèm theo “trách nhiệm”, cũng tức là thứ “tự do” của người lớn.

Trong trường Sudbury không hề có giờ học toán hay quốc ngữ. Do đó, những học sinh không học thì dù có lớn đến đâu cũng không biết tính toán hay đọc viết.

Nếu các em cảm thấy “không biết tính toán thì không được”, thì các em có thể bắt đầu học toán. Nếu các em cảm thấy “muốn đọc sách”, thì các em có thể bắt đầu học đọc học viết. Đó là cách suy nghĩ theo phong cách Sudbury. Nó có nghĩa là các em phải tự suy nghĩ xem việc học có thực sự cần thiết cho mình hay không.

Nếu chỉ nhìn qua thì việc “làm gì cũng được” có vẻ như là đang nuông chiều các em, nhưng thực tế nhìn từ góc độ mỗi em đều phải tự chịu hoàn toàn trách nhiệm về tương lai của bản thân, thì có thể nói rằng đó là một phương pháp giáo dục hết sức “nghiêm khắc”.

Và cá nhân tôi muốn tin tưởng vào năng lực mà con tôi sẽ có được trong một môi trường như vậy. Đó chính là “năng lực phân biệt” được đâu là cái cần thiết cho mình và đâu là không, là “năng lực chịu trách nhiệm” đối với những lựa chọn dựa trên sự đánh giá của bản thân.

Trong xã hội ngày càng biến chuyển mạnh mẽ sắp tới, tôi tin rằng chính cái “năng lực tự mình đánh giá và quyết định mọi việc” ấy mới là điều quan trọng nhất.

Việc trẻ em tự lựa chọn con đường đời cho riêng mình dựa trên sự đánh giá của bản thân sẽ dẫn tới một tương lai như thế nào cho các em, ấy là điều chẳng ai có thể biết được.

Thế nhưng, một điều có thể chắc chắn nói được, đó là dù tương lai đang chờ đợi các em có là như thế nào chăng nữa, thì đó cũng là thứ mà chính bản thân các em đã lựa chọn. Và những đứa trẻ của chúng ta chắc chắn sẽ giang rộng vai đón nhận trách nhiệm đối với kết quả của sự lựa chọn ấy.

Từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, tôi đã tự mình đưa ra một quyết tâm. Ấy là việc ngừng suy nghĩ xem “cái gì mới là hạnh phúc cho con”. Và kèm theo đó là việc giao toàn bộ cuộc đời của con cho bản thân con. Làm như vậy, chắc chắn con sẽ có thể xây dựng nên được một “năng lực tự mình đánh giá, tự mình quyết định cuộc đời” và trưởng thành đến mức khiến cho bản thân tôi cũng không nhận ra được nữa.

Có dũng khí để mà chấp nhận cho con có một cuộc sống tự lập. Tôi nghĩ đó chính là “mô hình giáo dục Sudbury”.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【子どもにまかせて大丈夫?】

「サドベリー教育」が最も大切にしていることは、子どもを親とは独立した一個の人間として認めることであるということを前回書きました。それはつまり「子どもを100%信頼し、すべての選択を子どもの判断に委ねる」ということです。

たとえば東京サドベリースクールに入学するときは、たとえ小学校に上がる前の子でも、その子の意志がなにより尊重されます。親は子を「サドベリースクールに入れる」のではなく、「子がサドベリースクールを選んで入る」のを承認する形になるのです。 

また、スクールに通うようになってからも、サドベリーには授業がないので、子どもたちは自分の好きなことだけをします。誰からも「こうしなさい」とか「こうした方がいいよ」と指図されることはありません。学校で何をして過ごすかは、すべて子どもたちの自由意志に委ねられます。

そして、ここで常に問題になるのが、「子どもにすべての選択を任せて大丈夫か」ということです。

確かに子どもには未熟なところがあります。経験や知識も少ないし、客観的な視野に立って物事を冷静に判断することは苦手かもしれません。そんな“頼りない”子どもに、「すべての選択を任せて大丈夫?」と心配になる親の気持ちはよく分かります。

でも、それでも、私はあえて子どもの力を信じたいと思います。彼らには大人と同等の判断力があり、自分の人生を自分で選び取る能力があると思います。

なぜそう思えるのか。それは、大人が「子ども扱いすること」が、かえって「子どもを子どもの中に閉じ込めている」のではないかと考えるからです。

子どもは本来、小さなうちから物事を判断し自分の人生を選び取ってく力を有していると思います。その力を奪い、子どもをいつまでも“頼りない”存在にしているのは、周囲にいる大人たちの「子ども扱い」なのではないでしょうか。

たとえば、戦後の日本の孤児たちや、途上国の子どもたちを見ていると分かります。必要に迫られると、子どもはとてつもない能力を発揮し、大人顔負けの生命力で、逞しく生き抜いていくものです。

また、ゴルフの石川遼やスケートの浅田真央、テニスの錦織圭など、10代で活躍した選手たちを見ていると、まったく子供っぽい印象がありません。なぜ彼らの発言は大人びていて、立派なのでしょう。それはたぶん周囲にいる大人が勝負の世界に生きる彼らを「子ども扱い」しないからだと思います。

そして、もうひとつ「子どもを子どもの中に閉じ込めている」ものが現代にはあります。それは学校教育です。学校が子どもを必要以上に「子ども扱い」するために、卒業して社会に出るまで、子どもは大人になることを自らやめてしまうのです。

昔の日本を考えてみてください。子どもは小学校を出たら、すぐに社会に出て働いていました。10代で彼らは十分に実社会で役立つ即戦力になっていたのです。

また、かつての「元服」の年齢は「11歳から17歳の間」だったそうです。結婚する年齢も、平安時代は男性で17歳~20歳ぐらい、女性で13歳~15歳ぐらい。10歳を超えれば、昔の社会ではすっかり大人扱いされていたわけです。

それが今ではどうでしょう。元服にあたる成人式は20歳。大学を出て会社に就職するまでは、ヒゲの生えた立派な青年でも社会は「子ども扱い」をします。

私は思います。子どもの潜在能力を奪っているのは、むしろ親や学校なのではないかと。「あなたはまだ子どもだから」「子どもは黙って聞いていなさい」「それは大人になってから考えることよ」などと言い、子どもから「自ら考え、選択する力」を奪っているのです。それでいて、「今の子は自立していない」「指示待ちばかりで自分で考える力がない」などと言われるのですから、子どもにとってはいい迷惑です。

東京サドベリースクールでは、周囲から強制的に勉強させられることはありません。体育や音楽の授業もありません。子どもには好きなことをやっていい「自由」が与えられます。

でも、この「自由」は一般の学校にある休み時間の「自由」とは違います。それは自らに「責任」が伴う大人としての「自由」なのです。

スクールには算数や国語の授業がありません。なので、勉強しない子はいくつになっても計算や読み書きができません。

「計算できないのはいやだ」と思えば算数を勉強すればいい。「本が読みたい」と思えば読み書きを勉強すればいい。これがサドベリー流の考え方です。勉強が自分にとって必要かどうかは自分で考えなさいということです。

一見「何をやってもいい」と甘やかしているように見えますが、自分の将来に完全に責任を負わなければいけないという点において、非常に「厳しい」教育といえるのです。

このような環境で子どもに身につく力を、私は信じたいと思います。それは自分にとって必要なものとそうでないものを「見分ける力」であり、自分の判断において選んだことに対して「責任を持つ力」です。

変化の激しいこれからの社会においては、まさにこのような「自分で物事を判断し、決めていける力」がものを言うようになってくると思います。

自分の判断において子どもが自ら選択し、歩んでいった人生の先に、どのような未来が待っているのか、それは誰にも分かりません。

でも、ひとつ言えるのは、どんな未来が待っていようと、それは子ども自身が選び取ったものだということ。その結果に対して、子どもは胸を張って責任を取ることでしょう。

息子が東京サドベリースクールに通うようになって、私はひとつの決断をしました。それは「子どもにとって何が幸せか」を考えることをやめること。そして、息子の人生をそっくり彼に手渡してあげること。そうすることで、子どもは見違えるほど、「自分で判断」し、「自らの人生を決めていく力」を獲得していくはずです。

勇気をもって、子どもの独立した人生を認めること、それが「サドベリー教育」だと私は思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Chuyện học Tin của tôi

Tôi thích dùng máy tính từ nhỏ, nếu như việc “chơi game trên máy tính” cũng được xếp là “dùng máy tính”. Khi còn bé, nhà không có máy tính, tôi rất thích được đến nhà các bác để được chơi ké trên máy tính của anh chị họ. Đến khi StarCraft bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam một thời gian thì nhà tôi mới mua cái máy tính đầu tiên. Ban đầu đối với tôi máy tính chỉ là đồ chơi, nhưng đến khi vào cấp 2, tôi bắt đầu biết đến và học lập trình Pascal. Cho đến khi vào cấp 3, tôi đã thuộc vào loại “giỏi trên trung bình” trong lớp về khoản lập trình, dẫn đến việc tréo ngoe là dù đỗ và học lớp chuyên Toán nhưng tôi lại đi học đội tuyển Tin để thi học sinh giỏi (dù chẳng được giải gì), trong khi đó điểm Toán thì luôn bét lớp. Và đến thời điểm hiện tại, sau 5 năm làm kỹ sư hệ thống thông tin tại Nhật, có thể nói trong nhiều mặt máy tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi.

Nói đến học lập trình Pascal, tôi còn nhớ rằng cấp 2 có một thời gian tôi học thêm Pascal dưới trướng anh họ cùng với một hai người bạn cùng lớp. Họ là những người rất giỏi Toán ở trên lớp, và cái sự giỏi đó lan sang của việc lập trình. Những lúc anh tôi giải thích một thuật toán hay kiến thức lập trình nào đó, trong khi tôi còn đang ù ù cạc cạc thì các bạn ấy đã có thể nhanh chóng nắm bắt được, và điều đó nhiều khi khiến cho tôi không khỏi nản chí. Có những thứ tôi không hiểu nhưng không hỏi, hay thậm chí nói dối rằng mình đã hiểu, phần vì sợ bị lộ là dốt, phần vì không muốn làm mất thời gian của anh và các bạn.

Điều đó tiếp diễn cho đến khi tôi bắt đầu được học một thầy một trò. Khi đó, cái sự dốt của tôi không còn chỗ nào để mà giấu, mà cũng chẳng còn ai để mà phải giấu nữa, và tôi cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Từ đó tôi rút ra rằng: trong một số trường hợp, việc trộn lẫn cùng lúc các học sinh có năng lực và tốc độ tiếp thu khác nhau sẽ vô tình tạo nên một hiệu ứng tâm lý đè bẹp và đẩy những học sinh yếu kém hơn “ra ngoài vòng”, mặc dù bản thân các em có thể không phải không có tiềm năng. Chúng ta hay nói với các em rằng “đừng sợ dốt/đừng giấu dốt”, nhưng chúng ta đâu có phải đứng vào vị trí các em để mà hứng chịu áp lực tinh thần từ bên ngoài lẫn bên trong, cả có thực lẫn tưởng tượng? Những lời nói như vậy chẳng khác nào một ông tướng ngồi trong lô cốt an toàn vừa đẩy binh lính ra trước làn đạn vừa hô hào “đừng sợ chết”. Cái chúng ta nên làm là để ý quan sát tâm lý cá nhân từng em, và tạo nên môi trường để mỗi em có thể cảm thấy yên tâm mà phát triển theo nhịp độ và thang bậc của riêng mình, dù có thể nó không vừa ý chúng ta, bởi một cái cây lớn chậm không có nghĩa là nó không thể lớn lên thật cao trong tương lai.

Một điều đáng nói nữa về việc học máy tính của tôi, đó là tôi chỉ bắt đầu thực sự làm chủ máy tính khi được có một cái máy của riêng mình. Trong suốt mấy năm đầu, một chiếc máy tính vừa là công cụ để mẹ tôi soạn bài giảng lên lớp, vừa là đồ chơi và công cụ học của tôi và thằng em trai. Máy hỏng đồng nghĩa với mẹ tôi không thể làm việc được. Điều này dẫn đến việc tôi không dám tò mò nghịch dại, mà thường phải đưa ra cửa hàng máy tính mỗi khi có vấn đề. Và kết quả là sau mấy năm dùng máy tính tôi vẫn hầu như mù tịt không biết gì ngoài trò chơi điện tử và Pascal. Tuy nhiên, một khi tôi đã có máy riêng, thì tình hình hoàn toàn khác hẳn. Tôi có thể tự mình ngồi mày mò thử nghiệm, tự format ổ rồi tự cài được Windows, dù không hề được bất cứ ai dạy cả. Sở dĩ tôi dám làm, là vì tôi biết rằng máy có hỏng thì cũng sẽ không gây ra vấn đề gì mà tôi không thể hay không dám nhận trách nhiệm, tức là tôi cảm thấy “an toàn” để có thể mày mò khám phá.

Từ những điều trên, có thể thấy rằng việc tạo môi trường an toàn cho việc khám phá, thử nghiệm cũng như thất bại là một tiền đề quan trọng của việc học, hay ít ra là tự học. Sự an toàn mà tôi nói đến ở đây không phải chỉ là an toàn thân thể, tuy rằng cái đó cũng rất quan trọng, mà là an toàn về mặt tinh thần. Đó là việc được che chở khỏi những áp lực, đe dọa, sợ hãi, và nói chung là bất cứ yếu tố tâm lý tiêu cực nào có thể ngăn cản việc học hỏi. Đáng tiếc rằng những yếu tố tâm lý tiêu cực này lại xuất hiện rất nhiều trong môi trường học đường ngày nay, mà đại diện tiêu biểu nhất là việc đánh giá học sinh bằng điểm số và hạnh kiểm, cũng như sự cai quản bằng quyền lực từ phía nhà trường và giáo viên.

Quay trở lại chuyện học Tin, có thể nói rằng hầu hết các thành tựu mà tôi đạt được trên con đường học và sử dụng Tin học đều gắn liền với việc tự mày mò. Trong đó phải kể đến việc những năm đầu cấp 3 tôi đã tự mình lập trình trò chơi bằng Pascal. Sự việc bắt đầu khi anh họ tôi giao cho tôi đề bài “viết trò dò mìn”. Khi đó tôi đã hăm hở viết một chương trình mô phỏng lại trò dò mìn của Windows bằng đồ họa dòng lệnh và các ký tự ASCII. Tuy rằng sản phẩm của tôi bị gạt đi vì cái anh tôi muốn tôi làm lại là một thuật toán để giải trò dò mìn, nhưng niềm hứng thú với việc tự mình viết nên một trò chơi, dù là viết lại ý tưởng có sẵn, thì đã được nhen nhóm. Từ đó, chỉ bằng một cuốn sách Pascal cơ bản có giải thích qua về thư viện đồ họa và một bài báo PC World, tôi đã viết lại ba trò chơi Line, Minesweeper (dò mìn) và Tetris (xếp hình) mà không cần sự chỉ dẫn thêm của bất cứ ai.

Đến tận bây giờ, sau khi đã trải qua hơn 15 năm lập trình, với đủ các chương trình phần mềm lớn nhỏ, từ những đề bài được giao trên lớp cho đến hệ thống cho hàng trăm người dùng của công ty, ba trò chơi bằng Pascal đó vẫn là một trong những thành tựu mà tôi tự hào nhất. Sau khi hoàn thành, tôi đã chơi đi chơi lại những trò chơi ấy đến cả tháng liền, mặc dù bản thân chúng không có gì mới mẻ hay đặc sắc hơn so với các phiên bản có sẵn trong máy hay băng điện tử. Thậm chí lúc đi phỏng vấn tuyển dụng ở hai công ty Nhật, trong đó một công ty tôi đang làm hiện nay, và một công ty khác chuyên về lập trình phần mềm, khi được hỏi về kinh nghiệm hay thành quả chuyên môn đã có trong quá khứ, thứ hiện ra trong đầu tôi trước tiên vẫn là ba trò chơi kia, và tôi đã không do dự gì mà trình bày một cách hết sức sôi nổi và tự hào về việc một đứa nhóc cấp 3 đã lập trình ra mấy trò ghẻ như thế nào (và kết quả là tôi đã đỗ cả hai nơi).

Tất nhiên, những trò chơi ấy rất đơn giản, và thậm chí có phần trẻ con. Nhưng điểm quan trọng ở đây là không hề có ai yêu cầu tôi viết ra chúng, và hoàn toàn cũng chẳng có ai đốc thúc và chỉ bảo tôi trong quá trình làm cả. Do vậy, có thể nói một cách hơi khoa trương rằng chúng là hiện thân của ý chí tự do và năng lực tự xoay sở của cá nhân tôi. Tôi biết chắc chắn rằng thành tựu ấy là do tự tay mình làm ra, và hoàn toàn có thể lặp lại lần nữa, chứ không phải là một thành tựu do vận may, càng chẳng phải là do một ai đó khác chỉ thị hay làm hộ. Nói cách khác, đó là một sự tự hào đối với chính mình, chứ không phải về những thứ mơ hồ xa xôi ngoài tầm tay như truyền thống dân tộc, chiến công cha anh, hay thành tựu của những bạn A bạn B nào ở tận Âu tận Mỹ.

Niềm tự hào đó có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên sự tự tin và đôi khi là táo bạo (táo tợn?) trong nhân cách của tôi ngày nay. Nó cũng là thứ mà tôi nghĩ rằng nhiều trẻ em hiện nay cần nhưng lại đang thiếu trong quá trình trưởng thành của mình. Phần đông các em đến trường vì bố mẹ bảo thế. Phần đông các em học hành vì muốn làm vui lòng bố mẹ thầy cô, hay nói toẹt ra là vì sợ điểm xấu. Những điều các em làm trên lớp đều đã được lên kế hoạch và quyết định từ trước bởi người lớn. Nội dung của những điều đó nhiều khi là rất vô nghĩa nhìn từ quan điểm của các em. Và những chuyện như bị trừ điểm chỉ vì làm bài “không đúng ý thầy/cô”, dù cho kết quả cuối cùng vẫn đúng hoặc không thể dễ dàng phán định đúng sai một cách khách quan, là chuyện vẫn còn phổ biến.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu có được bao nhiêu em sẽ cảm thấy thực sự tự hào về những thành tích học tập của bản thân, như tôi đã tự hào về ba trò chơi của mình? Có ai lại tự hào về một việc mình bị bắt buộc phải làm, hay bản thân không hiểu rõ ý nghĩa, hay bị buộc phải làm theo tiêu chuẩn của người khác cho đến từng chi tiết nhỏ nhặt mà không được một chút tự do nào? Nếu như trẻ em không có được một khoảng không tự do đủ lớn, cả về vật chất lẫn tinh thần, để có được những thành tựu do bản thân tự nhận trách nhiệm và tự mày mò thực hiện theo cách của mình, thì các em lấy đâu ra sự tự hào về chính mình để mà có tự tin trong cuộc sống? Nếu như các em không có chỗ nào khác để thể hiện nhân cách tự do của bản thân, thì việc các em đem “cái tôi” ấy thể hiện ra ở những hành vi mà chúng ta vẫn hay chụp mũ là “sự nổi loạn của tuổi dậy thì” cũng đâu có gì là khó hiểu?

Tất nhiên, nếu như nhân cách của một đứa trẻ đủ mạnh mẽ, thì dù trong hoàn cảnh bó buộc thiếu tự do hay phải chịu áp lực và đe dọa, em đó vẫn có thể mạnh dạn học hỏi, đồng thời tự nhận trách nhiệm về cuộc đời mình, qua đó có được tự do về tư tưởng, để từ đấy tìm thấy được những khoảnh khắc tự hào cho bản thân. Thế nhưng đó là chuyện của những đứa trẻ, không phải chuyện của người lớn chúng ta. Với tư cách là những người có nghĩa vụ nuôi nấng và giáo dục các em, thì chúng ta nên tự mình suy nghĩ tìm cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự trưởng thành của các em, hay là chỉ đơn thuần trông đợi nhân cách còn non yếu của các em có thể làm được một việc mà đến nhiều người lớn vẫn còn chưa làm được?

Phụ huynh Sudbury: Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bài viết lần này không phải do tôi viết ra, mà là một bài phát biểu của một người cha Nhật Bản mà tôi tình cờ đọc được. Con của ông được cho đi học tại trường Tokyo Sudbury School, một ngôi trường phỏng theo mô hình của trường Sudbury Valley School ở Mỹ. Mô hình Sudbury là mô hình trường học mà trong đó không có sự phân vai giữa “giáo viên” và “học sinh”, cũng như không tồn tại khái niệm “thời khóa biểu” hay “giảng dạy”. Thay vào đó, học sinh được toàn quyền tự do quyết định hoạt động của bản thân, cũng như việc điều hành cả ngôi trường theo nguyên tắc biểu quyết số đông. Việc tiếp xúc với một mô hình giáo dục mới mẻ như vậy đã khiến cho người cha này suy nghĩ nhiều hơn về các bậc cha mẹ và việc giáo dục con cái của họ. Tôi xin được dịch bài viết ra và giới thiệu ở đây để mọi người tham khảo.


Bản dịch tiếng Việt

“Cha mẹ là gì?”. Đó là câu hỏi chưa từng rời khỏi trí óc của tôi kể từ khi con trai bắt đầu đi học tại Tokyo Sudbury School. Nhờ được gặp gỡ với ngôi trường đặc biệt không có giáo viên mà cũng không có giờ học này, mà tôi mới có dịp đối mặt với vấn đề mang tính căn bản “giáo dục là gì”, và từ đó suy nghĩ đến câu hỏi “cha mẹ là gì”.

Đúng thế, tôi nghĩ rằng câu hỏi “giáo dục là gì” có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi “cha mẹ là gì”. Bởi vì cha mẹ là những người có nghĩa vụ cung cấp giáo dục cho con cái.

Thế nhưng thành thực phải nói rằng tôi không hiểu rõ về cái khái niệm “cha mẹ” đó. Lý do là vì khác với khi lựa chọn trường học hay công việc, việc làm cha của tôi bây giờ không phải là kết quả của một sự quyết tâm nào cả. Tôi không tự nói với mình rằng “ok, làm cha thôi” để rồi tự mình đưa ra quyết định làm cha. Nói một cách thành thực, thì cảm tưởng của tôi là kết hôn xong, vợ có thai, đẻ con ra, và đùng một cái, chẳng hiểu từ bao giờ tôi đã thành cha rồi.

Người ta hay nói “con cái là món quà trời ban tặng”. Cái từ “ban tặng” đó thật vi diệu, vì rõ ràng việc sinh đẻ là một sự kiện lớn lao mà chúng ta không thể dễ dàng đi tới thành công được chỉ bằng sức của bản thân mình. Và như ý nghĩa mà từ “ban tặng” đó ngầm thể hiện, việc sinh con ra và trở thành cha mẹ luôn có một cái gì đó mang tính thụ động.

Tuy nhiên, chỉ cần thử nghĩ qua thì chúng ta có thể thấy việc trở thành cha mẹ cũng đồng nghĩa với việc khoác lên mình một trách nhiệm trọng đại. Có thể nó không đến mức như việc mẫu thân Mạnh Tử ba lần đổi nhà, nhưng ảnh hưởng của cha mẹ lên con cái, trong đó bao gồm cả môi trường gia đình, là rất lớn đến mức không gì có thể đo đếm được. Đó là vì cha mẹ có vai trò trực tiếp và sâu sắc đối với thời thơ ấu, thời kỳ rất quan trọng hình thành nên nhân cách và thậm chí là có thể thay đổi cả cuộc đời của con, tức là thay đổi cuộc đời của cả một con người.

Từng lời nói và hành động của cha mẹ, từng cái giơ tay từng cái bước chân, đều có thể quyết định đến nhân cách của con cái. Một lời nói vu vơ cũng có thể tạo nên nỗi ám ảnh cả đời cho con. Thế nhưng thật xấu hổ khi phải nói rằng, tôi đã không hề chuẩn bị sẵn quyết tâm gánh vác trách nhiệm trọng đại đó trước khi trở thành cha. Đối với tôi, quả thực là bỗng một ngày chợt nhận ra thì đã thấy mình làm cha rồi.

Cơ mà chẳng phải hầu hết các bậc cha mẹ trên thế gian này đều đại khái giống như tôi sao? Hầu như tôi chưa từng nghe thấy có trường hợp nào quyết chí làm cha mẹ, dành ra hàng năm trời nghiên cứu “cha mẹ học”, chuẩn bị chu đáo tuyệt vời rồi mới làm cha mẹ thật cả.

Thực tế là hầu hết mọi người, ít nhất là đối với đứa con đầu tiên, đều trở thành cha mẹ khi chưa hề có tí kinh nghiệm nuôi con nào. Và như vậy thì chẳng phải có thể nói rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều là gà mờ trong việc nuôi con” hay sao? Nghĩ đến đây, tôi lại không khỏi phải thêm một lần nữa giật mình trước khoảng cách quá xa giữa “gánh nặng trách nhiệm” và “sự thiếu thốn quyết tâm” của các bậc cha mẹ, tất nhiên trong đó bao gồm cả chính tôi.

Mười mấy năm trời từ khi con trai tôi sinh ra cho đến nay, tôi đã làm cha trong tình trạng “lái xe không bằng cấp”. Tôi đã làm cha một cách “đại khái”, chẳng hề được ai dạy, cũng chẳng hề học hành một cách nghiêm túc, mà chỉ nhìn ngó bắt chước xung quanh.

Tôi đã từng có lần xẵng giọng “làm cái gì thế!” khi con làm đổ nước khỏi cốc, trong khi bản thân chỉ buông một lời xin lỗi gọn lỏn cho qua chuyện khi chính mình làm đổ. Tôi cũng đã từng có lần suýt giơ tay lên đánh con theo phản xạ khi con sờ vào đồ trưng bày trong cửa hàng, trong khi bản thân biết rằng con chỉ đưa tay sờ vì một sự tò mò thuần túy.

Mỗi khi mắng con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có lý do chính đáng để mà mắng mỏ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn thuần mắng mỏ dựa trên tâm trạng hay cảm xúc của bản thân. Mỗi khi dạy con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có tri thức chuyên môn để mà dạy dỗ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn giản lợi dụng sự thiếu hiểu biết của con cái và lên mặt dạy dỗ bằng kinh nghiệm sống lâu hơn đôi chút của bản thân.

Khi suy nghĩ về “giáo dục” sau khi con trai bắt đầu đến trường Sudbury, một câu hỏi khác lại hiện ra trong trí não của tôi: “Gượm đã, đừng nói tới giáo dục vội, mà nghĩ xem bản thân mình giờ đang thế nào?”. Liệu rằng tôi có đủ tư cách làm cha để mà khệnh khạng đưa ra những lời dạy dỗ con cái hay không? Khi nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy chiếc mặt nạ “bậc phụ mẫu” rơi ra, làm lộ nguyên hình hài một con người non kém của bản thân mình. Câu hỏi “cha mẹ là gì”, không gì khác, cũng chính là câu hỏi “bản thân mình là ai”.

Từ đó, nhận thức của tôi đã được thay đổi. Giờ đây tôi tin rằng giữa cha mẹ và con cái không phải là một mối “quan hệ trên dưới”, mà là “quan hệ giữa những con người ngang hàng”. Tất nhiên, trẻ con thiếu hiểu biết, nhưng người lớn cũng chẳng hiểu biết nhiều hơn bao nhiêu. Nếu đã cùng là những người còn thiếu hiểu biết, thì chẳng phải cha mẹ và con cái nên nói chuyện với nhau một cách bình đẳng hay sao? Đúng vậy, “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Đó chính là điều thay đổi lớn xuất hiện trong tôi sau khi con trai đến trường Sudbury.

Tuy nhiên, đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Thực ra vẫn còn một lý do nữa cho việc tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Lý do đó, tôi sẽ để cho lần phát biểu sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【すべての親は子育ての素人だ】

「親とは何か?」息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、 私の頭からはこの問いがずっと離れなくなりました。先生も授業もないという特殊な学校 との出会いによって、「教育とは何か」という根本的な問題に直面し、そこから「親とは何 か」について考えるようになったのです。

そう、「教育とは何か」という問いは、「親とは何か」という問いとつながっているように 思います。なぜなら親は子に教育を授ける義務を負うからです。

ところが困ったことに、その“親”というものが私にはよく分からない。学校や仕事を選択 したときと違って、自ら決意して親になったわけではないからです。「よし、親になるぞ」と 決心して親になったわけではない。結婚して、妻が妊娠し、出産を経て、いつのまにか、 なんとなく、気がついたら親になっていたというのが正直な感想です。

よく「子どもは神様からの授かり物」といいますね。「授かる」とはよくいったもので、出 産は自分たちの力だけではいかんともしがたい運命的なイベント。この“授かる”という言 葉に象徴されるように、子が生まれて親になるのには、どこか受動的なイメージがつき まといます。

とはいえ、考えてみれば、親になるということはたいへん重大な責任を背負うこと。 孟母三遷の教えではないけれど、家庭環境を含めて、親が子に与える影響は計り知れ ないほど大きいのです。子どもという一個の人間の、一生を左右してしまうかもしれない 人格形成の大事な時期に、親は深く関わることになります。

親の行動や言動の一つひとつ、一挙手一投足が、子の人格を左右する。何気なく 言った一言が、一生その子のトラウマになることだってあるかもしれません。ところが 困ったことに、そのような重大な責任を背負う覚悟をもって自分は親になったわけでは ない。なんとなく気がついたら、親になってしまっていたというのが実感です。

でも、世間の大方の親御さんも、だいたい私と同じではないでしょうか。「親になるぞ」 と決意して、何年間も「親学」を学び、完璧に準備をしてから親になったという話はあまり 聞きません。

そもそもほとんどの人が、少なくとも長男長女の場合は、育児未経験のままで親にな るわけで、そういう意味で「すべての親は子育ての素人だ」といえるのではないでしょう か。親が負う「責任の重大さ」と「自覚の足りなさ」、このギャップの大きさには(自戒の 念を込めて)あらためて驚かされます。

息子が生まれて十数年、ここまで私は“無免許運転”のまま親をやってきました。誰 から教わったわけでもなく、真剣に学んだわけでもなく、見よう見まねで“なんとなく” “テキトー”に、親をやってきたのです。

子どもがコップの水をこぼしたとき「何やってんだ!」と声を荒げたことがありました。 自分がこぼしたときには「ごめん」の一語で済ませるくせに。子どもが店の商品に触った ときには、思わず手をあげそうになったこともあります。子どもが純粋な好奇心から手を 伸ばしたことを知っていたのに。

子を叱るとき、親は必ずしも正統な理由があって叱るわけではありません。単なる気分、 感情で言葉を発するときもあります。子に何かを教えるとき、必ずしも専門的な知識が あって教えるわけではありません。子が知らないことをいいことに、ちょっとだけ長く生き た自分が偉そうに言っているだけのこともあります。

息子がサドベリーに通うようになって「教育」のことを考えたとき、待てよ、教育について 考える前に「自分はどうなんだ?」という問いが頭に浮かびました。親として偉そうなこと を言う資格が自分にあるのかと。そう考えたとき、親の仮面がはがれ落ち、未熟な自分 の姿がそこに見えてきたのです。「親とは何か」という問いかけは、まさに「自分とは何か」 という問いかけに他なりません。

それで私の意識は変わりました。親子は「上下の関係」ではなく、人間として「横並びの 関係」であるべきだと思うようになったのです。子はもちろん未熟ですが、親もまた未熟 です。未熟者同士、親と子は対等に語り合える関係であるべきではないのかと。そう、 「親と子は対等の関係であるべきだ」。これが、子どもが東京サドベリースクールに通う ようになって私に現れた、大きな変化のひとつです。

でも、これだけではありません。実はもうひとつ、「親子の関係が対等であるべき」と 考える理由があるのです。それについては次回、またこの場をお借りして話したいと 思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Bàn về “nhân cách”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trong những đánh giá về một con người, đôi khi chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của từ “nhân cách”. Chúng ta hay nói rằng nhân cách một con người là “lớn lao”, “cao cả”, “vĩ đại”, hay ngược lại là “thấp kém”, “nhỏ bé”, “xấu xa”. Chúng ta có thể cảm nhận lờ mờ được rằng dường như “nhân cách” là một thứ gì đó đại diện cho giá trị của một con người ở một khía cạnh nào đó. Vậy thực sự thì nhân cách là gì? Và nếu nhân cách là một thứ được dùng để đánh giá giá trị của chúng ta, thì chúng ta có thể làm gì để nâng cao giá trị đó? Bài viết dưới đây sẽ tập trung vào việc làm rõ khái niệm “nhân cách”, đồng thời nêu ra một số suy nghĩ mà cá nhân tôi cho rằng mọi người chúng ta nên có đối với khái niệm này.


1. Nhân cách là gì?

Nhân cách là tập hợp những nhận thức, hiểu biết, nguyên tắc, niềm tin của một con người về chính bản thân mình, và còn có thể được gọi là “tư cách làm người” hay “tính người” của người đó. Nhân cách là thứ trả lời cho những câu hỏi như “tôi là ai”, “tôi đến từ đâu”, “tôi là người thế nào”, “tôi mong muốn cái gì”, “tôi coi trọng cái gì”, “tôi tin vào cái gì”,… Tùy vào mức độ phát triển mà nội dung của nhân cách có thể rất phong phú:từ việc ý thức được mình là một “con người”, hay ít nhất là một “thực thể” tách biệt khỏi thế giới xung quanh, cho đến hiểu biết về những nhu cầu, sở thích, ham muốn, tính cách của bản thân, và cuối cùng là những nội dung trừu tượng như niềm tin, triết lý, đạo đức,… Ví dụ về từng khía cạnh riêng lẻ của nhân cách có thể là “tôi là người Việt Nam”, “tôi thích đồ ngọt”, “tôi rất giỏi ngoại ngữ”, “tôi muốn làm nghề dạy học”, “tôi coi trọng tự do tư tưởng”, “tôi tin rằng lợi ích cá nhân nên được đặt lên trên hết”,…

Nhân cách là nguồn gốc và căn cứ sâu xa nhất của tất cả những đánh giá và quyết định có ý thức của con người. Tất cả mọi đánh giá và quyết định có ý thức của chúng ta đều có thể được truy gốc về một hay nhiều mặt của nhân cách mỗi cá nhân. Những tiêu chuẩn và tiền đề “khách quan” mà người ta thường nói tới như đạo đức, truyền thống, tín ngưỡng, pháp luật, hay cả khoa học cũng đều chỉ là một trong những yếu tố được sử dụng trong quá trình đưa ra đánh giá hay quyết định. Trong quá trình đó, nhân cách mới là thứ có tiếng nói quyết định. Trong tâm trí của chúng ta, Trái Đất hình tròn không phải vì khoa học bảo thế, mà vì chúng ta lựa chọn việc tin vào điều đó, hoặc tin vào khoa học. Chúng ta không giết người không phải vì pháp luật cấm đoán, mà vì chúng ta không muốn phạm pháp, hoặc không muốn trở thành kẻ thù của xã hội. Một khi nhân cách đã đưa ra quyết định trái ngược thì bao nhiêu đạo đức khoa học hay pháp luật quy tắc cũng đều là đồ bỏ.

Cần chú ý rằng nhân cách khác với tính cách. Tính cách là một phần của nhân cách và bao gồm các khuynh hướng của cảm xúc, thái độ và hành động được thể hiện ra ngoài như xuề xòa, vui vẻ, hài hước, nóng nảy, khiêm tốn,… Trong cùng một con người có thể có rất nhiều tính cách đa dạng, đôi khi là trái ngược, cùng tồn tại. Việc tính cách nào được thể hiện ra bên ngoài sẽ tùy thuộc vào hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể. Một người có thể nhũn nhặn với cấp trên nhưng lại nóng nảy với cấp dưới, nhút nhát ở chỗ đông người nhưng sôi nổi khi bàn luận riêng. Những biểu hiện bên ngoài đó tuy có thể rất khác nhau nhưng đều xuất phát từ một nhân cách trung tâm ở bên trong, và sự khác biệt nảy sinh tùy vào hoàn cảnh là điều hoàn toàn bình thường và hợp lý. Có thể nói rằng, tính cách là những vai diễn, người đời là khán giả, và người diễn viên đằng sau những vai diễn đó, người quyết định sẽ đóng vai nào trong hoàn cảnh nào, chính là nhân cách.

Nhân cách cũng khác với tri thức hay hiểu biết thông thường. “Trái Đất (có thể) hình tròn” hay “Trái Đất (có thể) hình đĩa” đơn thuần chỉ là những giả thuyết hay ý tưởng, tương đương với một mệnh đề logic chưa được chứng minh, và bản thân chúng không mang thông tin gì cả. Khi chúng ta gắn cho những giả thuyết đó một giá trị chân lý đúng/sai dựa trên một số tiền đề nhất định thì chúng ta có thông tin, hay còn gọi là tri thức, tương đương với một khẳng định logic. Và cuối cùng, nhân cách của một người sẽ là thứ quyết định việc người đó tin hay không tin, tin ở mức độ nào, với điều kiện gì, gắn những giá trị và ý nghĩa gì, và sử dụng như thế nào đối với một thông tin hay tri thức nhất định. Nói cách khác, nhân cách là quan tòa tối cao, là bộ lọc cuối cùng đối với mọi tri thức mà chúng ta tiếp nhận, đồng thời cũng là một trong những mắt xích kết nối tri thức với những suy nghĩ, hành động và quyết định cụ thể của chúng ta.

2. Nhân cách tự thân và tiêm nhiễm

Đối với một con người sống trong một xã hội, nhân cách có thể được chia làm hai bộ phận: nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm. Nhân cách tự thân là nhân cách được hình thành một cách tự nhiên và tự do, không có sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài. Trái lại, nhân cách tiêm nhiễm là nhân cách có nguồn gốc từ bên ngoài, hoặc phải phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. Có thể nói rằng, nhân cách tự thân thể hiện cho con người thực của chúng ta, còn nhân cách tiêm nhiễm thường thể hiện cho một hình ảnh về chúng ta trong mắt người khác, hoặc hình ảnh một người khác bên trong chúng ta. Do đến từ bên ngoài hoặc phụ thuộc vào bên ngoài, nên nhân cách tiêm nhiễm thường mang lại cảm giác “xa xôi”, “bất biến”, “hiển nhiên”, “không thể chống lại”. Trong khi đó, nhân cách tự thân là thứ chúng ta cảm thấy hoàn toàn có thể và có quyền thêm bớt hay thay đổi theo ý muốn, tuy rằng có thay đổi và thay đổi được hay không lại là chuyện khác.

Nhân cách tiêm nhiễm thường thấy nhất là những chuẩn mực văn hóa và đạo đức của xã hội mà chúng ta đang sống. Chẳng hạn, trong xã hội Việt Nam từ trước đến nay người phụ nữ thường được (bị) giáo dục từ bé rằng cần phải hiền thục đảm đang, gánh vác việc nhà, hy sinh vì gia đình,… Rất nhiều người trong số đó khi lớn lên coi điều này là một chân lý hiển nhiên, hoặc ít nhất cảm thấy một áp lực vô hình hướng bản thân tới hình ảnh lý tưởng ấy. Một ví dụ khác thường thấy là những sự định hướng và kỳ vọng mang tính áp đặt của cha mẹ đối với con cái trong các vấn đề sự nghiệp, tình cảm, gia đình,… Ngược lại, nhân cách tự thân là những sở thích và mơ ước cá nhân, là những triết lý chúng ta tự khám phá ra, là những nguyên tắc cốt lõi không thể khoan nhượng, là sự tự hào đối với những thành tựu của bản thân,… Nhân cách tự thân là tất cả những điều gì khiến cho chúng ta cảm thấy mình đang được là chính mình.

Khái niệm nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm hoàn toàn chỉ mang tính tương đối và tượng trưng chứ không hề có một định nghĩa hay ranh giới chính xác. Và do đó một người đứng bên ngoài quan sát khó có thể kết luận rõ ràng rằng một hành vi hay một suy nghĩ nào đó của một cá nhân là biểu hiện của nhân cách tự thân hay nhân cách tiêm nhiễm. Điều đó phải do tự bản thân cá nhân đó quyết định lấy. Trong thực tế, một người hoàn toàn có thể đinh ninh rằng một điều gì đó là một phần nhân cách thực của bản thân, cho đến khi nhận ra rằng đó chỉ là một thứ bị tiêm nhiễm vào từ bên ngoài một cách vô thức. Nói cách khác, cùng một suy nghĩ, cùng một hành động, cùng một quyết định có thể là xuất phát từ nhân cách tự thân hoặc từ nhân cách tiêm nhiễm, tùy vào nội tâm của cá nhân chủ thể.

3. Sự xâm nhập nhân cách

Sự xâm nhập của nhân cách tiêm nhiễm có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau. Ban đầu, một người có thể bị buộc phải chấp nhận sống bằng một nhân cách nào đó do sự đe dọa về thể xác, lợi ích hoặc áp lực tinh thần. Khi đó, nhân cách tiêm nhiễm sẽ chỉ nắm được quyền điều khiển nếu sự đe dọa hay áp lực được duy trì. Ở mức độ này, có thể nói rằng nhân cách đến từ bên ngoài kia chưa hề được chấp nhận làm một phần nhân cách bên trong của cá nhân, mà chỉ được tuân thủ một cách máy móc. Khi đó nhân cách tự thân thường sẽ thể hiện sự kháng cự thông qua một cảm giác bị ép buộc, dẫn tới sự giận dữ, và có thể là sự chống đối công khai. Tất nhiên sự chống đối sẽ khó xảy ra nếu như nhân cách tự thân quá yếu ớt hay áp lực bên ngoài quá lớn. Bước đầu tiên của quá trình tiêm nhiễm này có thể dễ dàng thấy được khi trẻ em bị cha mẹ uốn nắn dạy dỗ một cách cưỡng ép, hay khi một thành viên xã hội bị kiểm soát và điều khiển bởi vũ lực của tầng lớp thống trị.

Khi nhân cách tiêm nhiễm đã xâm nhập sâu hơn, nó sẽ bám rễ bên trong tâm trí của cá nhân. Lúc này cá nhân đã chấp nhận, hay đúng hơn là bỏ cuộc, ở mức độ nào đó đối với sự xâm lấn từ bên ngoài. Nhân cách tiêm nhiễm sẽ có thể tự xuất hiện và giành quyền kiểm soát nội tâm mỗi khi cá nhân có suy nghĩ gì đó trái ngược với nó, mà không cần đến sự đe dọa hay áp lực có thực từ bên ngoài. Cá nhân bắt đầu mất dần ý thức về nguồn gốc ngoại lai của nhân cách tiêm nhiễm và chấp nhận nó như một phần khó có thể tách rời của nhân cách bản thân, dù muốn dù không. Sự khuất phục trước uy quyền, ví dụ như uy quyền của cha mẹ hay thần quyền, là một ví dụ điển hình của nhân cách tiêm nhiễm ở mức độ này. Có rất nhiều người dù đã có gia đình riêng và hoàn toàn tự lập về tài chính, nhưng vẫn không thể chống lại được lời cha mẹ, và sự khuất phục của hàng bao thế hệ người Châu Âu trước quyền uy của Giáo hội La Mã là một sự thật lịch sử khó ai có thể phủ nhận.

Nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể xâm nhập vào nội tâm một con người theo những con đường “ôn hòa” hơn. Một người có thể tự mình tạo nên nhân cách tiêm nhiễm bằng việc du nhập các tư tưởng bên ngoài một cách vô tội vạ mà không có sự chọn lọc kiểm tra bằng suy nghĩ của bản thân. Những hạn chế về môi trường, thông tin, hay đơn giản là sự may rủi cũng có thể khiến cho cá nhân tự mình chấp nhận một cách vô thức rằng một niềm tin hay cách suy nghĩ nào đó là điều hiển nhiên không thể thay đổi, chỉ bởi vì cá nhân không có cơ hội được tiếp xúc với những lựa chọn khác. Khi đó, những niềm tin hay cách suy nghĩ ấy có thể trở thành một phần vĩnh viễn của nhân cách nếu như bản thân cá nhân ngừng việc suy nghĩ, đặt câu hỏi, và tìm kiếm những khả năng mới. Chẳng hạn, một người sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ thường xuyên sử dụng vũ lực và áp đặt suy nghĩ lên con cái, rất có thể sẽ tin rằng đó là cách duy nhất để dạy dỗ những đứa con của chính mình, mặc dù có thể điều đó mâu thuẫn với tình yêu người đó dành cho con.

Sự xâm lấn và mở rộng của nhân cách tiêm nhiễm thường đi cùng với sự thu hẹp và phai nhạt của nhân cách tự thân. Cũng giống như kỹ năng hay tri thức, nhân cách chỉ có thể được duy trì và phát triển nếu như thường xuyên được sử dụng và bồi bổ. Việc thường xuyên sử dụng nhân cách tự thân sẽ giúp cho cá nhân dần hiểu rõ được bản thân, biết cách tin tưởng và sử dụng sở thích, tính cách và trực giác của bản thân, đồng thời chỉnh sửa, mở rộng nhân cách bản thân cho phù hợp với nhu cầu thực tế lẫn thiên hướng có sẵn. Ngược lại, nếu bị đè nén và phủ nhận, nhất là từ khi còn nhỏ, thì nhân cách tự thân sẽ không có cơ hội phát triển và do đó sẽ rất hoang sơ, rời rạc vô tổ chức, và quan trọng nhất là không được tin tưởng. Biểu hiện rõ ràng nhất của điều này là việc không biết mình thích gì, muốn gì, không có khả năng hay không dám tự suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm, mà luôn tìm kiếm sự chỉ dẫn từ một quyền lực nào đó như cha mẹ, giáo viên, cấp trên, thần quyền,… Đối với một người mà nhân cách tự thân đã bị xóa bỏ hoàn toàn, thì có lẽ đến cả việc tự chọn vị kem mình thích cũng là điều khó khăn.

Tất nhiên, không phải mọi tư tưởng có nguồn gốc ngoại lai đều trở thành nhân cách tiêm nhiễm. Khi tiếp xúc với một tư tưởng từ bên ngoài mà cá nhân cảm thấy hợp lý, tức là cảm thấy phù hợp với nhân cách tự thân của cá nhân tại thời điểm đó, cá nhân có thể ngay lập tức kết nối tư tưởng mới ấy vào thành một phần của nhân cách tự thân. Hay nói đúng hơn, khi đó đã diễn ra một quá trình sáng tạo: cá nhân lấy những tư tưởng nguyên liệu từ bên ngoài và sáng tạo lại thành một mảnh ghép mới của mô hình thế giới thu nhỏ bên trong trí não (tham khảo bài viết trước). Điều này cũng tương tự với việc các thầy cô giáo hay yêu cầu học sinh “biến kiến thức thành của mình” vậy. Điểm khác biệt của quá trình này so với sự du nhập vô tội vạ là do tư tưởng mới đã được diễn giải, kết nối và kiểm chứng bằng thế giới quan của chính mình, nên cá nhân có thể, và trong đa số trường hợp sẽ bảo vệ tư tưởng đó chỉ bằng năng lực và nhân cách tự thân (vd. “tôi thích nghĩ thế”), thay vì cảm thấy phải dựa dẫm vào những nguồn quyền lực và lý luận ở bên ngoài như “khoa học”, “thời trang”, “thuần phong mỹ tục”, “truyền thống đạo đức”, hay “cha mẹ bảo thế”.

4. Vai trò của nhân cách tự thân

Ở đây tôi không muốn nói rằng nhân cách tự thân là “tốt” và nhân cách tiêm nhiễm là “xấu”. Tuy nhiên, nhân cách tự thân có vai trò quan trọng đối với hạnh phúc của mỗi chúng ta, và việc để cho nhân cách tiêm nhiễm xâm lấn và chèn ép nhân cách tự thân có thể đem lại nhiều hậu quả không được mong muốn. Trước hết, vì “tôi hạnh phúc khi nào” cũng là một nội dung quan trọng của nhân cách, mà chỉ có nhân cách tự thân mới phản ánh đúng những quy luật cảm xúc tự nhiên của chính chúng ta, nên chỉ có nhân cách tự thân mới có thể chỉ ra cho chúng ta con đường để đi tới hạnh phúc thực sự và lâu bền cho bản thân. Mọi định nghĩa hạnh phúc mà nhân cách tiêm nhiễm mang lại, nếu không phải là sai lệch hoàn toàn, thì cùng lắm cũng chỉ có thể đem lại sự thỏa mãn một phần nào đó một số nhu cầu tâm lý nhất thời mà thôi.

Một điểm dễ thấy ở những người có nhân cách tự thân yếu ớt là họ thường sẽ ít cảm thấy có trách nhiệm với bản thân và thế giới xung quanh. Đó là vì trách nhiệm và tự do là hai mặt của cùng một đồng tiền. Nhân cách tiêm nhiễm thường là thứ chúng ta cảm thấy không có quyền hay không thể tự do lựa chọn. Mà đã không được tự do lựa chọn, thì chúng ta sẽ không thấy lựa chọn đó là “của mình”, hay nói cách khác chúng ta không cảm thấy có trách nhiệm với nó. Ngược lại, nhân cách tự thân là thứ chúng ta đã tự lựa chọn một cách có ý thức và có thể tự do thay đổi theo ý muốn. Chính điều này làm nên cảm giác trách nhiệm đối với lựa chọn của bản thân. Cảm giác trách nhiệm này là một yếu tố có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành công cũng như cảm giác thỏa mãn mang lại bởi các hoạt động của chúng ta trong thực tế cuộc sống.

Chú ý rằng, nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể tạo ra ở cá nhân một thứ có biểu hiện bề ngoài gần giống như tinh thần trách nhiệm, đó là sự sợ hãi. Điều này có thể thấy ở một số ví dụ như một đứa trẻ tỏ ra chăm chỉ học hành khi bị cha mẹ áp đặt định hướng vào một ngành nghề nào đó. Bên ngoài, đứa trẻ đó dường như đang thể hiện trách nhiệm đối với cuộc đời của chính mình, hoặc là đối với sự kỳ vọng của cha mẹ. Nhưng rất có thể bên trong nội tâm đứa trẻ đó, động lực thôi thúc hành vi học hành lại là nỗi sợ hãi đánh mất sự chấp nhận và tình cảm từ phía cha mẹ. Tương tự như vậy, một người phụ nữ cố gắng giữ vững hình ảnh hiền thục đảm đang rất có thể đơn giản là vì sợ hãi sự đánh giá từ xung quanh, chứ không phải vì một cảm giác trách nhiệm đối với vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội của bản thân.

Sự sợ hãi và cảm giác trách nhiệm có hai sự khác biệt chính. Thứ nhất, sự sợ hãi dẫn đến sự bị động, trong khi trách nhiệm tạo nên sự chủ động: một người có thể cố gắng đáp ứng tốt nhất mọi công việc được giao vì sợ hãi, nhưng chỉ có trách nhiệm thực sự mới khiến người đó tự mình suy nghĩ sáng tạo tìm cách cải thiện chất lượng công việc dù không được yêu cầu. Thứ hai, sự sợ hãi là động lực bên ngoài, trong khi trách nhiệm là động lực bên trong: khi tất cả các yếu tố bên ngoài gây nên sự sợ hãi đều biến mất, thì động lực còn sót lại chính là trách nhiệm thực sự. Chính vì sự khác biệt về bản chất này của động lực sản sinh bởi nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm, nên trong đại đa số trường hợp một người sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ không thể phát huy hết được năng lực tiềm tàng của bản thân, nhất là năng lực sáng tạo và tự chủ, so với khi người đó được sống bằng nhân cách thực của chính mình.

Một hệ quả tiêu cực khác của việc nhân cách tự thân yếu ớt là một cá nhân sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ để cho nội tâm của mình phụ thuộc nhiều vào tác động từ bên ngoài. Nói một cách đơn giản là người đó dễ mất phương hướng và bị dắt mũi bởi thế giới xung quanh. Một số ví dụ đơn giản cho điều này là việc chạy theo các xu hướng thời trang, tin theo tất cả các thông tin có gắn mác “khoa học”, hay dễ bị dụ dỗ bởi những lời đường mật kiểu “bán hàng đa cấp”. Trong các ví dụ này, một bộ phận nào đó của nhân cách cá nhân (vd. “thế nào là đẹp”, “thế nào là đáng tin”, “thế nào là thành công”) đã được tiêm nhiễm vào từ bên ngoài hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố bên ngoài về mặt nội dung, chứ không được dựa trên những suy nghĩ của bản thân, và do đó nằm ngoài tầm kiểm soát của cá nhân. Điều này dẫn tới việc suy nghĩ của cá nhân dễ bị thao túng, hay nhẹ hơn là dễ biến động hoặc hoang mang khi môi trường xung quanh liên tục cung cấp các thông tin thiếu thống nhất hay thậm chí trái ngược nhau.

Một ví dụ khác của điều được nói đến ở trên là việc danh tính (identity) của cá nhân, một bộ phận rất quan trọng của nhân cách, được gắn chặt hay thậm chí là định nghĩa hoàn toàn bởi những cái mác bên ngoài như tên tuổi, xuất thân, bằng cấp, tài sản, quốc tịch, dân tộc, hay thậm chí là tình trạng hôn nhân. Đối với những cá nhân đó, những cái mác này làm nên con người họ, chứ không đơn thuần chỉ là một số thuộc tính họ ngẫu nhiên mang theo mình nữa. Đối với họ, việc đánh mất một cái mác tương đương với việc đánh mất một phần sự tồn tại của bản thân, và việc một cái mác gặp phải sự chỉ trích hay bôi nhọ tương đương một đòn đánh trực diện vào nhân cách của chính họ. Điều này có nghĩa là nhân cách của họ rất dễ bị tổn thương, và nếu nhân cách đó không còn gì khác ngoài những cái mác, thì đó là một nhân cách nghèo nàn và thiếu thực chất. Một nhân cách như vậy sẽ không phải là một lá chắn tốt giúp giữ vững sự ổn định tinh thần của một con người.

Điều này mang lại nhiều bất lợi cho cá nhân, bởi tất cả những yếu tố bên ngoài, kể cả những thứ tưởng chừng như trường tồn như quốc gia hay dân tộc, đều có thể biến mất hay bị quên lãng bất cứ lúc nào. Nhân cách, ý chí và năng lực tự thân mới là những thứ thực sự chắc chắn sẽ đi theo một con người suốt từ khi sinh ra cho đến (gần) khi chết đi, đồng thời tạo nên ở con người đó sức hấp dẫn và lôi cuốn bền bỉ đối với những người xung quanh. Bất lợi này càng rõ ràng hơn khi cá nhân phải sinh sống và làm việc tại một môi trường hoàn toàn mới lạ như ở nước ngoài, nơi mà những cái mác vốn có bỗng dưng hoàn toàn mất giá trị. Có thể nói rằng một trong những phép thử cho nhân cách một con người là xem xem sau một thời gian ở một môi trường mới, có được bao nhiêu người xung quanh nhìn người đó như một con người hoàn toàn, hay hầu hết vẫn nhận diện người đó bằng những cái mác như “thằng Việt Nam”.

Cuối cùng, một nhân cách tự thân dù cho có yếu ớt và bị chèn ép đến đâu, cũng rất khó có thể biến mất hoàn toàn, mà chỉ có thể bị chôn vùi xuống đáy tâm hồn và bị quên lãng đi mà thôi. Khi nhân cách tiêm nhiễm khiến cho cá nhân có những suy nghĩ hay hành động trái ngược với một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân đã bị vùi lấp, nhân cách đó sẽ trỗi dậy và tạo nên một sự xung đột tâm lý trong nội tâm cá nhân, dù có thể là yếu đuối. Điều này có thể được cảm nhận qua một cảm giác lấn cấn, do dự, “có cái gì đó sai”, hay đơn giản chỉ là một sự khó chịu không rõ nguyên nhân. Những xung đột tâm lý này, nếu không được lý giải rõ ràng và giải quyết tận gốc, thì qua thời gian có thể sẽ tích tụ và lớn dần lên, tạo nên sự mâu thuẫn nội tâm ngày càng gay gắt, và cuối cùng có thể dẫn đến những triệu chứng của các loại bệnh tâm thần.

5. Xây dựng nhân cách của chính mình

Chính vì nhân cách tự thân có vai trò quan trọng như vậy, nên mỗi người chúng ta đều nên để ý xây dựng nên cho mình một nhân cách độc lập và vững vàng theo mong muốn của bản thân. Nhiều người cho rằng tính cách hay nhân cách là do môi trường tạo nên. Khẳng định đó có thể phần nào phản ánh đúng hiện thực, nhưng nó gián tiếp phủ nhận vai trò của ý chí tự do của mỗi cá nhân, cũng tức là thể hiện sự lảng tránh trách nhiệm đối với nhân cách và qua đó là vận mệnh của chính mình. Vậy, chúng ta có thể làm gì để phát triển nhân cách của bản thân?

a. Phát triển

Trước hết, nếu một người không hề ý thức được gì về một thứ nào đó, thì cũng có nghĩa là thứ đó không hề tồn tại đối với người ấy, và một thứ không tồn tại thì không có cách nào phát triển được. Do vậy, điều đầu tiên chúng ta nên làm là tự quan sát và ý thức được sự tồn tại của nhân cách tự thân. Điều này không nhất thiết phải là cái gì to tát, mà có thể đơn giản bắt đầu từ việc để ý xem mình thích ăn món gì, thích nghe nhạc gì, thích mặc đồ gì,… Mở rộng ra, chúng ta có thể dành thời gian để quan sát và suy nghĩ về tính cách, năng lực, đạo đức của bản thân: mình đối xử với xung quanh thế nào, mình thích làm và làm tốt việc gì, mình cảm thấy tức giận vì điều gì,… Một phần rất lớn nhân cách của chúng ta vốn đã tồn tại sẵn ở bên trong nội tâm mỗi người, vấn đề chỉ là chúng ta có ý thức được sự tồn tại của chúng, và diễn đạt những nội dung đó ra thành hình ảnh hay ngôn từ được hay không mà thôi.

Song song với việc tự quan sát chính bản thân, chúng ta cũng nên thường xuyên tìm kiếm và tiếp xúc với những ý tưởng, suy nghĩ, quan điểm mới mẻ để có thêm nguyên liệu cho quá trình xây dựng nhân cách, thông qua những phương tiện như sách vở, báo chí, internet, nói chuyện, hay đơn giản là quan sát từ xung quanh,… Ý tưởng hay suy nghĩ mới không nhất thiết phải là từ những sách vở chuyên ngành nhất định, mà có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, thậm chí ở cả những nơi tưởng chừng như chẳng hề liên quan. Chú ý rằng quá trình thu thập thông tin này cần gắn liền với sự chọn lọc, lý giải và kiểm chứng bằng nhân cách tự thân, chứ không nên là sự tiếp thu vô điều kiện. Có thể nói rằng, đây là quá trình tìm kiếm những công cụ mới để mô tả một cách ngày càng rõ ràng và chính xác hơn về nhân cách tự thân đã có sẵn, đồng thời mở rộng hoặc cải biến nhân cách đó mà vẫn giữ được tính thống nhất và hợp lý của nó, chứ không đơn thuần là sự chắp vá một cách tùy tiện.

Một trong những phương pháp tốt nhất để quan sát và xây dựng nhân cách tự thân là tự đặt mình vào trong một môi trường sống mới, mà ví dụ điển hình là một cuộc sống ở một vùng đất mới, trong một cộng đồng mới. Chúng ta chỉ có thể nhận ra sự tồn tại của một thứ gì đó khi có một thứ khác biệt đứng bên cạnh để so sánh. Cũng giống như việc con người không thể nhận ra sự tồn tại của không khí nếu như không có chân không, chúng ta không thể nhận ra một thói quen hay một khuôn mẫu tư tưởng của chính mình nếu như tất cả mọi người xung quanh đều có chung thói quen hay khuôn mẫu đó. Một môi trường hoàn toàn mới sẽ buộc chúng ta phải tiếp xúc với rất nhiều tư tưởng và suy nghĩ xa lạ từ xung quanh, dù muốn dù không, và qua đó có cơ hội nhận thức được rõ ràng hơn về nhân cách của chính mình, cũng như chọn lọc tiếp thu được những điều mới mà có thể trước đây chúng ta chưa bao giờ có cơ hội tiếp xúc.

b. Bảo vệ & sử dụng

Để cho nhân cách tự thân có thể trở nên vững vàng hơn, chúng ta cũng cần để ý bảo vệ và tin tưởng sử dụng nó vào thực tế. Điều này tưởng chừng như đơn giản nhưng có thể lại rất khó khăn. Nếu như nhân cách tự thân của chúng ta đã bị đè nén quá lâu, chúng ta có thể sẽ không có lòng tin vào nhân cách của chính mình, mà sẽ lựa chọn việc sống theo những chuẩn mực, thói quen hay lòng tin của những người xung quanh, vì những điều đó dù gì cũng (có lẽ) ít nhiều đã được kiểm chứng bằng thực tế, và nhất là vì kể cả khi thất bại chúng ta cũng không cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thất bại ấy. Cứ như thế, chúng ta càng thiếu tin tưởng và không sử dụng nhân cách tự thân, thì nhân cách tự thân của chúng ta càng không được phát triển, bị quên lãng đi, và do đó càng trở nên thiếu tin cậy hơn. Vòng xoáy tiêu cực này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là chúng ta phó mặc hoàn toàn việc suy nghĩ, đánh giá và quyết định của bản thân cho thế giới bên ngoài.

Điều đầu tiên chúng ta có thể làm được để phá vỡ vòng xoáy đó là thường xuyên khẳng định sự tồn tại và thể hiện những nội dung của nhân cách tự thân một cách rõ ràng bằng ngôn từ, hành động, hay ít nhất là suy nghĩ. Kể cả khi hoàn cảnh khiến cho chúng ta đưa ra những quyết định hay hành động trái ngược với mong muốn, chúng ta cũng nên lắng nghe tiếng nói của nhân cách tự thân, tôn trọng ý kiến đó, và nhận trách nhiệm hoàn toàn với từng quyết định hay hành động cuối cùng của mình. Điều đó đơn giản có nghĩa là: tôi biết thực sự mình thích gì và muốn gì, nhưng trong trường hợp này tôi tự lựa chọn việc làm trái với những điều đó bởi những lý do mà tôi tự chấp nhận. Có thể sẽ có người cho rằng đây là một suy nghĩ kiểu AQ chủ nghĩa, nhưng cách suy nghĩ này sẽ giúp cho nhân cách tự thân được duy trì và trở nên mạnh mẽ hơn trong mọi hoàn cảnh kể cả là khắc nghiệt và tù túng.

Mở rộng ra, trong mọi trường hợp chúng ta đều nên hướng tới việc lấy nhân cách tự thân làm chuẩn mực để đánh giá và đưa ra quyết định cho bản thân, kể cả khi điều đó có thể khiến cho một số lợi ích vật chất hay trước mắt khác bị ảnh hưởng ở một mức độ nhất định. Việc cân bằng giữa sự tôn nghiêm của nhân cách tự thân với các lợi ích vật chất và tinh thần khác như thế nào là việc mỗi người nên tự suy nghĩ và quyết định lấy, vì đó cũng là một phần của nhân cách tự thân. Tuy nhiên, một khi chúng ta cảm thấy một giá trị cốt lõi nền tảng của nhân cách tự thân bị đe dọa, nhất là khi đó là một nguyên tắc đạo đức tối cao của bản thân, thì rất có thể đó là lúc chúng ta cần phải đứng lên khẳng định và bảo vệ nhân cách của chính mình bằng mọi giá, vì sự phản bội nghiêm trọng một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân là một quyết định mà trong đa số trường hợp sẽ khiến chúng ta day dứt và hối hận cho đến mãi về sau.

c. Chú ý

Trong quá trình xây dựng nhân cách tự thân, có hai điểm mà chúng ta cần phải chú ý. Thứ nhất, đó là mọi nội dung của nhân cách tự thân đều cần phải có tính chân thực, tức là xuất phát từ những cảm xúc và suy nghĩ thực sự tự nhiên và tự do của bản thân. Nói cách khác, chúng ta nên trung thực với chính mình. Chúng ta không nên xây dựng nhân cách chỉ để hòa đồng, để khác người, hay vì bất cứ mục đích nào khác. Sự độc đáo khác biệt, hay bất cứ lợi ích gì khác nếu có, chỉ nên là hệ quả phụ của việc khám phá và xây dựng nhân cách mà thôi. Vị kem mà bạn thích có thể đơn giản là “vị gì cũng được”, miễn là bạn thực sự nghĩ như vậy, chứ không nên là “khoai môn cam chanh thêm sầu riêng” chỉ vì mọi người xung quanh đều thích vanila. Việc xây dựng nhân cách với một mục đích khác ngoài mục đích hoàn thiện nhân cách bản thân cũng chính là một biểu hiện của nhân cách tiêm nhiễm, vì khi đó nhân cách tự thân đã không còn là chuẩn mực đánh giá cao nhất nữa.

Thứ hai, chúng ta nên thận trọng đối với từng lời nói, hành động và quyết định của bản thân. Con người nhìn chung đánh giá cao và đòi hỏi ở nhau một sự thống nhất ở một mức độ nhất định trong lời nói và hành động. Và do đó trong mỗi cá nhân đều có một nhu cầu, hay đúng hơn là sự thôi thúc, phải đưa ra những hành vi thống nhất ở mức nào đó với những gì mình đã nói hay làm trong quá khứ. Nói theo một cách khác, từng lời nói, từng hành động, từng suy nghĩ của chúng ta đều có tác dụng định hướng nhân cách của chúng ta theo một cách nhất định, dù có thể đó không phải điều chúng ta mong muốn. Một khi chúng ta đã thể hiện một nhân cách nhất định trong một môi trường bên ngoài nào đó, thì áp lực từ môi trường ấy, dù là có thực hay tưởng tượng, sẽ luôn tìm cách trói buộc chúng ta vào nhân cách đó. Nếu như nhân cách được thể hiện không đúng với nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta đã tự tạo ra và khóa mình vào một nhân cách giả tạo, cho đến khi nào chúng ta có thể trốn thoát khỏi môi trường ban đầu, hoặc có đủ sự dũng cảm để trút bỏ nhân cách ấy.

Chúng ta hãy lấy một ví dụ đơn giản về một người giáo viên trước mặt học sinh luôn tỏ vẻ, hay thậm chí tin tưởng, rằng mình biết nhiều hơn học sinh, đúng hơn học sinh, và đáng được học sinh tôn trọng. Khi đó, áp lực từ xung quanh, mà trong trường hợp này chúng ta thường gọi là sự sĩ diện, sẽ khiến cho người giáo viên đó không thể chấp nhận được rằng mình có thể biết ít hơn học sinh, không đúng bằng học sinh, hay không được học sinh tôn trọng, kể cả khi đó là sự thật. Sự mâu thuẫn giữa hình ảnh về bản thân trong tâm trí với bản thân của hiện thực sẽ tạo nên sự xung đột trong nội tâm người giáo viên, khiến người đó cảm thấy mất khả năng kiểm soát đối với cuộc sống, và chỉ có thể được giải quyết khi người đó chịu từ bỏ nhân cách giả tạo của mình. Chính vì lẽ đó, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta nên chủ động trung thực với chính mình: nếu bạn ích kỷ, hãy nói rằng mình ích kỷ, nếu bạn ganh tị, hãy nói rằng mình ganh tị, nếu bạn kém cỏi, hãy nói rằng mình kém cỏi,… Điều này sẽ giúp cho tâm lý của chúng ta được thoải mái hơn rất nhiều.


Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhân cách là một khái niệm có vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tinh thần của mỗi con người. Có thể nói rằng, nhân cách là sự tổng hợp tất cả “tính người” của một cá nhân, là phần “người” trong “con người”. Nhân cách tự thân, song hành cùng với ý chí tự do, là điều làm nên sự khác biệt giữa một con người với một cỗ máy hay một con vật. Tuy nhiên, nếu như không được để ý phát hiện, xây dựng, bảo vệ và sử dụng thì nhân cách tự thân của chúng ta có thể sẽ trở nên yếu ớt, lép vế trước sự xâm lấn của nhân cách tiêm nhiễm. Nếu như chúng ta để cho nhân cách tiêm nhiễm lấn át hoàn toàn nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta tự đánh mất bản sắc con người cùng với những suy nghĩ và cảm xúc chân thực của bản thân, và quan trọng hơn cả là đánh mất tự do tư tưởng của chính mình.

Khi chúng ta xung đột

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A new psychology of freedom” của William Glasser và “Getting to Yes: Negotiating an agreement without giving in” của Roger Fisher, William Ury.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên phải đối mặt với đủ mọi loại xung đột từ lớn cho đến nhỏ với những người từ thân thiết, quen biết, cho đến hoàn toàn lạ mặt. Việc có xử lý được những xung đột này một cách suôn sẻ hay không ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc cá nhân của chúng ta. Có thể nói, kỹ năng xử lý xung đột là một kỹ năng thiết yếu của mỗi cá nhân sống trong xã hội con người. Dưới đây tôi muốn chia sẻ một số suy nghĩ của bản thân về vấn đề này.


1. Xung đột ở khắp mọi nơi

Xung đột xảy ra giữa hai hoặc nhiều bên khi niềm tin hoặc hành vi của một bên không được chấp nhận hoặc gặp phải sự chống đối bởi một hoặc nhiều bên còn lại (chôm chỉa từ Wikipedia). Xung đột có thể có nguyên nhân từ sự trùng lặp phạm vi của lợi ích, hoặc từ sự xung khắc về tư tưởng. Xung đột có thể có yếu tố bạo lực, mà cũng có thể là phi bạo lực thông qua các phương tiện xã hội thông thường. Xung đột có thể xảy ra trên phạm vi thế giới, quốc gia , cộng đồng, giữa cá nhân với nhau, hay thậm chí là bên trong nội tâm mỗi cá nhân. Xung đột là một hiện tượng rất thường thấy trong xã hội con người. Chưa nói đến những xung đột hiển hiện như xung đột sắc tộc hay xung đột quốc gia, xung đột hiện hữu ngay xung quanh chúng ta: không được trộm cướp → cứ trộm cướp → xung đột, không được ăn thịt chó → cứ thích ăn thịt chó → xung đột, mẹ muốn con ăn cơm → con không muốn ăn cơm → xung đột,… Có thể nói rằng ở đâu có con người chung sống ở đó sẽ có xung đột.

Một đặc điểm nhận dạng dễ thấy của xung đột là khi một bên A muốn một bên B làm điều gì đó mà bên B không muốn làm. Khi đó, bên A đứng trước ba lựa chọn: 1. sử dụng các biện pháp cưỡng ép để khiến cho đối phương làm theo ý mình bất kể đối phương có đồng ý hay không, 2. sử dụng các biện pháp ôn hòa để cùng đi đến một kết quả mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được, và 3. từ bỏ mong muốn của bản thân. Nhìn vào thực trạng của xã hội con người ngày nay, chúng ta hẳn không khó nhận ra lựa chọn nào đang được sử dụng nhiều nhất. Là một loài động vật mang tính xã hội cao, hạnh phúc và thịnh vượng của mỗi cá thể con người phụ thuộc rất nhiều vào những người xung quanh. Do vậy, việc một người mong muốn, yêu cầu và đi đến là bắt buộc người xung quanh hành động và suy nghĩ theo ý muốn của bản thân là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, lựa chọn đó có thực sự phục vụ tốt nhất cho lợi ích lâu dài và sâu xa của mỗi chúng ta hay không?

2. Quyền lực đến từ đâu

Tạm gác lại vấn đề xung đột, chúng ta hãy thử suy nghĩ về khái niệm “quyền lực”. Theo quan niệm của tôi, quyền lực của một con người là khả năng khiến cho người khác làm theo ý muốn của mình, bất kể là bằng phương pháp nào. Nhà nước khiến người dân làm theo ý mình bằng hệ thống pháp luật, tuyên truyền và giáo dục, đó là quyền lực. Kẻ cướp khiến nạn nhân làm theo ý mình bằng đe dọa vũ lực, đó là quyền lực. Người thông thái khiến người khác làm theo ý mình bằng lý lẽ và nhân cách, đó là quyền lực. Trẻ con khiến người lớn làm theo ý mình bằng sự đáng yêu, đó là quyền lực. Người có địa vị chính trị, kinh tế hoặc xã hội cao hơn thường có nhiều quyền lực hơn, nhưng người ở địa vị thấp hơn vẫn có thể có quyền lực của riêng mình. Giữa hai bên, việc mỗi bên đều có quyền lực nhất định đối với bên còn lại là việc bình thường và rất dễ gặp.

Nhiều người thường nghĩ rằng quyền lực của một người nằm ở bản thân người đó hoặc ở vị trí của người đó trong xã hội, trong hệ thống,… Nếu quả thực là như vậy, thì vì sao cùng một hệ thống pháp luật có người phạm tội có người không? Vì sao có lúc cha mẹ nói thì con nghe mà có lúc thì không? Đó là vì quyền lực của một người không do người đó kiểm soát, mà nằm ở những người xung quanh. Chúng ta không thể điều khiển người khác làm theo ý mình. Chúng ta chỉ có thể đưa ra yêu cầu và thúc đẩy người khác lựa chọn làm theo ý mình mà thôi. Chỉ cần đối phương lựa chọn không làm theo ý chúng ta nữa, thì quyền lực của chúng ta cũng biến mất, bất kể chúng ta có vũ lực, địa vị, lý lẽ, nhân cách hay quan hệ như thế nào. Điều này có thể thấy rõ nhất trong các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như khi con cái chống đối cha mẹ.

3. Cái giá của chiến thắng

Trở lại vấn đề chính, trong một xung đột thường ai cũng muốn giành lấy phần thắng tuyệt đối về mình. Nhưng một chiến thắng tuyệt đối không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích lớn nhất cho kẻ thắng cuộc, và thậm chí còn có thể ẩn chứa nhiều thiệt hại vô hình và rủi ro về sau. Trừ khi một bên tiêu diệt hoàn toàn bên còn lại, một chiến thắng càng triệt để và áp đảo càng có khả năng để lại thương tích sâu sắc cho người thua cuộc, từ đó dẫn đến sự thù hằn cũng như phản kháng ngấm ngầm kéo dài sau khi xung đột đã đi qua. Đó là chưa kể việc mất mát những lợi ích tiềm năng đáng lẽ có thể đạt được nếu như cả hai bên có thể cùng bàn bạc để đi đến thỏa hiệp và hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp cả hai bên bị lôi cuốn theo xung đột mà không ý thức được bản thân mình thực sự muốn đạt được điều gì. Do đó nhiều khi chiến thắng chỉ là một thứ trống rỗng và không giải quyết được những nhu cầu sâu xa của kẻ thắng cuộc.

Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về xung đột giữa xã hội với một người phạm tội. Từ những gì tôi quan sát được, đa số mọi người có cùng một phản ứng trước một tội phạm đã bị bắt: phạt nặng vào, bỏ tù nó đi, 3 năm ít quá 10 năm luôn cho bõ,… Tôi không phủ nhận giá trị của luật pháp và hình phạt, cái tôi muốn nói đến là thái độ muốn dồn kẻ thua cuộc vào đường cùng của nhiều người trong xã hội. Chúng ta nên nhớ rằng một người có đi tù thì vẫn là một thành viên xã hội, và sẽ đến lúc họ trở lại cộng đồng. Khi đó, chúng ta muốn nhận lại một con người có mong muốn hoàn lương và tái hòa nhập xã hội, hay là một con người mang trong lòng sự hận thù đối với cái xã hội đã dẫm đạp mình xuống đáy sâu? Một hệ thống công lý sử dụng các hình phạt nặng nề, hoạt động dựa trên sự sợ hãi với mục đích trả thù và răn đe có thể sẽ khiến ít người phạm tội hơn, nhưng chắc chắn sẽ tạo nên nhiều kẻ phạm tội nguy hiểm và bất trị hơn, một khi quyền lực đến từ sự sợ hãi đã mất đi tác dụng.

Đó là chưa kể, trong thời đại ngày nay đại đa số những xung đột mà chúng ta gặp phải hàng ngày thường là với những người có mối quan hệ tương đối gần gũi với chúng ta: vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè, học sinh,… Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ thực sự có quyền và có khả năng điều khiển hoàn toàn hành động và suy nghĩ của duy nhất một người, đó là chính bản thân mình. Khi một người có quan hệ gần gũi với chúng ta chấp nhận đầu hàng để kết thúc xung đột, điều đó không có nghĩa là chúng ta đã điều khiển được họ, mà là họ đã lựa chọn việc hy sinh tự do của bản thân để gìn giữ mối quan hệ giữa hai người. Nói cách khác, chúng ta đã đem mối quan hệ giữa hai người ra làm con tin để chiến thắng. Điều trái khoáy là càng những người gần gũi với chúng ta, chúng ta càng có xu hướng cho rằng họ là vật sở hữu của bản thân và do đó chúng ta có quyền sử dụng mối quan hệ giữa chúng ta với họ để điều khiển họ làm theo ý mình. Điều này có thể thấy rõ nhất ở mối quan hệ giữa bố mẹ với con cái và vợ chồng với nhau.

Nhưng một chiến thắng trong những xung đột như vậy có thể đem lại những hậu quả gì? Sự tự chủ trong suy nghĩ là nền tảng then chốt làm nên nhân cách con người. Việc bị cướp mất quyền tự chủ thông qua việc bị bắt làm một điều mình không muốn là một đòn đánh rất nặng vào tâm lý của nạn nhân, nặng hơn rất nhiều những gì người ngoài có thể thấy được. Để giảm thiểu thiệt hại tinh thần, người đó có thể phản ứng bằng cách 1. tự triệt tiêu đi quyền tự chủ và tự do của bản thân, phản ứng thường thấy ở những người yếu thế như trẻ nhỏ, hoặc 2. tìm cách giảm bớt quyền lực của mối quan hệ đang bị lợi dụng trong thế giới nội tâm của mình. Điều đó có nghĩa là, mỗi khi chúng ta bắt ép một người làm một điều họ thực sự không muốn, thì tức là chúng ta đang bào mòn nhân cách của họ, hoặc bào mòn mối quan hệ giữa họ với chúng ta, hoặc là cả hai.

Một người, một khi đã tự mình từ bỏ tự do tư tưởng, sẽ chôn sâu nhân cách thực xuống đáy tâm hồn và sống bằng một nhân cách giả tạo như một con rối, để tránh cho bản thân phải nhận thêm thương tổn từ trách nhiệm với hành động và suy nghĩ của chính mình. Một nhân cách giả tạo sẽ không bao giờ có thể phát huy hết được những năng lực và sự sáng tạo tiềm tàng của mỗi con người. Một người sống bằng nhân cách giả tạo sẽ khó có thể tìm thấy được hạnh phúc và sự thỏa mãn thực sự với cuộc sống, và sẽ không cảm thấy có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình, chừng nào người đó còn chưa được sống đúng với nhân cách thực của bản thân, chưa được “trở lại làm người”. Nhìn theo một cách nào đó, khi chúng ta bắt con cái làm gì đó và chúng chống đối lại, thì chúng ta nên vui mừng, vì điều đó nghĩa là chúng vẫn còn giữ được nhân cách của riêng mình, vẫn còn muốn đấu tranh để bảo vệ quyền tự chủ, và vẫn đang sống như một con người đúng nghĩa.

Nếu như người thua cuộc trong xung đột quyết định không từ bỏ quyền tự chủ của bản thân, thì họ thường sẽ tìm cách đẩy dần kẻ thắng cuộc ra khỏi thế giới nội tâm nhằm hạn chế quyền lực về mặt tinh thần của người đó đối với mình. Đó là lý do vì sao đối với nhiều người, chúng ta càng tìm cách cưỡng ép và điều khiển họ thì họ lại dường như càng rời xa khỏi tầm kiểm soát của chúng ta. Chúng ta có thể vẫn giữ được quyền lực đối với họ bằng vũ lực hay lợi ích vật chất, nhưng thứ quyền lực quan trọng nhất, thứ quyền lực mà đối phương tự nguyện giao cho chúng ta – quyền lực đến từ tình cảm con người, thì sẽ nhanh chóng biến mất. Chuyện những người con tốt nghiệp xong đem bằng về ném trả cha mẹ, hay đơn giản hơn là những đứa trẻ “bất trị” mà chúng ta hay gọi là “nhờn”, là minh chứng rõ ràng cho sự sụp đổ của quyền lực cha mẹ khi thiếu đi sợi dây gắn kết về mặt tình cảm.

4. Con đường trung đạo

Đến đây có lẽ sẽ có người muốn hỏi tôi rằng: Thế anh có phương pháp nào hay hơn không? Tôi sẽ trả lời lại rằng: Cái bạn thực sự muốn biết là gì vậy? Có phải bạn muốn biết một phương pháp để chiến thắng trong mọi xung đột, để bắt tất cả các đối thủ phải khuất phục, mà không cần phải chịu một hệ quả tiêu cực nào từ chiến thắng đó? Nếu là như vậy thì e rằng tôi không thể giúp gì được cho bạn, và tôi tin là sẽ chẳng có ai làm được điều đó. Nhưng nếu bạn thực lòng muốn giải quyết các xung đột một cách ôn hòa sao cho có thể đem lại hạnh phúc và những gì tốt đẹp nhất cho bản thân và cả những người bạn yêu quý, thì tôi nghĩ là những điều dưới đây có thể sẽ có ích.

Đầu tiên, khi xảy ra xung đột, trước khi tung ra những đòn tấn công cả bằng vật chất và tâm lý, chúng ta nên dành thời gian để suy nghĩ kỹ xem thực sự bản thân chúng ta đang muốn cái gì. Phần đông mọi người khi đưa ra một yêu sách không nghĩ xem thực sự tại sao mình lại muốn điều đó. Một yêu sách thường chỉ là một phương tiện để thỏa mãn một mong muốn sâu xa nào đó. Chúng ta cảm nhận thấy một vấn đề, và trong vô thức nghĩ ra một cách mà chúng ta cho là có thể giải quyết vấn đề đó, đưa nó thành yêu sách, và rồi quên bẵng đi luôn vấn đề gốc là gì mà chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương thực hiện yêu sách cụ thể ấy. Kết quả là nhiều khi bắt được đối phương thực hiện yêu sách xong, chúng ta mới nhận ra rằng mong muốn sâu xa của mình vẫn chẳng hề được thỏa mãn, trong khi đó rất có thể cả chúng ta và đối phương, cũng như cả mối quan hệ giữa hai bên, đều đã phải chịu những thiệt hại không nhỏ.

Không chỉ có vậy, việc tìm hiểu và nắm được những nhu cầu và lợi ích đứng đằng sau sự kháng cự từ phía đối phương cũng quan trọng không kém. Có thể họ muốn bảo vệ một lợi ích cốt lõi nào đó đang bị chúng ta đe dọa. Nhưng cũng rất có thể là cách đặt vấn đề của chúng ta khiến cho họ cảm thấy không hề có chút tiếng nói hay quyền lựa chọn nào, và họ chỉ muốn bảo vệ tự do và nhân cách của bản thân. Một khi đã nắm được những nhu cầu sâu xa thực chất của cả đối phương lẫn chính mình, chúng ta có thể tìm ra được những cách tiếp cận và phương án mới nhằm giải quyết nhu cầu của bản thân mà vẫn tôn trọng những nhu cầu và lợi ích sâu xa của đối phương, thay vì tìm cách bắt ép đối phương chấp nhận yêu sách của mình. Đạo Phật dạy rằng, trong một cuộc xung đột, đừng tìm cách triệt hạ đối phương, cũng đừng để đối phương triệt hạ, mà hãy tìm ra con đường đi mới ở giữa hai con đường cực đoan đó, tức là con đường “trung đạo”, để giải quyết vấn đề.

Một ví dụ là trong cuộc sống gia đình, có những khi người phụ nữ muốn người đàn ông làm việc này việc kia, khi thì rửa bát, khi thì nấu cơm, khi thì chăm con. Có những khi người đàn ông vui vẻ đồng ý, có những khi họ tìm cách trốn tránh và thoái thác, thế là xung đột nổ ra. Nhưng từ những gì tôi cảm nhận được, vấn đề cốt lõi thường không phải ở việc ai làm việc gì và làm bao nhiêu, mà nằm ở mối quan hệ tình cảm giữa hai người: có thể người phụ nữ cảm thấy cô đơn, thiếu sự chia sẻ, thiếu sự yêu thương, khiến cho công việc nội trợ vốn có thể rất vui vẻ buổi ban đầu trở nên ngày một nặng nề và khó chịu hơn. Người đàn ông cũng có thể có những lý do của riêng mình để từ chối việc nội trợ, dù lý do đó có thể chỉ là sự tự ái đàn ông, nhưng nó vẫn có sức nặng nhất định đối với suy nghĩ của họ. Điểm quan trọng là một khi đã xác định được rõ vấn đề, xung đột có thể được giải quyết bằng nhiều cách khác thay vì cãi cọ xem ai phải làm việc gì trong nhà: người đàn ông có thể đơn giản là trò chuyện nhiều hơn, bày tỏ sự quan tâm và yêu thương nhiều hơn đến người phụ nữ ở một khía cạnh khác, với những phương thức khác.

5. Chuyện nào ra chuyện nấy

Khi đứng trước một vấn đề gì đó trong công việc và cuộc sống, con người có thể suy nghĩ theo hai hướng: 1. mình có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng bản thân”, và 2. người khác có thể làm gì để giải quyết vấn đề, tạm gọi là “hướng đối phương”. Trong đó, hướng bản thân là hướng suy nghĩ tích cực và tự chủ, còn hướng đối phương là hướng suy nghĩ tiêu cực và phụ thuộc. Sai lầm lớn nhất của rất nhiều người trong xử lý xung đột là chỉ chăm chăm vào việc đòi hỏi đối phương phải làm cái này cái kia để giải quyết vấn đề, mà gần như quên bẵng đi việc suy nghĩ xem mình có thể/nên/cần/phải làm gì. Khi cả hai bên trong một cuộc xung đột đều bị cuốn vào suy nghĩ hướng đối phương, thì cuộc xung đột đó sẽ nhanh chóng sa lầy và trở thành một cuộc chiến tranh đổ lỗi qua lại. Tình hình sẽ trầm trọng hơn nữa nếu như mỗi bên lại lấy việc đối phương nhượng bộ làm điều kiện tiên quyết cho bất cứ sự nhượng bộ nào từ phía mình.

Tại sao tôi lại nói suy nghĩ “hướng đối phương” là tiêu cực và phụ thuộc? Việc giải quyết tốt đẹp một xung đột, nhất là với một người gần gũi với chúng ta, có ý nghĩa rất lớn đối với hạnh phúc của mỗi người. Nếu như chúng ta cho rằng xung đột chỉ có thể được giải quyết khi đối phương nhượng bộ, thì cũng tức là vô hình trung chúng ta đã giao quyền định đoạt hạnh phúc của bản thân cho người khác. Thêm vào đó, như đã nói ở trên chúng ta chỉ có thể điều khiển hoàn toàn được suy nghĩ và hành động của bản thân chứ không của ai khác, do vậy việc yêu cầu người khác hành động thay vì tự mình hành động, nhìn qua thì có vẻ như là một lựa chọn dễ dàng hơn, nhưng thực chất lại khó khăn hơn, kém hiệu quả hơn, và nhiều khi là bất khả thi.

Nhiều người hay cho rằng “người kia có lỗi, cớ gì tôi phải làm nọ làm kia”. Lỗi thuộc về ai không quan trọng, quan trọng là xung đột là một vấn đề trong cuộc sống của chúng ta, và chúng ta có thực sự muốn giải quyết nó hay không. Tất nhiên chúng ta có thể gửi tín hiệu đến đối phương để cho đối phương biết mong muốn của mình, nhưng song song với đó chúng ta cũng có thể tự mình hành động một cách độc lập để thực hiện mong muốn ấy. Đối phương có chấp nhận thực hiện mong muốn của chúng ta hay không là chuyện của đối phương, còn việc tìm cách thỏa mãn mong muốn của bản thân là chuyện của chúng ta. Chuyện nào phải ra chuyện nấy. Chúng ta cần tôn trọng tự do lựa chọn và quyền tự chủ của đối phương, nhưng đồng thời cũng phải nắm lấy quyền kiểm soát cuộc đời và hạnh phúc của bản thân. Đừng tự biến mình trở thành nạn nhân của bất cứ ai khác, nhưng cũng đừng biến người khác thành nạn nhân của mình.

Trong công việc với tư cách người quản lý hệ thống CNTT của công ty, hàng ngày tôi phải đối mặt với đủ kiểu thao tác vi phạm quy định, hay đơn giản là trái với ý đồ thiết kế, từ phía người dùng hệ thống. Mỗi lần như vậy tôi có thể lựa chọn việc nhắc nhở và yêu cầu người dùng phải chú ý, phải làm đúng thế này thế kia. Nhưng từ kinh nghiệm thực tế tôi hiểu rằng dù vô tình hay cố ý, những thao tác như vậy sẽ không bao giờ biến mất, và công sức nhắc nhở của tôi sẽ chỉ là công cốc: tôi đang chiến đấu với mấy trăm cái đầu có thể lơ đễnh bất cứ lúc nào. Tôi vẫn có thể nhắc nhở, nhưng đồng thời tôi sẽ lựa chọn tập trung hơn vào việc tạo nên những hệ thống mà người dùng có muốn cũng không thể thao tác sai được. Đối với những kỹ sư CNTT chuyên nghiệp thì điều đó gần như được xem như một yêu cầu hiển nhiên. Tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng lối suy nghĩ tương tự vào việc xử lý tất cả những xung đột khác, đặc biệt là với những người gần gũi với mình.

6. Lựa chọn thứ ba

Tôi xin nhắc lại một lần nữa: chúng ta chỉ có thể điều khiển được hành động và suy nghĩ của chính mình chứ không của ai khác. Trong một cuộc xung đột, nếu như đối phương đã nhất quyết không nhượng bộ, các biện pháp ôn hòa đã thất bại, thì chúng ta nên hiểu rằng việc muốn đối phương làm theo ý mình là điều không thể. Nếu như tư cách làm người hay các nguyên tắc đạo đức cốt lõi của chúng ta đang bị đe dọa, thì việc đấu tranh đến cùng bằng mọi giá thường là điều cần thiết và nên làm. Nhưng đối với đại đa số các xung đột hàng ngày khác, việc cố bám lấy một mong muốn bất khả thi sẽ chỉ khiến cho chúng ta thêm tuyệt vọng và khổ sở, hay tệ hơn là bắt đầu sử dụng đến những biện pháp cực đoan và vũ lực hơn. Thay vào đó, chúng ta hãy nắm giữ quyền tự chủ cuộc sống của mình bằng cách lựa chọn việc chấp nhận từ bỏ yêu sách, và tự tách mình khỏi tầm ảnh hưởng của đối phương nếu cần thiết, thay vì tiếp tục sa lầy trong một cuộc xung đột vô nghĩa.

Trong những mối quan hệ với những người gần gũi thân thiết, rộng ra là những người mà chúng ta không dễ gì cắt đứt được sợi dây liên hệ, ví dụ như giữa cha mẹ với con cái hoặc giữa xã hội với một thành viên trong xã hội, việc chấp nhận chung sống với sự khác biệt càng quan trọng hơn. Nếu như chúng ta thường xuyên sử dụng những biện pháp cưỡng ép và kiểm soát vi phạm vào tự do và nhân cách của đối phương, rất có thể chúng ta sẽ triệt tiêu đi một thứ còn quan trọng hơn sự phục tùng, đó là mối quan hệ tình cảm giữa con người với nhau. Tình cảm con người mới là thứ giúp cho xã hội, cộng đồng và gia đình trở nên gắn kết, và là cột chống tạo nên sự ổn định của tâm lý con người. Kẻ tội phạm nguy hiểm nhất là kẻ đã mất niềm tin vào tình cảm con người. Bạn muốn một đứa con ngỗ nghịch sống một mình một kiểu nhưng vẫn còn tôn trọng và yêu quý bạn trong lòng, hay bạn muốn một đứa trẻ nói gì cũng gật đầu nhưng từ lâu đã không còn coi bạn là cha mẹ nữa?

Đối với đa số chúng ta, việc chấp nhận thua cuộc và từ bỏ yêu sách trong một cuộc xung đột là một điều rất khó khăn. Có lẽ một phần lý do chính là vì điều đó khiến cho chúng ta cảm thấy mình mất khả năng kiểm soát cuộc sống của bản thân khi thấy một thứ đáng lẽ phải diễn ra theo ý mình thì thực tế lại không được như vậy. Tạm không nói về chuyện cái “đáng lẽ” đó có căn cứ gì hay không, nếu như chúng ta biết chấp nhận rằng có rất nhiều thứ mình không kiểm soát được, và không nên kiểm soát, thì chúng ta sẽ có thể bớt đi rất nhiều gánh nặng vô ích cho bản thân, cũng như có thể dành nhiều thời gian, sự chú ý cũng như công sức cho những việc khác chúng ta thực sự có thể kiểm soát thành công để đem lại hạnh phúc cho mình. Khi trên bước đường đi có một tảng đá lớn chặn đường, chúng ta có thể đi vòng tránh hoặc tìm con đường khác, cớ gì cứ nhất thiết mỗi lần lại phải ôm bộc phá dọn đường?


Nói một cách ngắn gọn, về nguyên tắc mọi xung đột nên được giải quyết một cách ôn hòa, trên cơ sở tôn trọng quyền tự do định đoạt của đối phương. Để có thể làm được điều đó, trước hết chúng ta cần phải suy nghĩ thật kỹ và xác định được những lợi ích và nhu cầu sâu xa đằng sau những mong muốn của chúng ta cũng như của đối phương, để có thể tìm ra một phương án có thể đảm bảo được lợi ích của cả hai bên. Thêm vào đó, chúng ta cũng nên tập trung suy nghĩ nhiều hơn vào việc bản thân mình có thể làm được gì để giải quyết xung đột, thay vì mải yêu cầu đối phương nhượng bộ. Cuối cùng, chúng ta nên biết chấp nhận rằng chúng ta không có quyền và cũng không có khả năng điều khiển suy nghĩ và hành động của bất kỳ ai khác ngoài bản thân, và rằng nhiều khi một mối quan hệ không ràng buộc dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau quan trọng hơn nhiều việc bắt được người khác phải làm theo ý mình.

Bàn về “tự do”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy nội dung chính từ cuốn sách “Why we do what we do” của Edward L. Deci và Richard Flaste.

Trong chúng ta có lẽ không ai phủ nhận giá trị của tự do. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận không biết bao nhiêu cuộc cách mạng, bao nhiêu vị anh hùng chiến đấu vì tự do. Cho đến bây giờ con người ở khắp nơi trên thế giới vẫn ngày ngày đấu tranh vì tự do. Dường như đối với chúng ta, “tự do” là một cái gì đó rất vĩ đại, rất to lớn, rất thiêng liêng, rất xa xăm. Tôi không nghĩ vậy. Tôi nghĩ tự do nằm sẵn ở trong đầu chúng ta. Tự do nằm trong từng quyết định, từng suy nghĩ, từng hành động dù là nhỏ nhặt của chúng ta. Mỗi chúng ta đều có khả năng quyết định đến tự do của bản thân, đồng thời gây ảnh hưởng đến tự do của người khác. Trong bài này tôi xin nói qua về những suy nghĩ của tôi về tự do.


1. Tự do là gì

Chữ “tự” (自) chỉ bản thân, chính mình (tự chủ, tự thân). Chữ “do”(由) thể hiện nguyên nhân, nguồn gốc, tùy vào (lý do, do đâu). “Tự do”, nói một cách ngắn gọn, tức là “do tự mình”. Giải thích cụ thể hơn, “tự do” thể hiện việc một người nào đó đưa ra một hành động, quyết định, suy nghĩ nào đó dựa trên những lý do và động lực hoàn toàn đến từ bên trong “cái tôi” thực chất của người đó. Trái ngược với tự do là khi một người làm việc gì đó, quyết định gì đó, suy nghĩ gì đó vì những nguyên nhân bên ngoài hoặc những nguyên nhân tiêm nhiễm từ bên ngoài như sự đe dọa, bắt ép, áp lực, thậm chí là văn hóa và đạo đức xã hội. Chúng ta hành động một cách tự do khi chúng ta muốn hoặc không muốn làm một cái gì đó, và chúng ta quyết định làm theo mong muốn đó của bản thân. Khi chúng ta cảm thấy hay nghĩ rằng mình phải/cần/nên hoặc không được/không thể/không nên làm một việc gì đó, thì rất có thể chúng ta đang không có tự do.

Nếu hiểu theo cách như trên, thì tự do hoàn toàn là một thứ nằm bên trong chúng ta, và do đó, trên lý thuyết, tự do của chúng ta chỉ phụ thuộc vào quyết định của bản thân chúng ta. Không ai có thể tước đi hay ban phát tự do cho chúng ta cả. Chúng ta chỉ mất tự do khi chúng ta không ý thức được tự do của bản thân, hoặc vì một lý do nào đó mà tự mình chối bỏ tự do đó. Ngược lại, trên lý thuyết, dù bị đặt trong hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta vẫn hoàn toàn có thể thể hiện ý chí tự do. Nếu bạn thấy điều này quen quen, thì đó là vì tự do và trách nhiệm là hai mặt của cùng một đồng xu. Chúng ta nhận trách nhiệm hoàn toàn về cuộc đời mình, cũng tức là chúng ta đang thực thi ý chí tự do của bản thân. Tất nhiên, trong thực tế nếu môi trường của chúng ta khích lệ và hỗ trợ tự do thì chúng ta sẽ dễ dàng suy nghĩ và hành động tự do hơn. Ngược lại, nếu một quyết định tự do có thể dẫn đến thiệt hại to lớn về quyền lợi, thì chúng ta sẽ có xu hướng từ bỏ tự do của bản thân.

Như vậy, tự do không có nghĩa là có thể làm điều mình muốn mà không cần phải chịu hậu quả. Tự do là một trạng thái tinh thần chứ không phải một sự đảm bảo hay một đặc quyền. Điều đó có nghĩa là tự do là quyết định làm một điều gì đó dù biết những hậu quả phát sinh mà mình phải gánh chịu. Điều đó cũng có nghĩa là hai hành động nhìn bề ngoài có thể rất giống nhau, nhưng tùy vào suy nghĩ đằng sau nó mà hành động đó có thể là tự do, có thể là không. Tự do cũng không phải một thứ gì đó “đúng” hay “tốt” tuyệt đối, và một quyết định tự do không có nghĩa là nó “đúng”, “tốt” hay thậm chí là “có lợi” cho bản thân chúng ta hoặc bất kỳ ai khác. Một người bỏ công việc ổn định lương cao để theo đuổi đam mê của bản thân có thể là một con người tự do, nhưng rất có thể quyết định đó sẽ dẫn đến việc gia đình anh ta gặp khó khăn, bản thân anh ta gặp thất bại, và khiến anh ta hối hận về quyết định của mình.

2. Tại sao lại cần tự do

Trước hết, tự do là một trong những nhu cầu tâm lý thiết yếu của con người. Những nhà tâm lý học nghiên cứu về Thuyết tự định đoạt (self-determination theory) cho rằng con người có ba nhu cầu tâm lý cơ bản là cảm thấy được làm chủ bản thân, cảm thấy bản thân có năng lực, và cảm thấy được kết nối với người xung quanh. Việc các nhu cầu này không được đáp ứng sẽ dẫn đến sức khỏe tâm lý bị ảnh hưởng, dẫn đến những hậu quả tâm lý như tuyệt vọng, trầm cảm, bức bối, vô cảm,…  và có thể dẫn đến bùng nổ hoặc suy sụp tâm lý. Trong đó, cảm giác được làm chủ bản thân, hay nói cách khác là được tự do, có sự gắn kết chặt chẽ với cảm nhận của chúng ta về nhân cách, hay “mức độ con người”, của bản thân. Khi cảm thấy bị tước mất tự do hay buộc phải từ bỏ tự do, chúng ta sẽ cảm thấy dường như nhân cách của mình bị phủ nhận, dường như mình không được “làm người”, và điều này sẽ dẫn đến một loạt các cảm xúc tiêu cực khác.

Xét từ góc độ hiệu suất làm việc, tự do sẽ giúp cho chúng ta làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn, sáng tạo hơn. Khi chúng ta làm việc mình thích, suy nghĩ của chúng ta sẽ không bị vướng bận gì và có thể được dành toàn bộ cho việc xử lý công việc. Nhưng khi chúng ta phải làm một việc trái mong muốn, tức không có tự do, não bộ chúng ta sẽ phải dành ra một lượng năng lượng tinh thần nhất định để bắt buộc bản thân làm việc đó. Điều này làm tăng tổng mức độ tiêu hao năng lượng tinh thần và giảm bớt lượng năng lượng dùng cho công việc, khiến chúng ta thiếu tập trung và mau chóng kiệt quệ hơn. Thêm vào đó, khi phải vừa làm việc vừa kiềm chế bản thân, chúng ta sẽ sử dụng suy nghĩ lý trí nhiều hơn suy nghĩ cảm tính, trong khi suy nghĩ cảm tính mới là thứ làm nên tính sáng tạo. Điều này khiến chúng ta có xu hướng làm việc thiếu sáng tạo, dựa nhiều vào lối mòn, và chọn cách an toàn hơn là thử nghiệm cái mới.

Đứng ở vai trò người tác động đến hành vi của người khác như cha mẹ với con cái, giáo viên với học sinh, thì việc tôn trọng tự do của đối tượng sẽ giúp cho những tác động của chúng ta dễ được chấp nhận hơn, có hiệu quả lâu bền hơn, và hạn chế hậu quả tiêu cực hơn. Khi chúng ta bắt ép đối tượng làm một việc trái với mong muốn tự do bằng bất cứ phương pháp nào đi nữa, thì cái chúng ta tạo ra được chỉ là sự phục tùng hoặc chống đối mà thôi. Nhìn bề ngoài, phục tùng có vẻ là bằng chứng cho thành công, nhưng phục tùng và chống đối có cùng bản chất là sự cự tuyệt ở bên trong, chỉ khác cách thể hiện ra bên ngoài. Phục tùng không phải là sự thay đổi về suy nghĩ như chúng ta thường mong muốn. Phục tùng có thể biến thành chống đối trong chốc lát chỉ bằng một giọt nước tràn ly. Đó là chưa kể để duy trì sự phục tùng cần có sự giám sát và đốc thúc thường xuyên, vì nó không xuất phát từ lý do bên trong. Khi lý do để phục tùng biến mất, thì sự phục tùng cũng sẽ biến mất.

3. Làm sao để có tự do

Như đã nói ở trên, tự do không phải là một đặc quyền đến từ bên ngoài. Vì vậy đừng mong chờ người khác đem tự do đến cho mình mà hãy bắt đầu từ bản thân. Nếu bản thân chúng ta không có suy nghĩ tự do thì kể cả khi được thoải mái làm điều mình thích, chúng ta cũng sẽ chẳng biết làm gì cả. Do đó, bước đầu tiên để xây dựng suy nghĩ tự do không phải là đòi hỏi tự do, hay vùng lên “làm cách mạng”, mà là nhận trách nhiệm về cuộc đời mình. Cuộc sống của chúng ta sẽ luôn chịu ảnh hưởng, thậm chí là bị quyết định, bởi những yếu tố bên ngoài mà chúng ta không thể cưỡng lại. Tuy nhiên, việc nhìn nhận và thay đổi cuộc đời theo chiều hướng tốt đẹp hơn là việc của chúng ta, chỉ có chúng ta mới có thể làm được. Và kể cả khi phải từ bỏ tự do trong một vấn đề nào đó, ít ra chúng ta cũng có được sự an ủi rằng bản thân mình là người đưa ra quyết định đó, chứ không phải một nạn nhân bất lực trước hoàn cảnh.

Tiếp theo, cái chúng ta cần làm là xây dựng nên một nhận thức về “cái tôi”. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần suy nghĩ xem mình là ai, mình là người như thế nào, tính cách mình ra sao, mình thích gì, mình ghét gì, mình coi trọng cái gì, mình có đam mê gì, mình có năng lực gì, mình phù hợp với công việc gì, đạo đức của mình là gì,… Nhận thức đó không nhất thiết phải “đúng” hoàn toàn, mà có thể được thay đổi chỉnh sửa theo thời gian. Cái quan trọng là chúng ta có một nhận thức rõ ràng và một niềm tin vào “cái tôi” để làm cơ sở cho những suy nghĩ tự do của bản thân, thay vì phải du nhập những tư tưởng, chuẩn mực, đánh giá từ bên ngoài. “Cái tôi” của chúng ta tồn tại độc lập với khả năng nhận thức của chúng ta về nó, nên những thứ du nhập mà không phù hợp với “cái tôi” sẽ gây ra xung đột bên trong mà không sớm thì muộn chúng ta sẽ phải nhận ra, và người chịu ảnh hưởng nhất chỉ có chúng ta mà thôi.

Cuối cùng, chúng ta cần phải không ngừng tu dưỡng bản thân cả về tri thức, suy nghĩ lẫn kỹ năng thực tế. Người thông minh, hiểu biết và có kỹ năng hơn sẽ tự do hơn, đơn giản vì người đó sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm ra cách thực thi và bảo vệ ý chí tự do của bản thân trước những khó khăn và áp lực của hoàn cảnh, thay vì phải từ bỏ tự do để bảo vệ những lợi ích khác. Người lái đò sông Đà có thể di chuyển tự do trên con sông hung dữ không phải vì con sông “cho phép” ông đi bất cứ đâu mình muốn, mà là vì ông hiểu về cách con sông vận hành, và có kỹ năng lái đò tương xứng để có thể đi tới những cái đích mà ông muốn tới. Trong cuộc sống, chúng ta có thể bảo vệ tự do của mình “chỉ bằng niềm tin”, nhưng trong hầu hết trường hợp sẽ phải hy sinh nhiều lợi ích khác. Hiểu biết, suy nghĩ và kỹ năng sẽ giúp chúng ta giảm thiểu sự hy sinh đó.

4. Hãy khích lệ và nuôi dưỡng tự do

Nếu đứng ở vị trí cha mẹ, giáo viên, cấp trên, hay bất cứ ai có trách nhiệm hướng dẫn hành vi của người khác, đặc biệt là đối với những đối tượng còn nhỏ tuổi, tôi thành thực mong muốn rằng chúng ta hãy biết công nhận, khích lệ và nuôi dưỡng sự tự do trong con em, học sinh, hay cấp dưới của chúng ta. Sự tự do đó không chỉ cần thiết và có lợi cho sức khỏe tinh thần của đối tượng, mà trong hầu hết trường hợp còn mang lại lợi ích cho chính chúng ta. Chúng ta hay nghĩ rằng một đứa trẻ, một cấp dưới “biết nghe lời” sẽ “an toàn” hơn, “yên tâm” hơn. Nhưng tôi cho rằng một con người tự do mới là người sẽ biết hành động có suy nghĩ hơn, có trách nhiệm hơn, và nhìn chung là thành công và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, suy nghĩ tự do là một thứ rất mong manh, khó xây dựng mà lại rất dễ bị hủy hoại, nhất là ở tuổi nhỏ. Do vậy chúng ta cần lưu ý đến một số điểm dưới đây nếu muốn nuôi dưỡng một con người tự do.

Trước hết, chúng ta nên để cho đối tượng được tự do quyết định hết mức có thể. Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải để mặc cho đối tượng làm bất cứ thứ gì tùy thích, mà chúng ta cần xác định những gì là cốt lõi, những gì chúng ta sẽ không thỏa hiệp, và để cho đối tượng được tự do lựa chọn đối với những thứ còn lại. Ví dụ, bạn có thể yêu cầu con giúp bạn việc nhà, nhưng để cho con tự do lựa chọn giúp việc gì cụ thể. Nếu con giúp việc rửa bát, bạn có thể để con tự do lựa chọn rửa bát lúc nào, miễn là hoàn thành xong trước một thời hạn nào đó. Nhìn từ phía chúng ta, những quyết định đó có thể là nhỏ nhặt không đáng kể, và kết quả đem lại có thể không phù hợp với kết quả lý tưởng mà chúng ta nghĩ tới, nhưng nếu vì thế mà chúng ta tước đi hoàn toàn cơ hội quyết định của đối tượng, thì tức là chúng ta đã dập tắt những suy nghĩ tự do từ trong trứng nước.

Thứ hai, chúng ta không nên dựa vào những nguồn động lực bên ngoài để khiến đối tượng làm theo chúng ta muốn, bất kể nguồn động lực đó là hình phạt, đe dọa, phần thưởng, hay thậm chí là lòng tự trọng, đạo đức hay lý lẽ. Nhất là đối với những việc vốn sẵn đối tượng đã thích làm, nếu chúng ta cho thêm nguồn động lực bên ngoài vào thì sẽ vô tình phá hoại nguồn động lực bên trong của đối tượng. Dấu hiệu nhận biết chung cho những nguồn động lực bên ngoài là “tình yêu có điều kiện”: mẹ sẽ không đánh con, mẹ sẽ không giận con, mẹ sẽ yêu con, mẹ sẽ khen con, mẹ sẽ thưởng con, con “ngoan”, con “người lớn”, con “đúng đắn” chỉ với điều kiện con làm theo ý mẹ muốn. Nếu chúng ta muốn nuôi dưỡng sự tự do, cái chúng ta nên làm là cung cấp cho đối tượng thông tin về những lựa chọn có thể có và những hệ quả của từng lựa chọn, và chấp nhận sự lựa chọn của đối tượng với một “tình yêu vô điều kiện”, dù lựa chọn đó có thể không hoàn toàn vừa ý mình.

Thứ ba, khi cần phải yêu cầu đối tượng làm một điều gì đó, nhất là một việc đối tượng không thích thú, chúng ta nên tìm cách yêu cầu sao cho đối tượng cảm thấy nhân cách của họ được tôn trọng. Cụ thể, chúng ta có thể nói với đối tượng rằng chúng ta biết đối tượng không thích làm việc đó. Điều này giúp đối tượng cảm thấy cảm xúc của mình được công nhận. Tiếp theo, chúng ta có thể đưa ra lý do cho yêu cầu của mình. Lý do đó không nhất thiết phải “hợp lý” hay “khách quan”, nhưng ít nhất không nên dừng ở mức “vì tôi muốn thế”. Điều này sẽ giúp đối tượng cảm thấy việc mình phải làm là có lý do, chứ không phải một việc vô nghĩa, hay chỉ vì bị người khác sai khiến. Chúng ta cũng nên nói thẳng thắn rằng đây là một yêu cầu (“bố muốn con làm …”) thay vì nói gián tiếp vòng vo (“con cần phải …”, “bố ước gì …”) hay tệ hơn là ngụy trang dưới dạng câu hỏi chỉ có một đáp án.

Cuối cùng, chúng ta nên giao kèo rõ ràng từ trước và sau đó thi hành những hậu quả đặt ra đối với từng lựa chọn của đối tượng. Ví dụ bạn có thể yêu cầu con phải liên lạc mỗi khi đi chơi về muộn, nếu không sẽ bị cấm đi chơi một tuần. Điều này có vẻ đi ngược lại với tự do và quyền lựa chọn, nhưng đó là điều cần thiết để khiến đối tượng hiểu rằng mọi lựa chọn đều có hậu quả, và tự do tức là chấp nhận hậu quả của điều mình đã lựa chọn, cũng tức là có trách nhiệm với lựa chọn của bản thân. Điểm cốt lõi là chúng ta cần chú ý đặt ra hậu quả tương xứng với mức độ nghiêm trọng của lựa chọn, và thi hành hậu quả không phải vì đối tượng đã lựa chọn “sai”, vì chúng ta muốn đối tượng làm theo ý mình, mà đơn giản chỉ là làm theo đúng giao kèo đã đặt ra giữa hai bên. Việc thể hiện “tình yêu vô điều kiện” song song với việc thi hành hậu quả là yếu tố rất quan trọng để đối tượng tiếp nhận đúng thông điệp mà chúng ta muốn truyền tải.


Tự do không phải một thứ đặc quyền mà chúng ta nhận được từ bên ngoài. Tự do là trạng thái tinh thần của chúng ta khi đưa ra một quyết định hay hành động dựa trên những giá trị, những suy nghĩ, những mong muốn của chính bản thân chúng ta. Khi đưa ra một quyết định tự do chúng ta sẽ thấy thanh thản và nhẹ nhàng. Ngược lại khi phải từ bỏ tự do chúng ta sẽ thấy nặng nề và bức bối. Tự do của chúng ta là do chúng ta tự quyết định. Tuy nhiên khi phải chịu áp lực quá lớn, chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng không nhận thức được tự do của bản thân, hoặc phải quyết định từ bỏ nó. Vì vậy, khi đứng ở vị trí là người hướng dẫn và tác động lên hành vi người khác, chúng ta nên chú ý khích lệ và nuôi dưỡng, hay ít nhất là tránh hủy hoại suy nghĩ tự do của đối tượng nếu như mục đích của chúng ta không phải là tạo ra những cái máy hay những kẻ nổi loạn, mà là tạo nên những con người biết tự mình suy nghĩ một cách có trách nhiệm.

Hãy tập trung vào bản thân

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết mượn nhiều ý tưởng từ cuốn sách “Conscious Business: How to build Value through Values” của Fred Kofman.

Trong một vài năm trở lại đây, khi Facebook bắt đầu lan tỏa rộng rãi hơn tại Việt Nam, cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều trang (page) có nội dung thời sự và giải trí hơn, tôi nhận thấy một xu hướng khá rõ rệt đang diễn ra: chúng ta kêu ca nhiều hơn, và chỉ trích nhiều hơn. Nhìn đâu cũng thấy mọi người kêu ca và chỉ trích về đủ vấn đề: Nhà nước, xã hội, văn hóa, doanh nghiệp, cho đến cả ông hàng xóm. Tất cả những kêu ca và chỉ trích đó đều có một điểm chung: chúng tập trung vào “chuyện của người khác” hơn là “chuyện của bản thân”. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng “chuyện của bản thân” mới là cái chúng ta nên tập trung sự chú ý và suy nghĩ.


1. Ai chịu trách nhiệm về cuộc đời bạn?

Khi được hỏi câu này, có lẽ đa số chúng ta sẽ trả lời là “chính tôi”. Nếu thực sự là như vậy, tại sao chúng ta còn kêu ca? Nếu chúng ta hiểu “trách nhiệm” theo cách tôi đã viết ở một bài viết trước, thì không có lý do gì để chúng ta kêu ca về bất cứ một vấn đề gì trong cuộc sống cả, bởi chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn về cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của chúng ta, từ những vấn đề nhỏ nhặt nhất cho đến cả những vấn đề xã hội và quốc gia. Nếu không suy nghĩ như vậy, thì chúng ta sẽ chỉ là nạn nhân của các tác động xung quanh, và sẽ không phải là người làm chủ cuộc sống của bản thân.

Nói đến đây hẳn nhiều người sẽ phản bác lại rằng: thế thì Nhà nước để làm gì, công an để làm gì, nhà trường để làm gì,… ai cũng phải có trách nhiệm chứ? Để đáp lại, tôi xin hỏi một câu: vậy ai sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất từ các vấn đề trong cuộc sống của chúng ta? Chẳng cần phải suy nghĩ nhiều chúng ta cũng có thể thấy rằng đó chính là bản thân chúng ta. Hay nói đúng hơn, chúng ta coi một điều gì đó là “vấn đề” bởi chúng ta cảm thấy mình phải hoặc sẽ phải chịu thiệt thòi từ nó. Không có gì đảm bảo là người khác sẽ thấy cùng một “vấn đề” với chúng ta, hay có thể tìm ra được cách giải quyết “vấn đề” theo ý chúng ta. Nếu họ không giải quyết hay không giải quyết được, thì chỉ có chúng ta là người tiếp tục bị thiệt thòi mà thôi.

Có người cũng sẽ lại nói rằng: nhưng mà tôi không có lỗi, cớ gì tôi phải chịu trách nhiệm? Như tôi đã nói trong bài viết trước, đúng sai và trách nhiệm không liên quan đến nhau. Kể cả khi chúng ta không có lỗi, nếu chúng ta bước lên nhận trách nhiệm thay vì đổ lỗi cho hoàn cảnh và người xung quanh, thì tức là chúng ta đã biến mình thành người trong cuộc, đặt mình vào vị trí có thể tác động và thay đổi vận mệnh của bản thân. Còn nếu chúng ta không nhận trách nhiệm, tức là chúng ta tự đẩy mình ra khỏi cuộc chơi, biến mình thành khán giả đối với chính cuộc đời của mình. Vận mệnh của chúng ta, do đó, sẽ được quyết định bởi hoàn cảnh và người xung quanh.

Không chịu trách nhiệm cũng là một lựa chọn, thậm chí đôi khi là hợp lý. Việc không chịu trách nhiệm có thể được ví như cổ động viên bóng đá cổ vũ đội nhà vậy. Họ có thể cổ vũ, có thể hò hét cầu thủ, chỉ trích huấn luyện viên, chửi mắng trọng tài, buộc tội đội bạn, nhưng cuối cùng họ vẫn không thể tác động gì đến việc thắng thua của đội nhà. Thắng thì họ vui vẻ ăn mừng, chẳng may thua thì họ hậm hực ra về, nhưng có được niềm an ủi là “không phải lỗi của mình, mà là lỗi của cầu thủ/huấn luyện viên/trọng tài/đội bạn”. Không chịu trách nhiệm đồng nghĩa với không phải chịu áp lực, không phải lao tâm khổ tứ, nhưng cũng không được có quyền lựa chọn số phận của bản thân, tức không có tự do. Lựa chọn thế nào là tự do của chúng ta.

2. Đừng quá khắt khe với bản thân

Tuy nhiên, việc nhận trách nhiệm không đảm bảo cho việc giải quyết được vấn đề. Việc nhận trách nhiệm chỉ giúp chúng ta có cơ hội giải quyết vấn đề mà thôi. Năng lực giải quyết từng vấn đề cụ thể của mỗi chúng ta đều có hạn. Trong suốt cuộc đời, chúng ta thường xuyên chịu sự chi phối của những yếu tố nằm ngoài khả năng tác động của bản thân, và những yếu tố đó có thể cản trở việc giải quyết vấn đề. Bởi vậy, chúng ta cũng không nên tự trách bản thân khi gặp phải một vấn đề nằm ngoài khả năng giải quyết. Làm như vậy chỉ có hại cho chúng ta mà thôi.

Vậy chúng ta “nên” chịu trách nhiệm đến đâu? Cái đó tùy thuộc vào mỗi người tự đánh giá, xem chúng ta đang muốn “làm vừa lòng” ai? Cá nhân tôi nghĩ rằng, xét cho cùng chúng ta sống là để tìm hạnh phúc, mà chỉ có chúng ta mới có thể đánh giá được hạnh phúc của bản thân, nên chúng ta cũng chỉ cần nhận trách nhiệm trong chừng mực bản thân không thấy hối hận là được. Người khác có thể đặt ra những yêu cầu cao hơn, nhưng không có nghĩa là chúng ta phải làm theo. Như tôi đã nói, việc quyết định xem sẽ nhận trách nhiệm đến đâu, và quyết định nhận trách nhiệm về những hệ quả của quyết định đó, cũng là thể hiện của con người tự do. Và tôi tin là nếu thực sự nhận trách nhiệm, thì chúng ta sẽ không có gì phải hối hận về quyết định của mình cả.

Một người nông dân có tự nhận trách nhiệm về mùa màng của mình đến đâu cũng không thể khiến trời tự đổ mưa cứu hạn, mà chỉ có thể tìm cách đưa nước từ nơi khác về ruộng thay vì kêu trời. Nếu người đó không thể tìm ra cách nào, thì đơn giản là mùa màng sẽ mất và người đó sẽ trắng tay. Sau khi trắng tay, người đó có thể tự vựng dậy và tìm cách mưu sinh, hoặc tiếp tục kêu trời và chịu chết đói. Cuộc sống vốn không diễn ra theo ý chúng ta muốn. Nếu bạn vẫn còn cảm thấy tấm tức, thì có thể tham khảo thêm một bài viết khác của tôi về cái sự “giận”.

3. Đừng “cưỡng ép cải tạo” người xung quanh

Một khuynh hướng tôi hay thấy ở nhiều người, nhất là bản thân tôi trước đây, là mỗi khi bắt gặp hay nghĩ ra một “chân lý” nào đó, liền lập tức tìm cách áp đặt nó lên người xung quanh. Có thể bản thân tôi cũng chưa hoàn toàn thấm nhuần “chân lý” đó, nhưng tôi đã vội vàng đánh giá người khác. Bây giờ thì tôi thấy đó là một hành động thật ngạo mạn. Thế nhưng theo cảm nhận của tôi, rất nhiều người trong số chúng ta vẫn làm điều đó hàng ngày hàng giờ. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó khi nhìn vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào. Chúng ta đánh giá lẫn nhau, tìm cách thuyết phục nhau, không thuyết phục được thì tranh luận, tìm cách “chiến thắng” qua việc chỉ ra đối phương “sai”, không thắng được thì miệt thị đối phương là “ngu dốt”, là “vô đạo đức” này kia.

Chúng ta hãy thử nghĩ xem: đã bao giờ chúng ta cho rằng một người có cùng ý kiến với chúng ta là “ngu dốt” chưa? Tất cả những người chúng ta chỉ trích, phản đối, thậm chí miệt thị, đều là những người không có cùng ý kiến với chúng ta, hoặc không tuân theo những gì chúng ta mong muốn. Vậy họ “sai”, họ “ngu dốt”, họ “vô đạo đức” là vì đó là bản chất của họ, hay là vì chúng ta thấy họ không như mình muốn? Nếu hỏi có ai có cách nào để xác định tuyệt đối một người có “ngu dốt” không thì có lẽ không ai trong chúng ta đưa ra được, nhưng trong cuộc sống chúng ta vẫn trùm cái mũ đó lên đầu những người chúng ta không đồng ý. Vậy vấn đề nằm ở họ hay ở cách nhìn nhận của chúng ta?

Cứ coi như vấn đề là ở họ, vậy sau khi “chiến thắng” họ thì chúng ta được cái gì? Bản thân tôi chưa có gia đình cũng chưa có người yêu, nhưng ai đã từng yêu hay lập gia đình có lẽ đều hiểu một kinh nghiệm xương máu: không có “chiến thắng” nào trong chuyện tình cảm cả. Khi có xung đột, bạn có thể khuất phục người kia bằng lý lẽ, tình nghĩa, hay vũ lực, nhưng kết quả vẫn là nhẹ thì tình cảm xa cách, nặng thì quan hệ đổ vỡ. “Chiến thắng” có thể thỏa mãn lòng tự kiêu của chúng ta trong chốc lát, nhưng hầu như không bao giờ thay đổi được người khác. Nếu không có mục đích nào cao hơn, mọi “chiến thắng” với người khác cuối cùng đều vô nghĩa. Cái chúng ta cần là sự hòa hợp và hợp tác, và điều đó không thể có được từ thái độ thù địch hay ngạo mạn bề trên.

Đức Phật Thích Ca, kể cả sau khi đã ngộ ra chân lý, cũng chỉ giảng Phật pháp cho những người muốn nghe, chứ không hề bắt ép hay đánh giá ai cả. Đức Phật thậm chí còn chú trọng giảng cho người hiểu nhiều trước người hiểu ít, người hiểu ít trước người chưa hiểu, thay vì giảng đồng đều cho tất cả mọi người. Đó là vì Người hiểu rằng muốn thay đổi thế gian, muốn đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, thì phải bắt đầu từ việc giúp từng cá nhân một ngộ ra chân lý của bản thân. Chúng ta chẳng cần bàn những việc đao to búa lớn hay quốc gia trọng đại, chẳng cần vung tiền làm từ thiện hay giúp đỡ tất cả mọi người hoạn nạn (tất nhiên làm được thì tốt), chỉ cần mỗi người chúng ta hiểu được đạo lý và đối xử với nhau tốt hơn, là thế gian đã hạnh phúc lên một chút rồi.


Tôi viết bài này không phải để đả kích bất kỳ ai. Thực tế bản thân tôi hàng ngày đôi khi vẫn phạm vào những cái mà tôi cho là không nên làm. Nhưng việc ý thức được những đạo lý trên (của cá nhân tôi) giúp cho tôi có thể luôn không ngừng tự kiểm điểm và sửa chữa bản thân, nhằm tiến dần đến hình mẫu con người lý tưởng (của cá nhân tôi). Tôi cảm thấy nếu chúng ta cứ buông thả việc tu dưỡng bản thân và chỉ chăm chăm vào soi mói chuyện người khác, thì dần dần xã hội của chúng ta sẽ trở thành một nơi rất ngột ngạt mà tôi nhất định không muốn sống trong đó. Qua bài viết này, tôi mong có thể đóng góp thêm một góc nhìn để mọi người có thể tham khảo, và nếu thấy hợp lý thì áp dụng, tất nhiên là với bản thân trước tiên.

Bàn về trách nhiệm

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

1. Trách nhiệm là:

+ Việc trả lời hoặc/và đưa ra hành động khi được yêu cầu hay khi cần thiết về một điều gì đó.

Ở đây chú ý đến việc định nghĩa về trách nhiệm không mang hàm nghĩa đúng/sai hay tốt/xấu nào. Nó đơn thuần chỉ là một hành vi, một lựa chọn của con người như bao hành vi, lựa chọn khác diễn ra hàng ngày. Nó cũng không bị hạn chế trong một bối cảnh nhất định nào cả.

Với cách hiểu như trên, trách nhiệm không nhất thiết phải là một gánh nặng hay một cái gì đó quá trừu tượng. Từ việc uống nước khi khát, thay tã khi con tè dầm, hay nhấc điện thoại khi có chuông reo, cho đến việc quyết định xem mình sẽ làm công việc gì, vào đại học nào, hay đưa ra những quyết sách, chỉ thị để giải quyết các vấn đề trọng đại quốc gia đều là các ví dụ về trách nhiệm.

2. Nhận trách nhiệm về mình đối với một vấn đề/công việc tức là:

+ Coi bản thân là chủ thể trong vấn đề/công việc đó chứ không phải là một yếu tố bên ngoài. Đồng thời chủ động và tích cực đưa ra hành động và kết quả chứ không bỏ mặc, chờ đợi, hay đổ lỗi cho yếu tố bên ngoài.

Ở đây chú ý đến việc hành vi nhận trách nhiệm là một hành vi tự giác, xuất phát từ bản thân chứ không phải là từ tác động bên ngoài, mang tính chủ động chứ không bị động. Điều đó có nghĩa là nó có thể diễn ra đối với một vấn đề/công việc nào đó trước mắt, chứ không chỉ sau khi một sai lầm/thất bại nào đó đã diễn ra. Đồng thời nó cũng không chịu sự chi phối hay hạn chế của các yếu tố bên ngoài như các mối quan hệ xã hội hay các nền tảng luật pháp/đạo đức/văn hóa/truyền thống/tôn giáo. Thêm vào đó, hành vi nhận trách nhiệm có hai mặt là tư tưởng và hành động. Trong đó, mặt tư tưởng đóng vai trò quan trọng và đi trước dẫn đến hành động. Tuy nhiên chỉ khi có đủ cả hai mặt này thì mới có thể coi là đã nhận trách nhiệm một cách hoàn chỉnh.

Ta có thể lấy ví dụ về một anh nhân viên quèn trong một công ty nào đó. Công ty không có ai biết về máy tính, nhưng anh ta thì lại có hứng thú với máy tính dù chuyên môn có thể khác. Khi có ai đó gặp khó khăn về máy tính đến hỏi, anh ta đều vui vẻ nhiệt tình trả lời và giúp đỡ. Như vậy là anh ta đã nhận trách nhiệm đối với việc giúp đỡ mọi người xung quanh về vấn đề máy tính. Xa hơn nữa, anh ta có thể tự mang cho mình vai trò và quyền hạn quản lý toàn bộ mạng máy tính công ty, từ đó đề xuất các giải pháp mới để cải thiện chất lượng công việc, hoặc cấm đoán mọi người thực hiện một số thao tác máy tính nhất định, dù không ai bổ nhiệm hay giao phó cho anh ta cả. Tất cả đều là các dạng khác nhau của việc nhận trách nhiệm.

Trong một ví dụ khác, giả sử anh nhân viên kia không biết gì về máy tính nhưng lại bị sếp giao cho việc phụ trách mạng máy tính công ty. Anh ta có thể cảm thấy đây không phải công việc của mình, hoặc đơn gián là anh ta không thích, và do đó thực hiện công việc một cách chểnh mảng, hoặc thực hiện tốt nhưng một cách miễn cưỡng. Trong trường hợp đó anh ta đang không nhận trách nhiệm đối với công việc quản lý mạng máy tính công ty. Ngược lại, nếu sau khi được giao công việc, anh nhân viên kia quyết định sẽ làm tốt việc được giao và bắt đầu tự mình tìm tòi học hỏi về máy tính, thì như vậy là anh ta đã nhận trách nhiệm đối với công việc của mình.

3. Trách nhiệm và tự do đi liền với nhau

+ Nhận trách nhiệm sẽ đem lại sự tự do về tư tưởng và hành động. Ngược lại muốn có tự do thì cần phải sẵn sàng nhận trách nhiệm về những hệ quả nảy sinh.

Ở đây ta nói đến “tự do” trong tư tưởng của bản thân, chứ không phải tự do theo nghĩa không có ràng buộc pháp lý hay xã hội. Con người ta cảm thấy không được tự do khi không được làm theo như mình muốn. Nhưng một người khi đã nhận trách nhiệm về một việc gì đó, tức là đã coi bản thân là chủ thể quyết định mọi yếu tố khác. Khi đó mọi việc người đó làm đều là vì người đó muốn, và mọi việc người đó muốn thì người đó đều có thể làm. Do vậy người đó sẽ cảm thấy được “tự do”. Có quan niệm cho rằng trách nhiệm càng nhiều thì tự do càng ít, nhưng việc cảm thấy không được tự do thực chất chính là không muốn nhận trách nhiệm. Mọi hành động, mọi quyết định có ý thức đều là thể hiện của ý chí tự do và đi kèm là trách nhiệm. Việc nhận trách nhiệm đến đâu, đồng nghĩa với cảm thấy tự do đến đâu, hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân và cũng là một trách nhiệm/tự do của mỗi người.

Ta hãy thử xét một ví dụ cực đoan. Một người bị kẻ xấu dí dao vào cổ đòi tiền. Anh ta có thể cho rằng mình không có tự do lựa chọn và do đó bắt buộc phải đưa tiền cho kẻ kia. Nhưng thực sự đó chỉ là một lý do cho việc anh ta không muốn nhận trách nhiệm đối với việc đưa tiền cho kẻ xấu. Anh ta không muốn phải suy nghĩ xem còn lựa chọn nào ngoài đưa tiền không. Anh ta không muốn làm chủ thể mà chỉ muốn làm nạn nhân. Trên thực tế anh ta có đầy đủ tự do để đưa quyết định của riêng mình: Tri hô, giằng co, chây lỳ, từ chối, thậm chí là tự cứa cổ vào dao, v.v.. Kể cả khi anh ta quyết định đưa tiền dù với bất cứ lý do nào đi nữa, nếu anh ta nhận thức được quyết định đó là của bản thân, và sau đó không hề hối hận hay kêu ca, thì đó cũng là một quyết định của ý chí tự do và anh ta đã nhận trách nhiệm đối với quyết định của mình. (Lưu ý rằng ở đây không hề có ý ám chỉ việc nhận trách nhiệm là tốt và chịu làm nạn nhân là xấu)

4. Đúng sai và trách nhiệm là hai vấn đề hoàn toàn tách biệt

+ Nhận trách nhiệm không có nghĩa là sai, và không sai không có nghĩa là không cần nhận trách nhiệm.

Như đã nói ở trên bản thân trách nhiệm và việc nhận trách nhiệm không mang hàm nghĩa đúng/sai hay tốt/xấu nào. Đồng thời việc nhận trách nhiệm cũng là một tự do. Do đó bất luận là khi tranh luận hay khi đối chiếu với các chuẩn mực bên ngoài, một kết luận đúng/sai không nhất thiết là lý do dẫn đến hành vi nhận trách nhiệm. Việc “phải nhận trách nhiệm” hay “có trách nhiệm” theo cách nói thông thường đơn thuần chỉ là “được trông đợi sẽ nhận trách nhiệm”. Tuy đa số trường hợp đi kèm theo là các ràng buộc pháp lý hay xã hội, nhưng đó cũng vẫn chỉ là một trong các yếu tố được xét đến trong việc quyết định có nhận trách nhiệm hay không. Vì vậy, điều quan trọng không phải là tranh cãi hay suy nghĩ xem “có phải nhận trách nhiệm hay không”, mà là quyết định xem “có nhận trách nhiệm hay không”. Tuy nhiên cần chú ý một điều là không ai muốn giao trách nhiệm cho người không muốn nhận trách nhiệm, dù người đó đúng hay sai.

Ta có thể lấy ví dụ về anh chàng nhân viên được giao công việc quản lý mạng máy tính. Một ngày đẹp trời sét đánh trúng công ty anh ta và toàn bộ dữ liệu máy tính của công ty được nướng thơm lừng. Sau đó công việc công ty đình trệ nặng nề do không có phương án dự phòng dữ liệu. Anh ta có thể nghĩ trong đầu rằng đó là tai nạn bất khả kháng, hay anh ta không phải người trong nghề thì chỉ làm được đến thế thôi. Tuy nhiên dù anh ta có đúng đến đâu, thì mọi người xung quanh vẫn có thể sẽ trông đợi anh ta nhận trách nhiệm, và rất có thể sẽ tin tưởng hơn, đánh giá cao hơn, giao phó nhiều trách nhiệm hơn cho anh ta nếu anh ta chủ động đứng ra nhận trách nhiệm giải quyết vấn đề. Do đó, một quyết định có trách nhiệm về việc có nhận trách nhiệm hay không sẽ dựa trên kết quả đánh giá mức độ kỳ vọng của mọi người xung quanh và lợi ích tiềm tàng từ việc nhận trách nhiệm, chứ không phải là lý lẽ đúng sai.

5. Kết luận:

+ Hãy ý thức đến việc nhận trách nhiệm trong cuộc sống hàng ngày để được tự do về tư tưởng và hành động, bao gồm cả việc nhận trách nhiệm đối với việc quyết định xem có nhận trách nhiệm hay không.