Hãy tập trung vào bản thân

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết mượn nhiều ý tưởng từ cuốn sách “Conscious Business: How to build Value through Values” của Fred Kofman.

Trong một vài năm trở lại đây, khi Facebook bắt đầu lan tỏa rộng rãi hơn tại Việt Nam, cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều trang (page) có nội dung thời sự và giải trí hơn, tôi nhận thấy một xu hướng khá rõ rệt đang diễn ra: chúng ta kêu ca nhiều hơn, và chỉ trích nhiều hơn. Nhìn đâu cũng thấy mọi người kêu ca và chỉ trích về đủ vấn đề: Nhà nước, xã hội, văn hóa, doanh nghiệp, cho đến cả ông hàng xóm. Tất cả những kêu ca và chỉ trích đó đều có một điểm chung: chúng tập trung vào “chuyện của người khác” hơn là “chuyện của bản thân”. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng “chuyện của bản thân” mới là cái chúng ta nên tập trung sự chú ý và suy nghĩ.


1. Ai chịu trách nhiệm về cuộc đời bạn?

Khi được hỏi câu này, có lẽ đa số chúng ta sẽ trả lời là “chính tôi”. Nếu thực sự là như vậy, tại sao chúng ta còn kêu ca? Nếu chúng ta hiểu “trách nhiệm” theo cách tôi đã viết ở một bài viết trước, thì không có lý do gì để chúng ta kêu ca về bất cứ một vấn đề gì trong cuộc sống cả, bởi chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn về cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của chúng ta, từ những vấn đề nhỏ nhặt nhất cho đến cả những vấn đề xã hội và quốc gia. Nếu không suy nghĩ như vậy, thì chúng ta sẽ chỉ là nạn nhân của các tác động xung quanh, và sẽ không phải là người làm chủ cuộc sống của bản thân.

Nói đến đây hẳn nhiều người sẽ phản bác lại rằng: thế thì Nhà nước để làm gì, công an để làm gì, nhà trường để làm gì,… ai cũng phải có trách nhiệm chứ? Để đáp lại, tôi xin hỏi một câu: vậy ai sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất từ các vấn đề trong cuộc sống của chúng ta? Chẳng cần phải suy nghĩ nhiều chúng ta cũng có thể thấy rằng đó chính là bản thân chúng ta. Hay nói đúng hơn, chúng ta coi một điều gì đó là “vấn đề” bởi chúng ta cảm thấy mình phải hoặc sẽ phải chịu thiệt thòi từ nó. Không có gì đảm bảo là người khác sẽ thấy cùng một “vấn đề” với chúng ta, hay có thể tìm ra được cách giải quyết “vấn đề” theo ý chúng ta. Nếu họ không giải quyết hay không giải quyết được, thì chỉ có chúng ta là người tiếp tục bị thiệt thòi mà thôi.

Có người cũng sẽ lại nói rằng: nhưng mà tôi không có lỗi, cớ gì tôi phải chịu trách nhiệm? Như tôi đã nói trong bài viết trước, đúng sai và trách nhiệm không liên quan đến nhau. Kể cả khi chúng ta không có lỗi, nếu chúng ta bước lên nhận trách nhiệm thay vì đổ lỗi cho hoàn cảnh và người xung quanh, thì tức là chúng ta đã biến mình thành người trong cuộc, đặt mình vào vị trí có thể tác động và thay đổi vận mệnh của bản thân. Còn nếu chúng ta không nhận trách nhiệm, tức là chúng ta tự đẩy mình ra khỏi cuộc chơi, biến mình thành khán giả đối với chính cuộc đời của mình. Vận mệnh của chúng ta, do đó, sẽ được quyết định bởi hoàn cảnh và người xung quanh.

Không chịu trách nhiệm cũng là một lựa chọn, thậm chí đôi khi là hợp lý. Việc không chịu trách nhiệm có thể được ví như cổ động viên bóng đá cổ vũ đội nhà vậy. Họ có thể cổ vũ, có thể hò hét cầu thủ, chỉ trích huấn luyện viên, chửi mắng trọng tài, buộc tội đội bạn, nhưng cuối cùng họ vẫn không thể tác động gì đến việc thắng thua của đội nhà. Thắng thì họ vui vẻ ăn mừng, chẳng may thua thì họ hậm hực ra về, nhưng có được niềm an ủi là “không phải lỗi của mình, mà là lỗi của cầu thủ/huấn luyện viên/trọng tài/đội bạn”. Không chịu trách nhiệm đồng nghĩa với không phải chịu áp lực, không phải lao tâm khổ tứ, nhưng cũng không được có quyền lựa chọn số phận của bản thân, tức không có tự do. Lựa chọn thế nào là tự do của chúng ta.

2. Đừng quá khắt khe với bản thân

Tuy nhiên, việc nhận trách nhiệm không đảm bảo cho việc giải quyết được vấn đề. Việc nhận trách nhiệm chỉ giúp chúng ta có cơ hội giải quyết vấn đề mà thôi. Năng lực giải quyết từng vấn đề cụ thể của mỗi chúng ta đều có hạn. Trong suốt cuộc đời, chúng ta thường xuyên chịu sự chi phối của những yếu tố nằm ngoài khả năng tác động của bản thân, và những yếu tố đó có thể cản trở việc giải quyết vấn đề. Bởi vậy, chúng ta cũng không nên tự trách bản thân khi gặp phải một vấn đề nằm ngoài khả năng giải quyết. Làm như vậy chỉ có hại cho chúng ta mà thôi.

Vậy chúng ta “nên” chịu trách nhiệm đến đâu? Cái đó tùy thuộc vào mỗi người tự đánh giá, xem chúng ta đang muốn “làm vừa lòng” ai? Cá nhân tôi nghĩ rằng, xét cho cùng chúng ta sống là để tìm hạnh phúc, mà chỉ có chúng ta mới có thể đánh giá được hạnh phúc của bản thân, nên chúng ta cũng chỉ cần nhận trách nhiệm trong chừng mực bản thân không thấy hối hận là được. Người khác có thể đặt ra những yêu cầu cao hơn, nhưng không có nghĩa là chúng ta phải làm theo. Như tôi đã nói, việc quyết định xem sẽ nhận trách nhiệm đến đâu, và quyết định nhận trách nhiệm về những hệ quả của quyết định đó, cũng là thể hiện của con người tự do. Và tôi tin là nếu thực sự nhận trách nhiệm, thì chúng ta sẽ không có gì phải hối hận về quyết định của mình cả.

Một người nông dân có tự nhận trách nhiệm về mùa màng của mình đến đâu cũng không thể khiến trời tự đổ mưa cứu hạn, mà chỉ có thể tìm cách đưa nước từ nơi khác về ruộng thay vì kêu trời. Nếu người đó không thể tìm ra cách nào, thì đơn giản là mùa màng sẽ mất và người đó sẽ trắng tay. Sau khi trắng tay, người đó có thể tự vựng dậy và tìm cách mưu sinh, hoặc tiếp tục kêu trời và chịu chết đói. Cuộc sống vốn không diễn ra theo ý chúng ta muốn. Nếu bạn vẫn còn cảm thấy tấm tức, thì có thể tham khảo thêm một bài viết khác của tôi về cái sự “giận”.

3. Đừng “cưỡng ép cải tạo” người xung quanh

Một khuynh hướng tôi hay thấy ở nhiều người, nhất là bản thân tôi trước đây, là mỗi khi bắt gặp hay nghĩ ra một “chân lý” nào đó, liền lập tức tìm cách áp đặt nó lên người xung quanh. Có thể bản thân tôi cũng chưa hoàn toàn thấm nhuần “chân lý” đó, nhưng tôi đã vội vàng đánh giá người khác. Bây giờ thì tôi thấy đó là một hành động thật ngạo mạn. Thế nhưng theo cảm nhận của tôi, rất nhiều người trong số chúng ta vẫn làm điều đó hàng ngày hàng giờ. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó khi nhìn vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào. Chúng ta đánh giá lẫn nhau, tìm cách thuyết phục nhau, không thuyết phục được thì tranh luận, tìm cách “chiến thắng” qua việc chỉ ra đối phương “sai”, không thắng được thì miệt thị đối phương là “ngu dốt”, là “vô đạo đức” này kia.

Chúng ta hãy thử nghĩ xem: đã bao giờ chúng ta cho rằng một người có cùng ý kiến với chúng ta là “ngu dốt” chưa? Tất cả những người chúng ta chỉ trích, phản đối, thậm chí miệt thị, đều là những người không có cùng ý kiến với chúng ta, hoặc không tuân theo những gì chúng ta mong muốn. Vậy họ “sai”, họ “ngu dốt”, họ “vô đạo đức” là vì đó là bản chất của họ, hay là vì chúng ta thấy họ không như mình muốn? Nếu hỏi có ai có cách nào để xác định tuyệt đối một người có “ngu dốt” không thì có lẽ không ai trong chúng ta đưa ra được, nhưng trong cuộc sống chúng ta vẫn trùm cái mũ đó lên đầu những người chúng ta không đồng ý. Vậy vấn đề nằm ở họ hay ở cách nhìn nhận của chúng ta?

Cứ coi như vấn đề là ở họ, vậy sau khi “chiến thắng” họ thì chúng ta được cái gì? Bản thân tôi chưa có gia đình cũng chưa có người yêu, nhưng ai đã từng yêu hay lập gia đình có lẽ đều hiểu một kinh nghiệm xương máu: không có “chiến thắng” nào trong chuyện tình cảm cả. Khi có xung đột, bạn có thể khuất phục người kia bằng lý lẽ, tình nghĩa, hay vũ lực, nhưng kết quả vẫn là nhẹ thì tình cảm xa cách, nặng thì quan hệ đổ vỡ. “Chiến thắng” có thể thỏa mãn lòng tự kiêu của chúng ta trong chốc lát, nhưng hầu như không bao giờ thay đổi được người khác. Nếu không có mục đích nào cao hơn, mọi “chiến thắng” với người khác cuối cùng đều vô nghĩa. Cái chúng ta cần là sự hòa hợp và hợp tác, và điều đó không thể có được từ thái độ thù địch hay ngạo mạn bề trên.

Đức Phật Thích Ca, kể cả sau khi đã ngộ ra chân lý, cũng chỉ giảng Phật pháp cho những người muốn nghe, chứ không hề bắt ép hay đánh giá ai cả. Đức Phật thậm chí còn chú trọng giảng cho người hiểu nhiều trước người hiểu ít, người hiểu ít trước người chưa hiểu, thay vì giảng đồng đều cho tất cả mọi người. Đó là vì Người hiểu rằng muốn thay đổi thế gian, muốn đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, thì phải bắt đầu từ việc giúp từng cá nhân một ngộ ra chân lý của bản thân. Chúng ta chẳng cần bàn những việc đao to búa lớn hay quốc gia trọng đại, chẳng cần vung tiền làm từ thiện hay giúp đỡ tất cả mọi người hoạn nạn (tất nhiên làm được thì tốt), chỉ cần mỗi người chúng ta hiểu được đạo lý và đối xử với nhau tốt hơn, là thế gian đã hạnh phúc lên một chút rồi.


Tôi viết bài này không phải để đả kích bất kỳ ai. Thực tế bản thân tôi hàng ngày đôi khi vẫn phạm vào những cái mà tôi cho là không nên làm. Nhưng việc ý thức được những đạo lý trên (của cá nhân tôi) giúp cho tôi có thể luôn không ngừng tự kiểm điểm và sửa chữa bản thân, nhằm tiến dần đến hình mẫu con người lý tưởng (của cá nhân tôi). Tôi cảm thấy nếu chúng ta cứ buông thả việc tu dưỡng bản thân và chỉ chăm chăm vào soi mói chuyện người khác, thì dần dần xã hội của chúng ta sẽ trở thành một nơi rất ngột ngạt mà tôi nhất định không muốn sống trong đó. Qua bài viết này, tôi mong có thể đóng góp thêm một góc nhìn để mọi người có thể tham khảo, và nếu thấy hợp lý thì áp dụng, tất nhiên là với bản thân trước tiên.

Bàn về trách nhiệm

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

1. Trách nhiệm là:

+ Việc trả lời hoặc/và đưa ra hành động khi được yêu cầu hay khi cần thiết về một điều gì đó.

Ở đây chú ý đến việc định nghĩa về trách nhiệm không mang hàm nghĩa đúng/sai hay tốt/xấu nào. Nó đơn thuần chỉ là một hành vi, một lựa chọn của con người như bao hành vi, lựa chọn khác diễn ra hàng ngày. Nó cũng không bị hạn chế trong một bối cảnh nhất định nào cả.

Với cách hiểu như trên, trách nhiệm không nhất thiết phải là một gánh nặng hay một cái gì đó quá trừu tượng. Từ việc uống nước khi khát, thay tã khi con tè dầm, hay nhấc điện thoại khi có chuông reo, cho đến việc quyết định xem mình sẽ làm công việc gì, vào đại học nào, hay đưa ra những quyết sách, chỉ thị để giải quyết các vấn đề trọng đại quốc gia đều là các ví dụ về trách nhiệm.

2. Nhận trách nhiệm về mình đối với một vấn đề/công việc tức là:

+ Coi bản thân là chủ thể trong vấn đề/công việc đó chứ không phải là một yếu tố bên ngoài. Đồng thời chủ động và tích cực đưa ra hành động và kết quả chứ không bỏ mặc, chờ đợi, hay đổ lỗi cho yếu tố bên ngoài.

Ở đây chú ý đến việc hành vi nhận trách nhiệm là một hành vi tự giác, xuất phát từ bản thân chứ không phải là từ tác động bên ngoài, mang tính chủ động chứ không bị động. Điều đó có nghĩa là nó có thể diễn ra đối với một vấn đề/công việc nào đó trước mắt, chứ không chỉ sau khi một sai lầm/thất bại nào đó đã diễn ra. Đồng thời nó cũng không chịu sự chi phối hay hạn chế của các yếu tố bên ngoài như các mối quan hệ xã hội hay các nền tảng luật pháp/đạo đức/văn hóa/truyền thống/tôn giáo. Thêm vào đó, hành vi nhận trách nhiệm có hai mặt là tư tưởng và hành động. Trong đó, mặt tư tưởng đóng vai trò quan trọng và đi trước dẫn đến hành động. Tuy nhiên chỉ khi có đủ cả hai mặt này thì mới có thể coi là đã nhận trách nhiệm một cách hoàn chỉnh.

Ta có thể lấy ví dụ về một anh nhân viên quèn trong một công ty nào đó. Công ty không có ai biết về máy tính, nhưng anh ta thì lại có hứng thú với máy tính dù chuyên môn có thể khác. Khi có ai đó gặp khó khăn về máy tính đến hỏi, anh ta đều vui vẻ nhiệt tình trả lời và giúp đỡ. Như vậy là anh ta đã nhận trách nhiệm đối với việc giúp đỡ mọi người xung quanh về vấn đề máy tính. Xa hơn nữa, anh ta có thể tự mang cho mình vai trò và quyền hạn quản lý toàn bộ mạng máy tính công ty, từ đó đề xuất các giải pháp mới để cải thiện chất lượng công việc, hoặc cấm đoán mọi người thực hiện một số thao tác máy tính nhất định, dù không ai bổ nhiệm hay giao phó cho anh ta cả. Tất cả đều là các dạng khác nhau của việc nhận trách nhiệm.

Trong một ví dụ khác, giả sử anh nhân viên kia không biết gì về máy tính nhưng lại bị sếp giao cho việc phụ trách mạng máy tính công ty. Anh ta có thể cảm thấy đây không phải công việc của mình, hoặc đơn gián là anh ta không thích, và do đó thực hiện công việc một cách chểnh mảng, hoặc thực hiện tốt nhưng một cách miễn cưỡng. Trong trường hợp đó anh ta đang không nhận trách nhiệm đối với công việc quản lý mạng máy tính công ty. Ngược lại, nếu sau khi được giao công việc, anh nhân viên kia quyết định sẽ làm tốt việc được giao và bắt đầu tự mình tìm tòi học hỏi về máy tính, thì như vậy là anh ta đã nhận trách nhiệm đối với công việc của mình.

3. Trách nhiệm và tự do đi liền với nhau

+ Nhận trách nhiệm sẽ đem lại sự tự do về tư tưởng và hành động. Ngược lại muốn có tự do thì cần phải sẵn sàng nhận trách nhiệm về những hệ quả nảy sinh.

Ở đây ta nói đến “tự do” trong tư tưởng của bản thân, chứ không phải tự do theo nghĩa không có ràng buộc pháp lý hay xã hội. Con người ta cảm thấy không được tự do khi không được làm theo như mình muốn. Nhưng một người khi đã nhận trách nhiệm về một việc gì đó, tức là đã coi bản thân là chủ thể quyết định mọi yếu tố khác. Khi đó mọi việc người đó làm đều là vì người đó muốn, và mọi việc người đó muốn thì người đó đều có thể làm. Do vậy người đó sẽ cảm thấy được “tự do”. Có quan niệm cho rằng trách nhiệm càng nhiều thì tự do càng ít, nhưng việc cảm thấy không được tự do thực chất chính là không muốn nhận trách nhiệm. Mọi hành động, mọi quyết định có ý thức đều là thể hiện của ý chí tự do và đi kèm là trách nhiệm. Việc nhận trách nhiệm đến đâu, đồng nghĩa với cảm thấy tự do đến đâu, hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân và cũng là một trách nhiệm/tự do của mỗi người.

Ta hãy thử xét một ví dụ cực đoan. Một người bị kẻ xấu dí dao vào cổ đòi tiền. Anh ta có thể cho rằng mình không có tự do lựa chọn và do đó bắt buộc phải đưa tiền cho kẻ kia. Nhưng thực sự đó chỉ là một lý do cho việc anh ta không muốn nhận trách nhiệm đối với việc đưa tiền cho kẻ xấu. Anh ta không muốn phải suy nghĩ xem còn lựa chọn nào ngoài đưa tiền không. Anh ta không muốn làm chủ thể mà chỉ muốn làm nạn nhân. Trên thực tế anh ta có đầy đủ tự do để đưa quyết định của riêng mình: Tri hô, giằng co, chây lỳ, từ chối, thậm chí là tự cứa cổ vào dao, v.v.. Kể cả khi anh ta quyết định đưa tiền dù với bất cứ lý do nào đi nữa, nếu anh ta nhận thức được quyết định đó là của bản thân, và sau đó không hề hối hận hay kêu ca, thì đó cũng là một quyết định của ý chí tự do và anh ta đã nhận trách nhiệm đối với quyết định của mình. (Lưu ý rằng ở đây không hề có ý ám chỉ việc nhận trách nhiệm là tốt và chịu làm nạn nhân là xấu)

4. Đúng sai và trách nhiệm là hai vấn đề hoàn toàn tách biệt

+ Nhận trách nhiệm không có nghĩa là sai, và không sai không có nghĩa là không cần nhận trách nhiệm.

Như đã nói ở trên bản thân trách nhiệm và việc nhận trách nhiệm không mang hàm nghĩa đúng/sai hay tốt/xấu nào. Đồng thời việc nhận trách nhiệm cũng là một tự do. Do đó bất luận là khi tranh luận hay khi đối chiếu với các chuẩn mực bên ngoài, một kết luận đúng/sai không nhất thiết là lý do dẫn đến hành vi nhận trách nhiệm. Việc “phải nhận trách nhiệm” hay “có trách nhiệm” theo cách nói thông thường đơn thuần chỉ là “được trông đợi sẽ nhận trách nhiệm”. Tuy đa số trường hợp đi kèm theo là các ràng buộc pháp lý hay xã hội, nhưng đó cũng vẫn chỉ là một trong các yếu tố được xét đến trong việc quyết định có nhận trách nhiệm hay không. Vì vậy, điều quan trọng không phải là tranh cãi hay suy nghĩ xem “có phải nhận trách nhiệm hay không”, mà là quyết định xem “có nhận trách nhiệm hay không”. Tuy nhiên cần chú ý một điều là không ai muốn giao trách nhiệm cho người không muốn nhận trách nhiệm, dù người đó đúng hay sai.

Ta có thể lấy ví dụ về anh chàng nhân viên được giao công việc quản lý mạng máy tính. Một ngày đẹp trời sét đánh trúng công ty anh ta và toàn bộ dữ liệu máy tính của công ty được nướng thơm lừng. Sau đó công việc công ty đình trệ nặng nề do không có phương án dự phòng dữ liệu. Anh ta có thể nghĩ trong đầu rằng đó là tai nạn bất khả kháng, hay anh ta không phải người trong nghề thì chỉ làm được đến thế thôi. Tuy nhiên dù anh ta có đúng đến đâu, thì mọi người xung quanh vẫn có thể sẽ trông đợi anh ta nhận trách nhiệm, và rất có thể sẽ tin tưởng hơn, đánh giá cao hơn, giao phó nhiều trách nhiệm hơn cho anh ta nếu anh ta chủ động đứng ra nhận trách nhiệm giải quyết vấn đề. Do đó, một quyết định có trách nhiệm về việc có nhận trách nhiệm hay không sẽ dựa trên kết quả đánh giá mức độ kỳ vọng của mọi người xung quanh và lợi ích tiềm tàng từ việc nhận trách nhiệm, chứ không phải là lý lẽ đúng sai.

5. Kết luận:

+ Hãy ý thức đến việc nhận trách nhiệm trong cuộc sống hàng ngày để được tự do về tư tưởng và hành động, bao gồm cả việc nhận trách nhiệm đối với việc quyết định xem có nhận trách nhiệm hay không.