Thuyết tự chủ và động lực con người (phần 1)

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng của cá nhân tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết ăn cắp ý tưởng và thông tin một cách không biết xấu hổ từ cuốn sách Handbook of Self-Determination Research biên tập bởi Edward L. Deci và Richard M. Ryan và cuốn sách Self-Determination Theory: Basic Psychological Needs in Motivation, Development and Wellness của cùng tác giả.

Động lực tinh thần là một trong những thành phần quan trọng nhưng lại thường ít được để ý đến của đời sống cá nhân và xã hội. Đối với mỗi cá nhân, động lực là lực lượng đứng sau thúc đẩy mọi hoạt động có ý thức của con người. Đối với các tổ chức, việc quản lý và tạo ra động lực hoạt động cho các thành viên của mình là một việc thiết yếu và có ảnh hưởng to lớn đến kết quả hoạt động và thậm chí là sự tồn vong của mỗi tổ chức. Do vai trò quan trọng của nó, mà cho đến nay các nhà khoa học, chuyên gia tâm lý và các triết gia đã đưa ra rất nhiều lý thuyết nhằm giải thích và tiên đoán về động lực tinh thần của con người từ nhiều khía cạnh và trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Một trong những lý thuyết hiện đang thu hút được nhiều sự chú ý là Thuyết tự chủ (self-determination theory) mà tôi xin được giới thiệu trong bài viết lần này.


1. Thuyết tự chủ và động lực

Trước khi đi vào nội dung của Thuyết tự chủ, ta hãy nói qua về khái niệm “động lực”. Động lực, đúng như tên gọi, là thứ (lực) khiến con người thực hiện hành vi (động). Điều đó có nghĩa là động lực vừa cung cấp một sự “định hướng”, vừa cung cấp “năng lượng” để cá nhân thực hiện hành vi. Nói cách khác, động lực luôn là động lực hướng đến hành vi, chứ không có động lực đứng một mình không có phương hướng cụ thể. Nhưng động lực cũng lại khác biệt với những khái niệm khác như “lý do” hay “mục đích” ở chỗ bản thân động lực còn có tính định lượng, thể hiện ở mức độ mạnh mẽ của năng lượng mà động lực cung cấp cho hành vi của cá nhân. Do vậy, khái niệm “động lực” không những có thể được dùng để lý giải vì sao một cá nhân lại thực hiện một hành vi nào đó, mà còn có thể dùng để lý giải mức độ hoạt bát và năng nổ của cá nhân ấy khi thực hiện hành vi.

Thuyết tự chủ là một học thuyết dựa trên thực nghiệm và nằm trong trào lưu các học thuyết tổ chức sinh vật (organismic) về hành vi con người và phát triển nhân cách. Tuy chủ yếu tập trung nghiên cứu ở lĩnh vực tâm lý học, nhưng Thuyết tự chủ cũng được dựa trên một số kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý học và thần kinh học. Bài viết này đề cập chính đến khía cạnh động lực con người, cũng là khía cạnh nghiên cứu chính của Thuyết tự chủ, nhưng phạm vi của nó thì rộng lớn và bao quát hơn, với mục đích là giúp cho con người hiểu rõ hơn về các quá trình tâm lý xảy ra trong nội tâm bản thân và các cá nhân khác, cũng như tìm kiếm các phương pháp hiệu chỉnh môi trường xung quanh, nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần lẫn thể chất và hiệu quả hành động cũng như sự phát triển của mỗi cá nhân.

Đa số lý thuyết về nhận thức từ trước tới nay thường chỉ coi động lực là một khái niệm đơn nhất. Điều đó có nghĩa là các lý thuyết này thường dựa trên giả thiết là tất cả động lực đều giống nhau về định tính và chỉ khác nhau về định lượng, tức là chỉ có động lực mạnh và động lực yếu chứ không có động lực khác biệt nhau về bản chất. Trong các lý thuyết đó, động lực thường được định lượng bằng cách nhân giá trị về mặt tâm lý của kết quả hành vi với xác suất của việc cá nhân có thể đạt được kết quả đó, hoặc dựa trên những khái niệm khác tương tự như niềm tin của cá nhân đối với việc đạt được kết quả, hay kỳ vọng của cá nhân về năng lực bản thân và mối quan hệ nhân quả của hành vi. Các phương pháp tiếp cận này, do vậy, thường bỏ qua việc phân tích sự khác nhau, chẳng hạn, giữa động lực mà cá nhân tự sinh ra với động lực sinh ra bởi phần thưởng hay đe dọa.

Đây cũng là một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa Thuyết tự chủ với nhiều học thuyết khác bàn về động lực. Thuyết tự chủ cho rằng động lực có thể được chia ra làm nhiều phân loại khác nhau về mặt định tính, bên cạnh sự khác nhau về định lượng. Cụ thể, các phân loại động lực này có thể được sắp xếp thành một dải động lực giữa hai thái cực: một bên là động lực có tính tự chủ (autonomous) và một bên là động lực không có tính tự chủ, hay động lực  bị điều khiển (controlled). Chúng có sự khác biệt rõ rệt về nguồn gốc cũng như phương thức đem lại năng lượng và định hướng cho hành vi của cá nhân, và qua đó mang lại sự khác biệt cả về kết quả của các hành vi ấy cũng như tâm lý của bản thân cá nhân. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng lý thuyết về động lực vào thực tế: chúng ta không chỉ cần nghĩ tới việc tạo ra thật nhiều động lực cho cá nhân, mà còn phải nghĩ tới việc tạo ra những loại động lực “tốt” hơn.

Một đặc điểm nữa của Thuyết tự chủ là nó có tính bao quát và mạch lạc, tức là nó không chỉ đề cập và nghiên cứu về cách phân loại động lực, mà còn cả về các điều kiện tác động từ môi trường xung quanh đến cá nhân để dẫn đến từng phân loại động lực khác nhau, cũng như những tác động của mỗi phân loại động lực đối với sức khỏe và hiệu quả hành động của cá nhân. Nói cách khác, Thuyết tự chủ nghiên cứu cả về động lực lẫn tiền đề và kết quả của nó. Thêm vào đó, Thuyết tự chủ dựa trên nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng các kết quả thí nghiệm khoa học trong môi trường thí nghiệm lẫn trong thực tế, trên nhiều lĩnh vực (giáo dục, thể thao, tôn giáo, chính trị,…) và phạm vi đối tượng (giới tính, độ tuổi, văn hóa, quốc gia,…) khác nhau. Tất cả những điều này giúp cho những kết luận của Thuyết tự chủ có mức độ tin cậy cũng như tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao.

2. Năm phân loại động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tinh thần của con người có thể được chia ra làm hai phân loại lớn, dựa trên tương quan giữa động lực và hành vi mà động lực đó thúc đẩy: động lực nội tại (instrinsic motivation) và động lực ngoại lai (extrinsic motivation).

Động lực nội tại là động lực có nguồn gốc từ sự hấp dẫn và thỏa mãn cố hữu của bản thân hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Nói cách khác, động lực nội tại được gói gọn bên trong hành vi và không cần thêm bất cứ một nguồn gốc nào khác nằm ngoài hành vi đó. Khi cá nhân cảm thấy có động lực nội tại đối với một hành vi nhất định, và không gặp phải sự ngăn cản, cá nhân ấy sẽ tự mình thực hiện và duy trì hành vi đó một cách hoàn toàn tự phát mà không cần bất cứ sự thúc đẩy nào khác. Sự hấp dẫn và thỏa mãn làm nên động lực nội tại có thể rất đa dạng, nhưng tựu chung có thể được chia ra làm ba loại chính: động lực tìm hiểu đến từ việc tìm tòi khám phá ra những điều mới mẻ, động lực thành tựu đến từ việc tạo nên một điều gì đó hoặc vượt qua giới hạn của bản thân, và động lực trải nghiệm đến từ việc tiếp nhận những kích thích cảm giác. Ví dụ về động lực nội tại có thể dễ dàng tìm thấy trong hầu hết các hoạt động giải trí của con người.

Động lực ngoại lai là động lực có nguồn gốc nằm bên ngoài hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Một cá nhân thực hiện một hành vi nào đó bằng động lực ngoại lai sẽ không làm như vậy vì bản thân hành vi ấy, mà để nhằm đạt được một mục đích nào đó tách biệt khỏi hành vi, và hành vi khi đó chỉ còn đóng vai trò là công cụ mà thôi. Vì lúc này bản thân hành vi không còn sinh ra động lực, nên động lực sẽ cần phải được tạo ra một cách “nhân tạo” từ một sự kiểm soát (regulation) nào đó. Thuyết tự chủ, do vậy, chia động lực ngoại lai ra làm bốn phân loại nhỏ hơn, dựa trên tính chất của sự kiểm soát nằm trong nó, đi từ không có tính tự chủ đến có tính tự chủ cao: sự kiểm soát từ bên ngoài (external regulation), sự kiểm soát đã tiêm nhiễm (introjected regulation), sự kiểm soát đã đồng nhất (identified regulation), và sự kiểm soát đã tích hợp (integrated regulation).

Sự kiểm soát từ bên ngoài là sự kiểm soát nằm hoàn toàn bên ngoài cá nhân, tức là sự  kiểm soát đến từ môi trường xung quanh. Sự kiểm soát dễ nhận thấy nhất thuộc dạng này là sự đe dọa và cưỡng ép, nhưng chúng cũng có thể là tiền bạc, danh vọng, địa vị, sự tán thưởng, kỳ hạn công việc, kỳ vọng của người thân, sự phán xét của xã hội… Tựu chung lại, một cá nhân bị kiểm soát từ bên ngoài sẽ thực hiện hành vi để nhằm đạt đến một kết quả tích cực nào đó, hoặc tránh khỏi một kết quả tiêu cực nào đó mà hoàn toàn không liên quan tới bản thân hành vi. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác không có sự lựa chọn hoặc chịu sự chi phối từ bên ngoài. Một ví dụ là một người làm việc chỉ để nhận lương, và luôn nghĩ rằng nếu không phải vì tiền thì mình đã nghỉ việc quách cho xong.

Sự kiểm soát đã tiêm nhiễm là sự kiểm soát đã xâm nhập phần nào đó vào bên trong nội tâm cá nhân, nhưng vẫn chưa được chấp nhận làm một phần của nhân cách tự thân. Sự kiểm soát thuộc dạng này thường được thể hiện dưới dạng các sức ép nội tâm như cảm giác nghĩa vụ, cảm giác xấu hổ,… Bản chất của sự kiểm soát này là sự tích tụ của những sự kiểm soát từ bên ngoài mà cá nhân đã trải nghiệm hoặc quan sát được trong quá khứ, được cá nhân ghi nhớ, đúc rút kinh nghiệm và chuyển hóa thành một sự tự kiểm soát bản thân để tránh khỏi các hậu quả của sự kiểm soát trực tiếp từ bên ngoài. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác mâu thuẫn nội tâm tương đối rõ ràng giữa áp lực tinh thần từ bên trong của sự kiểm soát và mong muốn thực sự của nhân cách tự thân cá nhân. Một ví dụ là một người làm việc để không trở thành người thất nghiệp vì sợ bị người xung quanh dè bỉu.

Sự kiểm soát đã đồng nhất là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận về nguyên tắc dựa trên giá trị mà hành vi mang lại, tuy có thể vẫn còn tồn tại sự xung đột ở mức độ nào đó. Sự kiểm soát thuộc dạng này dựa trên một sự đánh giá có ý thức về các mặt lợi hại của hành vi, cả về vật chất lẫn tinh thần, và một sự quyết định có ý thức về việc thực hiện hành vi đó từ nhân cách của cá nhân. Nói cách khác, sự kiểm soát đã đồng nhất xuất hiện khi cá nhân thực hiện một hành vi vì thấy điều đó đem lại giá trị cho bản thân và do vậy tự mình đứng về phía quyết định thực hiện hành vi đó, tức hành vi và lợi ích của cá nhân đã trở nên đồng nhất. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác trách nhiệm đối với hành vi của bản thân. Một ví dụ là một người làm việc vì đã đánh giá và quyết định rằng công việc đó đem lại lợi ích tiền bạc và kinh nghiệm lớn hơn tổng số thiệt hại mà nó đòi hỏi.

Sự kiểm soát đã tích hợp là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận hoàn toàn và tích hợp thành một bộ phận hài hòa với các bộ phận khác của nhân cách. Sự kiểm soát thuộc dạng này xuất phát từ nhu cầu hiện thực hóa nhân cách, tức nhu cầu thể hiện ra bên ngoài những hành vi thống nhất với nhận thức của cá nhân về bản thân mình. Khi đó, cá nhân sẽ thực hiện một hành vi vì đó là một phần của định nghĩa “tôi là ai” trong nội tâm cá nhân, và việc thực hiện hành vi sẽ củng cố thêm cho định nghĩa ấy, giúp cho nhân cách tự thân của cá nhân thêm rõ ràng và chắc chắn. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác tự hào và một sự ủng hộ tinh thần hoàn toàn đến từ bên trong nội tâm cá nhân đối với hành vi được thực hiện. Một ví dụ là một người làm việc vì cảm thấy công việc đó có ý nghĩa cao cả và phù hợp hệ giá trị đạo đức của bản thân.

Bốn cấp bậc của sự kiểm soát thể hiện cho những kết quả khác nhau của một quá trình nội tâm hóa (internalization) những quy củ và yêu cầu từ môi trường xung quanh của cá nhân. Thuyết tự chủ cho rằng con người là một sinh vật luôn có xu hướng tự nhiên là xây dựng nên một nhân cách, một “cái tôi” ngày một thống nhất và phức tạp hơn, thông qua việc thu nhận, tích hợp và tổ chức lại các trải nghiệm từ môi trường xung quanh thành một hệ thống hoàn chỉnh, hợp lý và mạch lạc. Quá trình nội tâm hóa, tức biến những sự kiểm soát tồn tại trong môi trường thành sự kiểm soát của bản thân, là một bộ phận của xu hướng tự nhiên kể trên. Khi quá trình nội tâm hóa diễn ra thành công, kết quả sẽ là những sự kiểm soát có tính tự chủ cao, mà cụ thể ở đây là động lực từ sự kiểm soát đã đồng nhất hoặc đã tích hợp. Sự kiểm soát từ bên ngoài hay đã tiêm nhiễm đều thiếu tính tự chủ và là kết quả của một quá trình nội tâm hóa không thành công.

Chú ý rằng sự phân loại động lực kể trên chỉ thuần túy mang tính học thuật chứ không ám chỉ sự tồn tại của năm thực thể động lực tách biệt nhau trong trí não con người. Thêm vào đó, các loại động lực khác nhau có thể cùng tồn tại ở những mức độ khác nhau đối với cùng một hành vi ở cùng một thời điểm. Một người có thể làm việc vừa để đảm bảo cuộc sống (sự kiểm soát từ bên ngoài), vừa vì một cảm giác nghĩa vụ với xung quanh (sự kiểm soát tiêm nhiễm), đồng thời vì muốn học hỏi kinh nghiệm cho bản thân (sự kiểm soát đã đồng nhất). Sự khác biệt nằm ở mức độ chi phối mạnh mẽ và thường trực của từng loại động lực trong nhận thức của cá nhân. Việc phân loại sự kiểm soát theo mức độ tự chủ từ thấp đến cao cũng không có nghĩa rằng quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó sẽ phải diễn ra qua từng thang bậc theo đúng thứ tự ấy, mà hoàn toàn có thể có sự “nhảy vọt”, tùy thuộc vào những yếu tố sẽ được nói đến sau.

Bên cạnh các phân loại động lực trên, để có thể giải thích đầy đủ các trạng thái động lực của con người, Thuyết tự chủ đưa ra thêm một khái niệm nữa là vô động lực (amotivation). Vô động lực là một trạng thái của cá nhân khi thực hiện một hành vi có ý thức (khác với vô thức và bản năng) mà không có động lực nào đáng kể cả. Trạng thái này thường xuất hiện khi cá nhân bị buộc phải thực hiện một hành vi mà bản thân cá nhân thấy vô nghĩa. Khi đó, cá nhân không nhận thấy được mối liên hệ giữa hành vi với kết quả, và do đó không thực hiện hành vi với chủ ý đạt được kết quả nhất định nào cả. Điều này dẫn đến hệ quả là cá nhân sẽ cảm thấy hoàn toàn chán chường, và sẽ chỉ thực hiện hành vi dưới dạng một loạt các cử động thân thể theo khuôn mẫu như máy móc, chứ không có sự suy nghĩ và đánh giá thường thấy ở hành vi có chủ đích. Bước tiếp theo của trạng thái vô động lực thường sẽ là việc cá nhân dừng hoàn toàn hành vi đang thực hiện.

3. Ba nhu cầu tinh thần cơ bản

Thuyết tự chủ cho rằng mỗi cá nhân con người có ba nhu cầu tinh thần cơ bản: nhu cầu tự chủ (autonomy), nhu cầu năng lực (competence), và nhu cầu kết nối (relatedness).

Nhu cầu tự chủ là nhu cầu cảm thấy mình là khởi nguồn cho những hành vi của bản thân, cảm thấy mình đang làm chủ được bản thân mình. Một cá nhân sẽ cảm thấy mình tự chủ khi cá nhân đó cảm thấy những hành vi và quyết định của mình là sự thể hiện của những giá trị trong nhân cách thực của bản thân, thay vì là kết quả của sự chi phối trực tiếp hay gián tiếp của những nhân tố nằm ngoài nhân cách ấy (đọc thêm Bàn về “nhân cách”). Chú ý rằng cảm giác về sự tự chủ không nhất thiết đồng nhất với sự tự do thường được nghĩ tới, tức là sự không bị giới hạn trong hành động. Một người hoàn toàn vẫn có thể quyết định cảm thấy mình có sự tự chủ ở mức độ nào đó khi làm theo yêu cầu của người khác, hay thậm chí trong những hoàn cảnh thường được cho là kìm kẹp và thiếu tự do như bị uy hiếp, bị giam cầm,… (đọc thêm Bàn về “tự do”)

Nhu cầu năng lực là nhu cầu cảm thấy mình có thể tương tác với môi trường xung quanh một cách có hiệu quả. Điều này bao gồm việc cảm thấy mình có thể dễ dàng lý giải được những sự vật sự việc đang tồn tại và diễn ra xung quanh, cũng như cảm thấy mình biết cách và có khả năng tác động để kiểm soát hoặc thay đổi được những sự vật sự việc ấy, và cuối cùng là cảm thấy sự tác động của mình thực sự đã đem lại được kết quả như mong muốn. Nhìn từ một góc độ nào đó, nhu cầu tự chủ có thể chỉ được coi là nhu cầu năng lực đối với việc kiểm soát cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, nhu cầu tự chủ chú trọng đến nguồn gốc của hành động (bản thân vs. bên ngoài), trong khi nhu cầu năng lực chú trọng đến kết quả (có hiệu quả vs. không có hiệu quả), và do đó hai khái niệm này là khác biệt nhau. Chú ý rằng cảm giác về năng lực không nhất thiết đồng nhất với năng lực thực sự nhìn từ các tiêu chuẩn khách quan.

Nhu cầu kết nối là nhu cầu cảm thấy mình có thể kết nối với môi trường xung quanh một cách gần gũi và có ý nghĩa. Môi trường xung quanh ở đây không chỉ giới hạn ở các cá nhân cụ thể, mà còn có thể là thú cưng hay vật nuôi, hay những cấu trúc xã hội hoặc tinh thần trừu tượng hơn như tổ chức, cộng đồng, dân tộc, quốc gia, hay thậm chí là thế lực siêu nhiên nào đó như thánh thần, Mẹ thiên nhiên,… Nhu cầu này thường được thỏa mãn khi cá nhân cảm thấy mình đang quan tâm, chăm sóc và bảo vệ, và được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ bởi môi trường xung quanh, cảm thấy mình đang là một phần, đang thuộc về một cái gì đó lớn lao hơn. Chú ý rằng sự kết nối ở đây không phải là một công cụ để đạt đến một mục đích khác (vd. tình dục), mà giá trị thỏa mãn nhu cầu nằm ở chính bản thân sự kết nối, vì nó mang lại cho cá nhân cảm giác an toàn trước sự đơn độc và đe dọa cố hữu của cuộc sống con người.

Ba nhu cầu tinh thần cơ bản nói trên, đúng như tên gọi, có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất, chúng là nhu cầu tinh thần, và do đó sự thỏa mãn của chúng sẽ được quyết định bởi trạng thái tinh thần của chính cá nhân, mà ở đây đã được nhấn mạnh thông qua từ “cảm thấy”, chứ không phải bởi các yếu tố khách quan. Tất nhiên, từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng môi trường xung quanh đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đối với các nhu cầu này, nhưng xét cho cùng vai trò ấy vẫn chỉ là gián tiếp mà thôi. Thứ hai, các nhu cầu này là nhu cầu cơ bản, tức là chúng tồn tại trong tất cả mọi cá nhân con người, bất kể sự khác biệt về độ tuổi, giới tính, thể chất, địa vị, tài sản, văn hóa hay nhân cách. Tuy nhiên, tùy vào những yếu tố khác biệt đó mà các nhu cầu này có thể được thể hiện ra dưới các dạng khác nhau và cần được thỏa mãn bằng những cách thức khác nhau.

Việc các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng có mối liên hệ mật thiết với cảm giác của cá nhân về sức khỏe và hạnh phúc của bản thân, cả về thể chất lẫn tinh thần. Cụ thể, những người có nhu cầu tinh thần được thỏa mãn tốt thường cũng sẽ có lòng tự trọng cao hơn, hoạt bát hơn, ít bồn chồn lo âu hơn, và có ít các triệu chứng tinh thần thể hiện ra ở cơ thể hơn. Một điểm thú vị là những nghiên cứu về nhu cầu tinh thần cơ bản cũng chỉ ra những kết quả kể trên có mối liên hệ tiêu cực, tức tỷ lệ nghịch, với việc theo đuổi những mục tiêu nằm bên ngoài bản thân, vd. của cải, danh tiếng và hình ảnh. Từ đó có thể suy đoán rằng những mục tiêu kể trên không phục vụ cho những nhu cầu tinh thần thiết thực của con người, và mối liên hệ tiêu cực với sức khỏe và hạnh phúc có thể được lý giải là do việc theo đuổi những mục tiêu ấy khiến cho việc đáp ứng những nhu cầu tinh thần thực sự cần thiết bị sao nhãng và thậm chí là bị cản trở.

Nhưng điểm quan trọng hơn đối với bài viết này, đó là các nghiên cứu khoa học còn cho thấy khi các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng đầy đủ, thì động lực của cá nhân có xu hướng dịch chuyển về phía các phân loại động lực có tính tự chủ cao. Không khó để thấy rằng một hành vi làm thỏa mãn một nhu cầu tinh thần nào đó của cá nhân sẽ khiến cá nhân nảy sinh động lực nội tại đối với hành vi đó. Nhưng không chỉ có vậy, khi các yếu tố xã hội từ môi trường xung quanh hỗ trợ các nhu cầu tinh thần của cá nhân trong quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó, thì sự nội tâm hóa ấy cũng sẽ có xu hướng tạo nên những sự kiểm soát có tính tự chủ cao hơn. Ngược lại, nếu như môi trường xung quanh ngăn cản và chống lại các nhu cầu tinh thần cơ bản, đặc biệt là nhu cầu tự chủ, thì không những sự kiểm soát được tạo nên sẽ nghiêng về các phân loại thiếu tính tự chủ, mà cả động lực nội tại của cá nhân cũng sẽ bị đè nén và xóa sổ.

4. Phạm vi động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tồn tại ở ba mức độ phạm vi khác nhau: phạm vi toàn cục (global), phạm vi ngữ cảnh (contextual), và phạm vi tình huống (situational).

Động lực toàn cục là khuynh hướng động lực chung nhất và có ảnh hưởng bao quát khắp toàn bộ mọi mặt cuộc sống của cá nhân. Đây cũng thường là động lực ổn định nhất về mặt định lượng lẫn định tính, và thể hiện cho việc cá nhân có xu hướng tiếp cận và thực hiện mọi hành vi với động lực nội tại hay ngoại lai hay vô động lực. Một cá nhân sinh ra thường bắt đầu với một khuynh hướng động lực toàn cục mang tính nội tại thuần túy và sơ khai. Sau đó, động lực toàn cục của cá nhân sẽ  được định hình (uốn nắn?) dần trong quá trình cá nhân xây dựng nên một nhân cách cho riêng mình.

Động lực ngữ cảnh là khuynh hướng động lực có ảnh hưởng bao trùm trong một phân vùng cụ thể nào đó, hay một ngữ cảnh, trong cuộc sống của cá nhân. Ở mức độ rộng nhất, động lực ngữ cảnh có ba phân vùng chính: công việc (bao gồm cả việc học tập), giải trí và quan hệ con người. Đi xuống sâu hơn, động lực ngữ cảnh có thể được chia ra cho từng hoạt động nhất định như đàn hát, bơi lội, chạy bộ, tiệc tùng, tán phét,… Động lực ngữ cảnh tương đối ổn định, nhưng vẫn có thể chịu ảnh hưởng và bị thay đổi bởi môi trường xung quanh. Đồng thời, động lực ngữ cảnh cũng chỉ có ảnh hưởng trong ngữ cảnh cụ thể của nó, chứ không hề có ảnh hưởng gì đến các hành vi ở những ngữ cảnh hoàn toàn tách biệt khác.

Động lực tình huống là động lực trong từng tình huống cụ thể trong cuộc sống của cá nhân. Nói cách khác, động lực tình huống là động lực của cá nhân đối với từng tác vụ cụ thể ở từng thời điểm cụ thể. Từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng động lực tình huống chịu ảnh hưởng ngay lập tức bởi nội dung của tác vụ, kết quả của hành vi, cũng như các yếu tố trong môi trường xung quanh, và do đó động lực tình huống rất không ổn định và có thể thay đổi nhanh chóng cả về chất và lượng qua từng thời điểm.

Việc phân chia động lực theo mức độ phạm vi có ý nghĩa như thế nào? Trước hết, theo Thuyết tự chủ thì động lực ở một phạm vi nhất định sẽ chịu sự tác động và điều chỉnh chủ yếu từ những yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương. Theo đó, động lực toàn cục sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở phạm vi toàn cục, tức những yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến mọi mặt hoặc nhiều mặt của cuộc sống cá nhân một cách lâu dài (vd. gia đình, cộng đồng, Nhà nước,…), động lực ngữ cảnh sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở từng phạm vi ngữ cảnh cụ thể, tức là những yếu tố xã hội có tính bao trùm trong ngữ cảnh đó (vd. động lực đối với việc học tập sẽ chịu ảnh hưởng chính từ nhà trường, giáo viên,…). Điều này sẽ giúp việc xác định động lực cần tác động và những yếu tố xã hội cần được thay đổi để tạo nên tác động một cách chính xác hơn.

Thêm vào đó, bên cạnh việc phụ thuộc vào sự hỗ trợ hay ngăn cản nhu cầu tinh thần của các yếu tố xã hội ở phạm vi tương ứng, động lực ở một phạm vi thấp hơn còn chịu ảnh hưởng của động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Điều này có nghĩa là động lực tình huống của một hành vi sẽ chịu ảnh hưởng từ động lực ngữ cảnh của ngữ cảnh bao trùm hành vi và tình huống đó, đồng thời chịu ảnh hưởng ở mức độ nhỏ hơn từ động lực toàn cục. Có thể hình dung rằng động lực toàn cục và động lực ngữ cảnh tồn tại như những nền móng hay bản vẽ cơ sở khi động lực tình huống của cá nhân được hình thành trong mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Cuối cùng, đồng thời và ngược lại với ảnh hưởng từ trên xuống được nói đến ở trên, động lực ở phạm vi thấp hơn cũng sẽ có ảnh hưởng mang tính đệ quy tới động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Nói cách khác, nếu như động lực tình huống của cá nhân trở nên thiếu tự chủ trong nhiều hành vi và tình huống cụ thể một cách lặp đi lặp lại, thì điều đó sẽ có tác động đến động lực ngữ cảnh tương ứng, khiến cho động lực ngữ cảnh cũng trở nên dần dần thiếu tự chủ hơn, và thông qua đó cuối cùng sẽ gây ảnh hưởng đến động lực toàn cục của cá nhân. Điều này giải thích lý do vì sao động lực ở mỗi phạm vi lại chịu tác động chủ yếu bởi các yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương: đó là vì việc định hình nên các động lực ở phạm vi lớn đòi hỏi sự tác động liên tục kéo dài và nhất quán trong hàng loạt các tình huống, điều mà chỉ có các yếu tố xã hội bao trùm trên các phạm vi lớn tương ứng mới có thể tạo ra được.

5. Ảnh hưởng của động lực

Các nghiên cứu khoa học của Thuyết tự chủ đã cho thấy phân loại động lực trong hành vi của con người có liên hệ mật thiết với nhiều hệ quả và phẩm chất quan trọng ở nhiều mặt khác nhau của cuộc sống, mà cụ thể là hiệu quả hành động, tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, tính tự giác và tính bền bỉ.

Cụ thể, các hệ quả và phẩm chất kể trên được thể hiện ra tích cực nhất khi động lực hành vi là động lực nội tại, và suy giảm dần theo từng thang bậc mức độ tự chủ của động lực, thể hiện ra một cách tiêu cực nhất ở trạng thái vô động lực. Ba phân loại động lực mang lại kết quả tích cực hơn các động lực còn lại là động lực dựa trên sự kiểm soát đã đồng nhất và đã tích hợp (gọi tắt là động lực đồng nhất và động lực tích hợp), cùng với động lực nội tại, được xếp vào nhóm các phân loại động lực tự chủ. Đặc điểm chung của các phân loại động lực tự chủ là cá nhân cảm thấy mình có quyền lựa chọn, và đã tự mình lựa chọn, việc thực hiện hành vi. Đồng thời, lý do cho sự lựa chọn đó cũng bắt nguồn từ bên trong cá nhân: một kết quả đánh giá dựa trên hệ giá trị của bản thân (động lực đồng nhất), một sự mong muốn thể hiện nhân cách bản thân (động lực tích hợp), hoặc những cảm xúc và cảm giác của bản thân khi thực hiện hành vi (động lực nội tại).

Hiệu quả tích cực của các loại động lực tự chủ có thể dễ dàng được lý giải dựa trên những tính chất đã được trình bày ở trên. Trước hết, với các loại động lực tự chủ, tâm trí cá nhân được giải thoát khỏi sự giằng co giữa nhu cầu tự chủ với sự chi phối từ xung quanh như ở sự kiểm soát bên ngoài, hay với sự chi phối của áp lực tâm lý bên trong như ở sự kiểm soát tiêm nhiễm, và do đó cá nhân được tự do dành toàn bộ năng lượng tinh thần và sự tập trung cho hành vi đang thực hiện. Thứ nữa, khi cảm thấy mình không bị kiểm soát bởi một yếu tố nào khác ngoài mong muốn của chính bản thân, cá nhân sẽ có được sự tự do tinh thần để mạnh dạn thử nghiệm những ý tưởng và phương pháp mới thay vì lựa chọn những con đường an toàn hơn. Cuối cùng, do nguồn gốc đến từ những mong muốn và cảm xúc của riêng cá nhân, nên động lực tự chủ có thể được phát huy và duy trì một cách độc lập mà không bị phụ thuộc vào sự tồn tại và tác động liên tục của các yếu tố từ môi trường xung quanh.

Đặc biệt hơn, động lực nội tại thường được gắn với trạng thái “cuốn chảy” (flow), một trạng thái trải nghiệm được cho là tối ưu của con người, trong đó cá nhân đắm chìm hoàn toàn vào hành vi mình đang thực hiện với một cảm giác tập trung cao độ, toàn tâm toàn trí, nhiều khi quên đi ý thức về không gian, thời gian và thậm chí là cả bản thân. Lý thuyết về “cuốn chảy”, một học thuyết khác nằm ngoài Thuyết tự chủ, cho rằng trạng thái này có thể đạt được nếu có đủ ba yếu tố: 1. cá nhân bắt tay vào một hoạt động nào đó một cách có chủ ý, có mục đích và có lộ trình rõ ràng, 2. các tác vụ cụ thể trong hoạt động đó đem lại phản hồi một cách nhanh chóng và rõ ràng, và 3. cá nhân có cảm nhận về mức độ thử thách trước mắt cân bằng với cảm nhận về năng lực của bản thân.

Nhìn từ quan điểm động lực, trạng thái “cuốn chảy” có thể được giải thích dưới dạng một vòng xoáy tích cực của động lực nội tại. Cụ thể, việc cảm thấy mức độ thử thách tương xứng với năng lực khiến cho cá nhân có tự tin vào năng lực của mình, và từ đó nảy sinh động lực nội tại đối với việc thực hiện tác vụ trước mắt để thỏa mãn hơn nữa nhu cầu năng lực của bản thân. Động lực nội tại đó khiến cho cá nhân có khả năng cao hơn trong việc hoàn thành tốt tác vụ, và việc tác vụ phản hồi nhanh chóng sẽ khiến cho nhu cầu năng lực của cá nhân lập tức được thỏa mãn, làm nảy sinh thêm động lực nội tại đối với hoạt động. Cuối cùng, việc có chủ ý, mục đích và lộ trình toàn cục cho hoạt động sẽ giúp cho cá nhân kết nối tới và bắt đầu tác vụ tiếp theo một cách nhanh chóng và trơn tru, bảo toàn được động lực nội tại đã nảy sinh và được bồi đắp từ tác vụ trước, làm nên một chuỗi “phản ứng dây chuyền” kéo dài và có thể càng lúc càng mạnh thêm.

Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng chú ý giữa động lực nội tại với hai loại động lực ngoại lai có tính tự chủ còn lại. Theo đúng định nghĩa, động lực nội tại phụ thuộc vào tính hấp dẫn của hành vi đối với cá nhân, và do đó thường chỉ tồn tại trong phạm vi từng tác vụ hoặc hoạt động cụ thể. Điều này trái ngược với động lực đồng nhất và tích hợp, vốn là các động lực nhắm tới việc đạt được một giá trị nào đó hoặc thể hiện một khía cạnh nào đó của nhân cách cá nhân, và do đó thường tồn tại một cách bao quát và liền mạch trong suốt quá trình đi đến một mục đích nhất định. Nói đơn giản hơn, động lực nội tại có xu hướng cục bộ và hướng tác vụ, trong khi động lực đồng nhất và tích hợp có xu hướng toàn cục và hướng mục đích. Sự khác biệt này khiến cho động lực nội tại thuần túy thường không đem lại kết quả cao so với động lực đồng nhất và tích hợp đối với những hoạt động “dài hơi”, đòi hỏi sự kiên trì cao và bao gồm trong nó nhiều hành vi kém hấp dẫn. Trạng thái động lực lý tưởng, do vậy, là một sự kết hợp giữa động lực nội tại trong từng tác vụ cụ thể với động lực đồng nhất hoặc tích hợp đứng sau hỗ trợ và duy trì hoạt động ở cấp độ bao quát hơn.

(còn tiếp)

 

Bàn về cái sự “học”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “How children fail” và “How children learn” của John Holt, “Thinking Fast and Slow” của Daniel Kahneman.

1. Mô hình thế giới thu nhỏ

Có khi nào chúng ta tự hỏi: chúng ta ghi nhớ tri thức như thế nào? Tri thức tồn tại trong trí não chúng ta dưới dạng gì? Nhìn vào cung cách dạy và học ở trong hệ thống trường lớp chính quy hiện nay, dường như phần đông chúng ta, hay ít nhất là phần đông những người làm giáo dục, tin rằng tri thức tồn tại dưới dạng các câu trả lời, các “chân lý” và “sự thật” được diễn giải bằng ngôn từ và ghi nhớ nguyên xi trong trí não. Tuy nhiên tôi không nghĩ vậy. Nhiều nhà giáo dục và tâm lý học đã nhắc đến việc tri thức tồn tại trong trí não của con người dưới dạng một mô hình đơn giản hóa của thế giới xung quanh. Theo cách hiểu của tôi, mô hình đó bao gồm những khái niệm, những tính chất, những quan hệ, và những quy luật mà mỗi chúng ta quan sát được từ thế giới xung quanh và được diễn giải bằng suy nghĩ của bản thân mà không cần phải có ngôn từ.

Mô hình đó mô tả lại thế giới xung quanh nhưng không nhất thiết phản ánh đúng toàn bộ bản chất thế giới xung quanh, mà nó chỉ phản ánh cách chúng ta quan sát và lý giải thế giới tại một thời điểm nhất định, với những giới hạn về năng lực, kinh nghiệm và môi trường tại thời điểm đó. Mô hình này trống rỗng khi chúng ta mới sinh ra, và được bồi đắp thêm, sửa chữa lại, bỏ bớt đi theo quá trình trường thành của chúng ta. Cấu trúc của nó có thể giống như một tập hợp các trang wikipedia, nhưng được viết bằng suy nghĩ, hình ảnh và cảm giác chứ không phải ngôn từ. Mỗi trang viết về một đề tài tương đương với một khái niệm được lưu giữ trong trí não. Nội dung của trang sẽ chứa những tính chất, quy luật, ký ức,… của chúng ta về khái niệm đó. Đồng thời trong mỗi trang sẽ có những đường link đến các trang khác, thể hiện cho các mối dây liên kết giữa các khái niệm với nhau. Chỉ có điều số lượng khái niệm và quan hệ cũng như lượng thông tin mà chúng ta lưu giữ sẽ lớn hơn rất nhiều một trang wikipedia thông thường, trong khi đó công cụ tìm kiếm lại thường là thiếu tin cậy.

2. Việc “học” diễn ra thế nào

Việc “học” là việc tiếp thu thông tin mới. Khi tiếp thu một thông tin nào đó, chúng ta sẽ sử dụng mô hình thế giới mà mình đang có để diễn dịch thông tin đó thành suy nghĩ của bản thân, đồng thời tìm cách lý giải và phân loại thông tin đó, để xác định xem nó nói về cái gì trong mô hình của chúng ta, và nó có “hợp lý” hay không. Nếu thông tin đó chứa những khái niệm mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những khái niệm đó trong mô hình. Nếu thông tin đó chỉ ra những mối quan hệ mới, chúng ta sẽ phải tạo ra những kết nối mới giữa các khái niệm trong mô hình với nhau. Những tính chất, quy luật mới sẽ được ghi chú lại vào những khái niệm tương ứng. Tóm lại, việc học không đơn giản chỉ là ghi nhớ tri thức, mà là một quá trình diễn dịch, lý giải tri thức và sau đó kết nối, hòa nhập tri thức vào mô hình thế giới của cá nhân, tương tự như quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể vậy.

Tuy nhiên, cùng một tri thức không phải bao giờ cũng sẽ được tiếp thu như nhau. Một đứa trẻ chưa có khái niệm gì về ký hiệu toán học hay tổng, tích, bằng sẽ chỉ thấy “3×3=9” là mấy đường kẻ ngoằn ngoèo vô nghĩa. Một đứa trẻ mới chỉ học thuộc bảng cửu chương mà chưa thực sự nắm được khái niệm tính nhân rất có thể sẽ chỉ nhớ rằng “3×3=9” và “3×4=12” mà sẽ không hiểu được rằng “3×4=3×3+3”, và nếu có được dạy điều đó cũng rất có thể sẽ chỉ coi đó là một tri thức mới mà không nhận ra đó là một quan hệ có thể suy ra từ tri thức đã có. Khi tri thức mới không tạo được kết nối với mô hình thế giới đã có bên trong trí não chúng ta, và không thể được kiểm chứng bằng mô hình đó, thì đối với trí não chúng ta lúc đó tri thức ấy chưa được “chứng minh”, không có tính “hợp lý”, không mang theo “ý nghĩa”, mà đơn giản chỉ là một “dữ liệu” xa lạ. Nếu bị bắt buộc chúng ta vẫn có thể ghi nhớ một cách gượng ép, nhưng khi đó tri thức ấy sẽ chỉ được “neo tạm” với mục đích đối phó mà sẽ không được tin tưởng dùng đến trong cuộc sống, trừ khi bị kiểm tra.

Nhìn vào cách học và dạy học thường thấy trong trường lớp, tôi có cảm tưởng là chúng ta nghĩ rằng việc “học” tri thức là việc “nuốt trôi” tri thức, như đổ nước vào bình vậy. Chúng ta nghĩ rằng cứ truyền tải được, nhớ được là đã học được, nên chúng ta mặc định rằng dạy học hiệu quả là truyền tải được thật nhiều tri thức, và đánh đồng việc dạy học với việc học. Thêm vào đó, chúng ta cũng không mấy quan tâm xem từng người học có sẵn sàng và mong muốn đón nhận tri thức hay không, mà cứ nhắm mắt dạy theo một giáo trình và thời gian biểu khuôn mẫu. Kết quả là các nhà giáo dục nước ta chỉ thấy bàn về việc cải tiến phương pháp dạy, dạy cái gì vào lớp mấy, làm thế nào để dạy học hiệu quả hơn, chứ tuyệt không thấy mấy ai tìm hiểu xem người học học thế nào, người học muốn học cái gì, làm thế nào để người học học hiệu quả hơn. Rốt cuộc chúng ta dạy là để giúp người học học hay là dạy chỉ để dạy, để thỏa mãn mục đích ích kỷ của chúng ta?

3. “Chân lý” nằm ở đâu

Nếu hỏi một nhà khoa học đích thực xem cái gì quyết định đúng sai, thì có lẽ người đó sẽ trả lời là “thực tiễn”. Nhưng nếu hỏi một em học sinh xem ai có quyền quyết định đúng sai, thì tôi dám chắc câu trả lời sẽ là “thầy cô giáo”. Một nhà khoa học tìm kiếm chân lý bằng cách quan sát thực tiễn, đưa ra các giả thuyết, và kiểm nghiệm các giả thuyết đó bằng thực tiễn. Mỗi giả thuyết thể hiện cho một cách hiểu, một cách nhìn đối với cùng một thực tiễn, và nhiều giả thuyết khác nhau, thậm chí trái ngược, có thể song hành cùng tồn tại cho đến khi bị chứng minh là sai. Đó là khoa học. Còn ở trong trường lớp, thầy cô giáo (và SGK) là người nắm độc quyền đối với “chân lý”. Mọi “chân lý” đều xuất phát từ thầy cô giáo, muốn biết “chân lý” chỉ có thể hỏi thầy cô giáo. Mọi kết luận và kết quả mà người học đưa ra đều phải qua sự đánh giá đúng sai của thầy cô giáo. Người học không có công cụ và quyền hạn để tự đánh giá và kiểm chứng thành quả trí óc của chính mình, cũng như không được có cơ hội và sự giúp đỡ để tự do tìm kiếm chân lý của riêng mình.

Hậu quả là những thứ chúng ta đang dạy trong trường lớp, nhìn từ phía người học, đơn giản chỉ là “cách để có kết quả được thầy cô giáo chấp nhận là đúng” chứ không phải là tri thức và kỹ năng gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Người học học những quy trình, quy luật và nội dung do thầy cô giáo đưa ra, nhưng hầu như không có cách nào tự mình kiểm chứng xem những gì mình học có “đúng” hay không, có “hợp lý” hay không, có ý nghĩa gì hay không, mà chỉ có thể nộp bài cho thầy cô giáo chấm và cầu trời được điểm tốt. Ở trường lớp, người học bị buộc phải học và sống trong một thế giới khác, tách biệt với thực tiễn cuộc sống, một thế giới mà mọi chân lý đều đã ghi cứng trong sách vở và mọi luật lệ do thầy cô giáo nắm trong tay. Trong thế giới đó không có chỗ cho sự nghi ngờ và kiểm chứng, sự tìm tòi và khám phá, hay sự khác biệt và tự do, mà chỉ có sự phục tùng và chấp nhận vô điều kiện mà thôi.

Nói cách khác, những cái chúng ta đang dạy trong trường lớp, tuy hầu hết mang danh khoa học, nhưng thường xuyên được truyền tải bằng một phương pháp không hề có tính khoa học, mà giống với việc giảng đạo trong các tôn giáo cực đoan khi nói về thần quyền hơn. Chân lý thực sự phải đến từ thực tiễn, hoặc ít nhất là đến từ niềm tin của chính bản thân người học, chứ không phải do người ngoài áp đặt lên. Người học phải được nghi ngờ và kiểm chứng tri thức trong thực tiễn hoặc trong mô hình thế giới của bản thân, phải được từ chối những tri thức mình chưa sẵn sàng tiếp thu hay không cảm thấy thuyết phục, và phải được giữ những suy nghĩ, cách nhìn nhận của riêng bản thân cho đến khi tự mình nhận thấy cần sửa đổi. Tri thức ở trường lớp chỉ cần đọc sách cũng có thể biết, nhưng khả năng tự học và suy nghĩ độc lập phải được nuôi dưỡng mới có thể có được.

4. Thế nào là “tự học”

Chúng ta thường có một định kiến rằng chỉ có thầy cô giáo và trường lớp mới có tư cách và khả năng “dạy học”, rằng không có họ thì người học không thể “học” được, rằng không có sự dẫn dắt, thôi thúc, bắt ép, kiểm tra của họ thì người học sẽ ngồi không chứ không “tự học”. Thực tế một đứa bé mới sinh ra đã có khả năng tự học và tính ham học rất cao. Lượng tri thức và kỹ năng mà một đứa trẻ tự học được cho đến trước khi vào trường lớp là rất lớn, và có ý nghĩa thực tế hơn rất nhiều những gì nó bị bắt phải học suốt mười mấy năm sau đó. Những tri thức và kỹ năng đó bao gồm những khái niệm căn bản về hình dạng, mùi vị, màu sắc, về những đồ vật, con người và môi trường xung quanh, những hiểu biết căn bản về giao tiếp người với người, về tiếng mẹ đẻ, và các quy luật tự nhiên đơn giản nhất như vật buông ra thì rơi, hay vật cứng bẻ mãi thì gãy, nhưng vật mềm thì ko gãy,… Trẻ em chỉ mất đi khả năng và ham muốn tự học khi phải bước vào trường lớp mà thôi.

Vậy một đứa trẻ tự học như thế nào? Câu trả lời rất đơn giản: bằng cách lặp đi lặp lại quá trình thu thập thông tin, rút ra kết luận, rồi kiểm nghiệm kết luận đó. Một ví dụ đơn giản là khi trẻ khóc mà mẹ lập tức chạy lại chỗ trẻ, và việc này được lặp đi lặp lại, thì trẻ sẽ hiểu rằng hành động khóc của mình có thể tạo nên sự thay đổi, có thể lôi kéo sự chú ý của mẹ, tức là mình có thể “giao tiếp” được với mẹ. Quá trình này có thể diễn ra một cách vô thức, và những tri thức thu được cũng không hề cần được diễn giải bằng ngôn từ. Việc tự học ở các độ tuổi sau này cũng giống như vậy về bản chất. Thông tin có thể được thu thập qua quan sát thực tiễn hay tiếp thu các nguồn thông tin có sẵn từ sách vở hay truyền miệng. Việc kiểm nghiệm có thể được diễn ra bằng thí nghiệm thực tiễn, đối chiếu nhiều nguồn, hay đơn giản là một phép đánh giá mức độ “hợp lý” trong mô hình thế giới của cá nhân.

Tự học là hình thức học hiệu quả nhất, vì chúng ta chỉ tự học những thứ chúng ta thấy có hứng thú, có mong muốn, có nhu cầu, và đã sẵn sàng để học. Nếu ai đó có thấy quá trình tự học nói trên có phần quen thuộc, thì có lẽ là bởi toàn bộ công cuộc khám phá khoa học của con người cũng chính là một quá trình tự học. Có người có thể cho rằng việc để cho người học tự mình khám phá những tri thức đã có sẵn là việc “phát minh lại cái bánh xe”. Tôi không cho là vậy. Nhân loại đã phát minh ra cái bánh xe, nhưng đối với một đứa trẻ chưa nhìn thấy cái bánh xe bao giờ, thì cái bánh xe vẫn là một thứ mới lạ so với mô hình thế giới mà đứa trẻ đó đang mang trong mình, và do đó cần có quá trình khám phá và kết nối như mọi tri thức khác. Đứa trẻ cũng không cần phải phát minh lại cái bánh xe, mà cái bánh xe đã có sẵn ở đó, ở khắp nơi quanh nó, chỉ đợi đứa trẻ quan sát và học hỏi mà thôi.

5. Điều kiện cho việc tự học

Để có thể tự học được, chúng ta cần có một số điều kiện nhất định: 1. một môi trường tương đổi ổn định không quá hỗn loạn, 2. cơ hội và thời gian để quan sát, kết luận và kiểm nghiệm, và 3. phản hồi rõ ràng và nhanh chóng từ môi trường xung quanh. Đối với điểm 1, toàn bộ hệ thống tri thức của con người được xây dựng dựa trên tiền đề là môi trường xung quanh chúng ta hoạt động theo những quy luật nhất định, và chúng ta có thể đoán trước kết quả nếu nắm được những quy luật đó. Một môi trường quá hỗn loạn, thay đổi liên tục và đầy bất ngờ sẽ khiến cho người học không thể nhìn ra được những hình mẫu và quy luật ẩn trong đó. Hãy tưởng tưởng thế giới sẽ loạn thế nào nếu như cùng một đoạn thẳng mà mỗi lần đo lại ra một chiều dài khác nhau? Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên vì thế mà tạo một môi trường giả tạo, “nhà kính” dành riêng cho người học, mà chỉ nên hạn chế sự hỗn loạn ở một mức độ vừa phải để không che lấp đi các quy luật.

Điểm 2 là điểm yếu căn bản của hệ thống trường lớp hiện tại. Thông thường, chúng ta không ghi nhớ từng chi tiết, từng thông tin trong cuộc sống. Chỉ khi chúng ta bắt gặp một thông tin nhiều lần, hoặc thông tin đó để lại ấn tượng, gây sự hứng thú, thì chúng ta mới bắt đầu nhận ra, để ý đến, và xử lý nó một cách thực sự. Chúng ta học bằng cách tắm mình trong biển thông tin thô, và chỉ giữ lại một lượng nhỏ thông tin nguyên liệu mà chúng ta thấy có giá trị để biến thành sản phẩm hoàn thiện là tri thức. Việc thu thập thông tin diễn ra nhanh hay chậm, theo thứ tự nào, tập trung vào mảng nào phụ thuộc vào sở thích và năng khiếu của từng người. Trong khi đó hệ thống giáo dục ở trường lớp, vì nôn nóng hay vì không hiểu và không tin tưởng vào quá trình tự học, lại chỉ muốn người học chấp nhận và nuốt trôi những sản phẩm cuối cùng một cách nhanh chóng theo một thời gian biểu định trước.

Điểm 3 có lẽ là điểm ít được để ý đến. Tốc độ và mức độ rõ ràng của các phản hồi đối với những thí nghiệm của người học, dù phản hồi đó đến từ môi trường hay người hướng dẫn, đóng vai trò rất lớn đến tốc độ và chất lượng của quá trình tự học. Đó cũng chính là lý do vì sao các ngành khoa học tự nhiên thường chính xác và cụ thể hơn các ngành khoa học xã hội: trái với xã hội loài người, tự nhiên là một nguồn phản hồi nhanh chóng và chất lượng. Một ví dụ cho lĩnh vực có phản hồi tốt và do đó rất thích hợp cho tự học là công nghệ thông tin. Máy tính phản hồi tức khắc, và trong cùng một điều kiện luôn cho phản hồi giống nhau. Điều tương tự cũng có thể áp dụng vào việc đào tạo nhân viên hay bất cứ đối tượng nào khác. Việc đưa ra phản hồi thường xuyên và rõ ràng sẽ có hiệu quả tốt hơn là gom góp và chờ đợi. Điều quan trọng cần nhớ là hãy để phản hồi chỉ là phản hồi, không nên là sự uốn nắn và chỉ trích. Việc sử dụng phản hồi như thế nào nên được để cho người học tự quyết định.

6. Cần gì phải “kiểm tra”

Một trong những sự cản trở việc học tập mà hệ thống trường lớp gây ra cho người học, bên cạnh việc độc quyền chân lý và bóp chết khả năng tự học, là việc “nghiện” kiểm tra. Các kỳ kiểm tra, thi thố được thực hiện với mục đích “đánh giá kết quả học tập” của người học. Nhưng cá nhân tôi cho rằng việc kiểm tra không nói lên chính xác lượng và chất của tri thức, mà đơn thuần chỉ đánh giá khả năng làm bài kiểm tra của người học mà thôi. Có lẽ ở Việt Nam không có người nào ảo tưởng đến mức thực sự tin rằng kết quả bài thi tốt nghiệp THPT nói lên trình độ tri thức tổng quát cần có ở một học sinh THPT khi bước vào xã hội. Vì nếu quả thực như vậy, thì hãy thử cho tất cả những người đã tốt nghiệp làm lại một bài thi đột xuất xem sao. Chắc chắn quá nửa số người sẽ trượt thẳng cẳng, tức là không đủ tư cách tốt nghiệp THPT. Vậy tại sao họ lại được mang bằng THPT, được ra xã hội làm việc? Chỉ riêng sự tồn tại của khái niệm “học ôn thi” đã đủ nói lên sự vô nghĩa của các bài thi đó.

Trên thực tế, các bài kiểm tra là một hình thức phạt đòn đối với người học, là cây gậy trong chiến lược cây gậy và củ cà rốt. Mà đã là phạt đòn, thì sẽ gây ra sự sợ hãi và đối phó. Người học sẽ học để có thể đạt điểm tốt, thay vì học để thu tri thức về mình, để khám phá thế giới, để cảm nhận sự vui thú của bản thân việc học. Gần đây giới giáo dục có câu nói “cần gì, học nấy”, nhưng chừng nào còn có kiểm tra và thi cử, thì thực tiễn sẽ vẫn mãi là “thi gì, học nấy” mà thôi. Tất nhiên tôi không phủ nhận hoàn toàn vai trò của việc thi cử. Tất cả các tổ chức hoàn toàn có quyền yêu cầu một kết quả thi nhất định trước khi cấp chứng chỉ hay nhận đầu vào. Các bài kiểm tra cũng là một công cụ tốt để người học đánh giá tiến bộ, miễn là nó không mang tính bắt buộc và không có hậu quả về sau. Nếu chúng ta biến việc thi thố kiểm tra thành một phần của việc học với những hậu quả tâm lý và sự nghiệp nặng nề, thì tức là chúng đang phá hoại động lực học tập tự thân của người học.

7. “Thoát trường học”

Giải pháp mà cá nhân tôi thấy hợp lý nhất cho những hạn chế của hệ thống trường lớp hiện nay có thể được tìm thấy trong phong trào “thoát trường học” (unschooling), bắt đầu xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970. Phong trào này đề cao tính tò mò và khả năng tự học của trẻ em, và cho rằng quyền quyết định học gì, vào lúc nào và bằng cách nào nên thuộc về trẻ em. Trẻ em có thể học bằng cách quan sát xung quanh, đọc sách báo tư liệu, trải nghiệm thực tế, tiến hành thí nghiệm, thực hiện các dự án, kể cả tham gia các khóa học thông thường,… Người hướng dẫn (cha mẹ, thầy cô giáo) sẽ chỉ có vai trò giúp đỡ bằng cách cung cấp tư liệu học, dẫn trẻ đến những nơi giúp ích cho việc học, đưa ra các gợi ý, hướng dẫn và câu trả lời khi được yêu cầu, quan sát và ghi chép tiến trình học, đảm bảo an toàn cho trẻ trong quá trình học, và nói chung là hỗ trợ nhưng không điều khiển việc học.

Trong phương pháp học này, trẻ em được chịu trách nhiệm và tự do theo đuổi mơ ước, sở thích, năng khiếu và nhu cầu học của bản thân. Việc học cũng sẽ được diễn ra không theo một thời gian biểu cố định nào, mà tùy vào mức độ sẵn sàng của trẻ, vì mỗi đứa trẻ đều có con đường phát triển trí não của riêng mình. Một đứa trẻ hoàn toàn có thể đợi đến 7-8 tuổi mới bắt đầu học đọc học viết, nếu như điều đó phù hợp với sự phát triển trí não của cá nhân đứa trẻ. Điều quan trọng là trong suốt thời gian học và sinh hoạt, đứa trẻ luôn được nhìn thấy mọi người xung quanh đọc và viết, để nó có thể thấy rằng đọc và viết là những kỹ năng cần thiết và có ích, từ đó nảy sinh mong muốn học những kỹ năng đó. Mức độ tiến triển và kết quả của việc học tập sẽ không được đánh giá qua các bài kiểm tra, mà qua chính những gì đứa trẻ đã làm được trong quá trình học: những cuốn sách đã đọc, những dự án đã hoàn thành, những bài phát biểu và bài viết, và quan trọng nhất, là thông qua giao tiếp trực tiếp với đứa trẻ đó.

Chú ý rằng tôi không cho rằng “thoát trường học” là phương pháp giáo dục hoàn hảo dành cho tất cả mọi trẻ em. “Thoát trường học” cũng có một số vấn đề cần lưu ý phòng tránh như nguy cơ thiếu hụt giao tiếp xã hội và bạn bè, xung đột với hệ thống giáo dục chính quy, nguy cơ hình thành suy nghĩ một chiều cực đoan,… Một số trẻ cũng có thể cảm thấy cách thức học trong trường lớp phù hợp với bản thân hơn. Việc học qua “thoát trường học” cũng có thể được diễn ra song song với việc học tại trường lớp bằng hình thức bán thời gian. Dù gì đi nữa, tôi tin rằng, nếu như đứa trẻ thực sự có mong muốn, thì việc từ chối đến trường cũng như việc được tự do học hành theo ý thích nên được coi là một quyền lợi căn bản của trẻ em.


Bài viết này góp nhặt lại những suy nghĩ rời rạc của tôi về vấn đề học và dạy học cho trẻ em. Tôi không có ý xúc phạm các thầy cô giáo hay phủ nhận những kết quả mà hệ thống trường lớp chính quy đã đạt được kể từ khi ra đời. Nhưng tôi cũng tin rằng những vấn đề tôi nêu ra ở đây là hoàn toàn có thật và đáng suy ngẫm. Xét cho cùng chúng ta dạy học là để làm gì? Chúng ta đang giáo dục trẻ em bằng một quy trình công nghiệp không khác gì một nhà máy sản xuất hàng hóa hàng loạt, đối xử với các em không khác gì những cỗ máy chỉ cần biết làm theo hướng dẫn với một lịch trình có sẵn, vậy mà đùng một cái khi các em lớn lên chúng ta lại yêu cầu các em phải “có tính sáng tạo”, “biết tự suy nghĩ”, vậy chẳng phải nực cười lắm sao? Nên chăng chúng ta hãy dành nhiều niềm tin hơn cho các em, những người mà chúng ta vẫn thường ca tụng là mầm non tương lai của đất nước, để mầm non đó được tự do phát triển một cách tự nhiên, thay vì bị uốn nắn cắt tỉa trong chậu nuôi nhà kính.

Bàn về trí não con người

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy nhiều ý tưởng từ cuốn sách “Thinking Fast and Slow” của Daniel Kahneman.

1. Cỗ máy mang tên “trí não”

Nếu phải ví trí não con người với một cái gì đó, tôi sẽ ví với một cỗ máy gắn động cơ. Cỗ máy đó sẽ có một số chỉ số chính là lượng nhiên liệu đang có (V), công suất thực tế của động cơ (P), và hiệu suất sử dụng nhiên liệu (H). Từ những chỉ số này, bất cứ ai có hiểu biết cơ bản về máy móc và vật lý có lẽ đều sẽ tính được thời gian hoạt động liên tục (t) và công có ích được sinh ra (W) theo công thức t=V/P và W=V×H. Như vậy, thời gian hoạt động của cỗ máy tỷ lệ thuận với lượng nhiên liệu còn lại và tỷ lệ nghịch với công suất sử dụng thực tế của động cơ. Nói cách khác nhiên liệu còn càng nhiều và tải đặt lên động cơ càng ít thì cỗ máy càng hoạt động được lâu. Thêm vào đó, lượng công có ích sinh ra có tương xứng với lượng nhiên liệu tiêu tốn hay không còn phụ thuộc vào hiệu suất sử dụng nhiên liệu của chính cỗ máy đó.

Quay trở lại với trí não con người, “nhiên liệu” mà trí não chúng ta sử dụng có thể coi là một dạng “năng lượng tinh thần”. Năng lượng này có cơ sở sinh lý học là lượng đường glucose trong máu được đưa lên não làm năng lượng cho não bộ. Não bộ của con người tuy chỉ chiếm 2~3% thể trọng, nhưng đòi hỏi một lượng năng lượng rất lớn để hoạt động, có thể lên đến 20~25% tổng lượng glucose tiêu thụ của toàn cơ thể. Lượng năng lượng tinh thần của chúng ta tại bất kỳ thời điểm nào sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ lượng đường trong máu nói riêng và sức khỏe nói chung của cơ thể tại thời điểm đó. Điều này lý giải vì sao sau khi uống các loại nước tăng lực, trí não chúng ta dường như hưng phấn hơn. Hiệu quả đó đến từ lượng lớn các loại đường dễ tiêu trong nước tăng lực, khiến lượng đường trong máu chúng ta đột ngột tăng cao, chứ chẳng liên quan gì đến các chất bổ dưỡng khác được quảng cáo, vì các chất đó phải mất một thời gian mới có thể được tiêu hóa và tan vào máu.

Tuy nhiên, dù năng lượng của chúng ta có dồi dào đến đi nữa, trí não của chúng ta cũng chỉ có thể hoạt động đến một công suất cực đại nhất định. Công suất này có thể khác biệt đôi chút giữa mỗi người, nhưng đối với tuyệt đại đa số chúng ta thì nhìn chung nó rất nhỏ. Điều này khiến chúng ta không thể cùng lúc làm nhiều việc đòi hỏi sự tập trung cao. Một ví dụ dễ thấy là khi chúng ta phải đọc hiểu một cuốn sách: chỉ một chút suy nghĩ lơ đãng sẽ khiến chúng ta không thể tiếp thu được nội dung đang đọc, và buộc phải đọc đi đọc lại một chỗ. Chúng ta chỉ có thể làm nhiều việc cùng lúc khi hầu hết các việc đó đều không cần sự tập trung mà có thể được thực hiện bằng cảm tính. Ví dụ chúng ta có thể vừa lái xe vừa trò chuyện với người khác nếu đường vắng, hay vừa suy nghĩ mông lung vừa tắm rửa. Đó là vì việc lái xe trên đường vắng và tự tắm rửa bản thân là những việc có thể thực hiện ở chế độ “lái tự động” mà không cần nhiều sự tập trung hay suy nghĩ có ý thức.

Khi trí não chúng ta phải hoạt động với cường độ cao, tức công suất đặt ở mức cao trong một khoảng thời gian dài, năng lượng tinh thần dự trữ sẽ dần cạn kiệt, dẫn đến tình trạng “cạn kiệt ý thức” (ego depletion). Khi ý thức cạn kiệt, khả năng kiểm soát bản thân cũng như suy nghĩ lý trí của chúng ta sẽ kém đi đáng kể và chúng ta sẽ cần một thời gian hồi phục nhất định. Tùy vào thiên hướng của mỗi cá nhân mà mỗi người chúng ta sẽ có cách thức phục hồi năng lượng tinh thần khác nhau. Đối với những người hướng ngoại, năng lượng tinh thần có thể được phục hồi bằng việc tham gia các buổi tiệc tùng nhậu nhẹt, hoặc đơn giản là tụ tập bạn bè tán chuyện. Đối với những người hướng nội, việc phục hồi năng lượng tinh thần lại đòi hỏi một khoảng thời gian cô độc, tĩnh lặng hay một mình hưởng thụ thú vui của riêng bản thân. Bên cạnh đó, thời gian ngủ cũng là một khoảng thời gian phục hồi rất quan trọng.

Hầu hết người trưởng thành chỉ có năng lượng tinh thần dự trữ đủ để hoạt động trí óc cường độ cao liên tục trong vòng khoảng 90 phút. Quá thời gian đó, trí não chúng ta sẽ phải điều chỉnh giảm đáng kể công suất hoạt động để tránh cạn kiệt năng lượng, khiến chúng ta thiếu tập trung, thiếu động lực, bị động hơn và cảm tính hơn. Chúng ta không nên làm những công việc đòi hỏi độ tập trung cao hay có rủi ro lớn như lái xe, điều khiển máy móc, kiểm soát không lưu,… trong tình trạng này vì có thể dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Một thời gian nghỉ ngơi khoảng 20 phút sẽ giúp chúng ta phục hồi đáng kể lượng năng lượng tinh thần đã sử dụng. Do đó, cách làm việc hiệu quả nhất, trên lý thuyết, là làm việc tập trung trong vòng 90 phút đan xen với 20 phút nghỉ giữa. Nếu năng lượng tinh thần không được phục hồi mà cứ tiếp tục bị sử dụng đến cạn kiệt, trí não của chúng ta sẽ bị tê liệt và có thể dẫn đến nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng.

Thêm vào đó, không phải cứ làm việc cật lực là sẽ đạt được hiệu quả cao. Lượng công việc có ích mà chúng ta có thể giải quyết được còn phụ thuộc vào “hiệu suất”, hay hiệu quả làm việc của trí não. Hiệu suất này đại diện cho nhiều yếu tố khác nhau: năng lực bẩm sinh, tri thức, kỹ năng, mức độ tập trung,… Năng lực bẩm sinh là thứ chúng ta không kiểm soát được. Tri thức giúp chúng ta biết con đường ngắn nhất để giải quyết vấn đề. Kỹ năng giúp chúng ta bớt phải suy nghĩ lý trí mà sử dụng cảm tính nhiều hơn khi giải quyết vấn đề. Việc tập trung vào chỉ một tác vụ giúp chúng ta giảm lượng năng lượng lãng phí vào việc lưu giữ và nhớ lại những thông tin cần thiết mỗi khi chuyển đổi giữa các tác vụ khác nhau. Đó là lý do vì sao chúng ta nên học hỏi để thu được tri thức, rèn luyện để có kỹ năng, và không nên làm nhiều việc cùng lúc.

2. Lý trí và cảm tính

Trong trí não của chúng ta tồn tại hai dạng suy nghĩ chính: suy nghĩ lý trí và suy nghĩ cảm tính. Suy nghĩ cảm tính thường là những suy nghĩ vô ý thức, nhảy thẳng đến kết quả, diễn ra nhanh chóng trong chớp mắt, và đòi hỏi rất ít năng lượng cũng như sự tập trung. Ngược lại, suy nghĩ lý trí thường là những suy nghĩ có ý thức, có quá trình rõ ràng, diễn ra chậm rãi hơn, và đòi hỏi rất nhiều năng lượng cùng sự tập trung cao. Ví dụ của suy nghĩ cảm tính bao gồm việc nhận dạng và phân loại các vật thể xung quanh chúng ta, điều khiển tay ném một quả bóng trúng đích, đưa ra ấn tượng về ai đó khi gặp gỡ lần đầu, và thực hiện phép tính 1+1=2. Ví dụ của suy nghĩ lý trí bao gồm việc tìm kết quả chính xác của phép tính 26×45, ghi nhớ một dãy 10 chữ số ngẫu nhiên, đánh giá tính đúng đắn của một mệnh đề phức tạp, và cố lắng nghe tiếng nói của ai đó giữa đám đông ồn ào.

Quan hệ giữa lý trí và cảm tính có thể nói là quan hệ giữa một ông chủ với một cậu thư ký. Cảm tính sẽ luôn hoạt động trong suốt thời gian chúng ta thức, liên tục thu thập dữ liệu từ xung quanh, tạo ra những ấn tượng sơ bộ, lục tìm trí nhớ, đánh thức những ký ức có liên quan, và xây dựng nên một “câu chuyện” mạch lạc nhất có thể về tình trạng hiện tại của bản thân cũng như môi trường xung quanh. Lý trí sẽ tiếp nhận các “câu chuyện” từ cảm tính, và có thể chấp thuận, bác bỏ, nghi ngờ, hay tìm cách xác thực lại. Khi chúng ta đi ngoài đường, cảm tính sẽ cho chúng ta biết ở đây có cái cây, ở kia có cái xe, trời đang nắng nóng, quanh ta không có nguy hiểm nào,… Cảm tính làm việc hoàn toàn tự động, và nhiều khi nằm ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta. Ví dụ như trong bức tranh dưới đây, dù lý trí biết rằng ba đoạn thẳng bằng nhau, nhưng cảm tính vẫn liên tục nói với chúng ta rằng chúng không bằng nhau, và chúng ta không có cách nào dập tắt hay thay đổi được điều đó.

ban-ve-tri-nao-2
Ba đoạn thẳng bằng nhau hay không bằng nhau?

Cảm tính là một cậu thư ký nhanh nhẩu (đoảng) và tự tin (quá mức). Cảm tính có thể tạo ra những câu chuyện phức tạp, chi tiết và nghe qua có vẻ rất thuyết phục từ những mảnh thông tin ít ỏi và không đầy đủ. Những câu chuyện đó tuy có vẻ mạch lạc và hợp lý, và nhiều khi là chính xác, nhưng cũng rất có thể là thiếu căn cứ và thậm chí là sai lầm. Trong khi đó, lý trí lại là một ông chủ lười biếng và làm việc kém hiệu quả. Lý trí luôn hoạt động ở mức thấp nhất, chỉ làm việc khi thấy cần thiết, và phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin do cảm tính cung cấp. Thêm vào đó, lý trí hầu như không có khả năng làm nhiều việc cùng lúc. Những tác vụ có vẻ đơn giản nhưng đòi hỏi việc phải vừa ghi nhớ vừa xử lý như tính nhẩm 467×162 mà không dùng giấy nháp sẽ lập tức đẩy lý trí đến cực hạn, chiếm toàn bộ công suất của trí não, và khiến cho các công việc khác được xử lý vội vàng qua quýt hay thậm chí là đình trệ.

Nếu lý trí đang bận bịu, mệt mỏi, chịu ảnh hưởng của cảm xúc, hay đơn giản là thiếu cảnh giác khi tiếp nhận một câu chuyện từ cảm tính, thì rất có thể câu chuyện đó sẽ được chấp thuận một cách dễ dãi mà thiếu sự đánh giá và xác thực cần thiết. Một khi đã được lý trí chấp thuận, một câu chuyện sẽ trở thành những “sự thật” và “niềm tin” trong trí não chúng ta. Kết quả là chúng ta thường xuyên kết luận và tin tưởng một cách quá vội vàng và thiếu căn cứ. Điều này là nguyên nhân gây ra vô số những hiểu lầm, sai sót, định kiến và mê tín vẫn diễn ra hàng ngày. Khi gặp một thông tin nào đó, ví dụ “các địa phương có tỷ lệ phạm tội thấp nhất là các vùng nông thôn”, chúng ta sẽ nhanh chóng tìm ra một câu chuyện để giải thích cho thông tin đó, ví dụ “người dân nông thôn chất phác hơn, mọi người sống đoàn kết hơn”, và có thể quyết định tin vào thông tin lẫn lời giải thích đó mà chỉ dựa trên căn cứ duy nhất là độ mạch lạc và hợp lý của câu chuyện do chúng ta tự nghĩ ra.

Bên cạnh đó, cảm tính còn có tính thiên vị rất cao. Một khi chúng ta đã “tin” hay “thích” một cái gì đó, cảm tính sẽ chỉ tập trung vào thu thập những thông tin giúp củng cố thêm quyết định đó, và loại bỏ hoặc hạ thấp những thông tin đối lập. Ví dụ khi chúng ta ủng hộ việc hợp pháp hóa nghề mại dâm, cảm tính sẽ đưa ra một loạt lý do ủng hộ, tạo ra ấn tượng nhấn mạnh vào các lợi ích đồng thời coi nhẹ các tác hại của chính sách đó. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang suy nghĩ một cách lý trí, thận trọng cân nhắc thiệt hơn, nhưng trong hầu hết trường hợp sự cân nhắc của chúng ta là dựa trên những thông tin chứa đầy sự thiên vị đến từ cảm tính, với một kết luận đã có sẵn từ trước. Trên thực tế, đại đa số những quyết định “trong chớp mắt” của chúng ta là nhảy thẳng đến kết luận bằng cảm tính rồi sau đó mới vận dụng lý trí để tạo nên các lý do ủng hộ cho kết luận đó.

Chú ý rằng ở đây tôi không muốn nói rằng “không nên dựa vào cảm tính” hay “cảm tính = sai lầm”. Trên thực tế, cảm tính của hầu hết chúng ta nhìn chung là hoạt động khá tốt và tương đối chính xác (ít nhất là hơn dựa vào vận may thuần túy). Nếu được rèn luyện, cảm tính có thể đưa ra những phán đoán với độ chính xác khá cao trong hầu hết các lĩnh vực. Thêm vào đó, cảm tính hoạt động nhanh chóng và tiết kiệm nhiên liệu cũng như sử dụng ít công suất của trí não hơn lý trí rất rất nhiều lần. Nếu chúng ta sử dụng lý trí để nghi ngờ và soi xét từng thông tin do cảm tính cung cấp, thì hiệu quả làm việc của chúng ta sẽ tụt xuống thê thảm: chúng ta sẽ suy nghĩ chậm chạp hơn, và trí não của chúng ta sẽ luôn ở trong tình trạng mệt mỏi vì hết công suất và cạn kiệt nhiên liệu. Vấn đề chúng ta cần giải quyết là làm sao tăng độ chính xác của cảm tính, đồng thời đặt lý trí vào tình trạng cảnh giác trong những tình huống cần thiết.

3. Năng lực trí não

Nói đến năng lực của trí não, có lẽ hầu hết chúng ta đều nghĩ ngay đến khái niệm “thông minh”. Chữ “thông” (聡) có nghĩa là nghe rõ. Chữ “minh” (明) có nghĩa là nhìn rõ. “Nghe” và “nhìn” ở đây dùng với nghĩa bóng là tiếp thu thông tin từ thế giới xung quanh. “Thông minh” có nghĩa là nhìn thấy được những bản chất, quy luật, khuôn mẫu và khái niệm của mọi vật xung quanh từ những thông tin thu thập được khi tiếp xúc với thế giới. Như đã nói ở trên, việc thu thập thông tin về môi trường xung quanh và tạo ra những ấn tượng ban đầu là công việc của cảm tính, và do đó, có thể nói rằng “thông minh” là một năng lực của cảm tính chứ không phải của lý trí. Năng lực này chủ yếu là bẩm sinh, nhưng nó cũng có thể được nuôi dưỡng bằng cách khuyến khích việc tin tưởng và sử dụng suy nghĩ cảm tính. Một điều chắc chắn là trí thông minh sẽ không được gây dựng bằng cách ngồi giải một núi đề toán hay học thuộc lòng một núi kiến thức.

Trí thông minh nói riêng, và cảm tính nói chung, hoạt động dựa trên một mạng lưới liên hệ giữa các khái niệm, ý tưởng và ký ức trong trí não con người. Mạng lưới liên hệ này đan xen chằng chịt vô cùng phức tạp, và hầu như hoàn toàn nằm ngoài khả năng nhận thức của chúng ta. Khi đối diện với một sự vật sự việc hay một vấn đề nào đó, cảm tính của chúng ta sẽ tự động mò mẫm lục tìm trong mạng lưới liên hệ nói trên, và đưa ra một loạt các kết quả nhất định: một khái niệm, một thông tin, một kết luận, một phương án giải quyết vấn đề,… Do việc này được thực hiện bên ngoài ý thức, nên bản thân chúng ta nhiều khi cũng không thể giải thích được tại sao mình lại đi đến được kết quả như vậy. Khi quá trình mò mẫm này diễn ra nhanh chóng, hiệu quả và thường xuyên cho kết quả “tốt” thì chúng ta sẽ có cái được gọi là trí thông minh. Người thông minh đơn giản là hiểu nhanh, nhớ nhanh, và nghĩ nhanh mà thôi.

Tuy nhiên, trí thông minh không làm nên tất cả năng lực trí não của chúng ta. Như đã trình bày, cảm tính dù hoạt động rất hiệu quả nhưng thường xuyên cung cấp cho lý trí những thông tin và ấn tượng vô căn cứ và sai lầm. Việc chúng ta có tin theo những thông tin đó hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc lý trí có đủ cảnh giác để nghi ngờ và xác thực lại thông tin hay không. Dù chúng ta có thông minh đến đâu, hiểu biết đến đâu đi nữa, nhưng đến khi cần lý trí của chúng ta lại lười lĩnh, không chịu suy xét thận trọng mà sẵn sàng chấp thuận mọi thứ cảm tính mang lại, thì chúng ta cũng sẽ mắc sai lầm như bất cứ ai khác. Vì vậy, việc tự nghi ngờ chính mình, tự suy xét lại suy nghĩ của chính mình, và nói chung là dùng đến suy nghĩ lý trí trước khi đưa ra một quyết định nào đó cũng là một năng lực trí não quan trọng. Đó là lý do nhà triết học Bertrand Russell nói rằng “bi kịch của thế giới là những kẻ ngốc thì đầy tự tin, còn những người thông thái thì lại đầy nghi hoặc”.

Cuối cùng, chúng ta không thể bỏ qua vai trò quan trọng của “tri thức” và “kỹ năng”. Tri thức thì có lẽ không cần phải giải thích nhiều, nhưng ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng tri thức không nhất thiết phải là những kiến thức cụ thể trong sách vở, mà có thể là bất cứ hiểu biết, thông tin, khái niệm hay ý tưởng nào dù là nhỏ nhất và có thể không có giá trị sử dụng rõ ràng. Vì mạng lưới liên hệ giữa các tri thức mà cảm tính sử dụng rất chằng chịt ngoài khả năng nhận thức của chúng ta, nên chúng ta không thể biết được một tri thức sẽ được cần đến khi nào, trong hoàn cảnh nào. Một tri thức trong một lĩnh vực này có thể sẽ có ích trong một lĩnh vực khác hoàn toàn không liên quan. Do vậy, việc thường xuyên tiếp thu tri thức từ nhiều nguồn khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau có vai trò quan trọng đối với hoạt động của trí não thông qua việc chuẩn bị cho trí não chúng ta một nguồn “nguyên liệu” đầy đủ và đa dạng.

Kỹ năng, nói một cách đơn giản, là sự chuyển giao công việc từ lý trí sang cảm tính. Khi chúng ta chưa có kỹ năng trong một công việc nào đó, thì chúng ta sẽ phải vận dụng lý trí để xử lý mọi tác vụ nhỏ nhặt trong công việc đó. Nhưng một khi kỹ năng của chúng ta đã được nâng cao thông qua luyện tập và kinh nghiệm, chúng ta có thể thực hiện hầu hết các tác vụ trong một công việc bằng cảm tính mà không cần phải tập trung suy nghĩ gì. Hẳn hầu hết chúng ta đều nhớ cảm giác khi mới bắt đầu tập xe đạp. Khi đó chúng ta phải chú ý đến từng chi tiết nhỏ: ngồi trên yên cho vững, giữ ghi đông cho thẳng, đạp pê đan theo vòng tròn, đồng thời quan sát trước mắt. Tất cả những cái đó làm chúng ta cảm thấy quá sức, nghĩ đến cái này thì quên mất cái kia. Nhưng một khi đã quen, chúng ta có thể làm đồng thời tất cả những việc đó, mà vẫn còn đủ thư thái để vừa đạp xe vừa suy nghĩ đủ chuyện trên đời. Đó là vì việc đạp xe đã được giao hoàn toàn cho cảm tính thực hiện.

Điều tương tự có thể được áp dụng cho mọi công việc từ lớn đến nhỏ, từ chân tay cho đến trí óc. Chính vì lý do này mà đối với những công việc lặp đi lặp lại chúng ta nên tiêu chuẩn hóa quy trình làm việc, xây dựng nên những bản “hướng dẫn sử dụng” để không cần phải mất công suy nghĩ từng bước mỗi khi làm việc đó. Chúng ta giao được càng nhiều việc cho cảm tính thì hiệu quả công việc càng cao. Chúng ta càng bớt tiêu phí năng lượng cho những công việc đã định hình sẵn thì càng có nhiều năng lượng để làm những cái mới, những cái có giá trị hơn. Trí thông minh sẽ giúp quá trình học hỏi tri thức và rèn luyện kỹ năng diễn ra nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn. Ngược lại tri thức và kỹ năng sẽ giúp cho trí thông minh được phát huy và tạo ra giá trị thực tế, thay vì chỉ là một năng lực thú vị để người khác nắc nỏm khen.


Bài viết này đơn giản chỉ là viết ra một vài suy nghĩ của tôi về cách thức hoạt động của trí não con người thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau. Tôi không phải một nhà tâm lý học hay nhà khoa học, do đó tôi không đảm bảo tính khoa học của những gì tôi viết ra ở đây. Tuy nhiên cá nhân tôi thấy nó là đúng, và hy vọng rằng nó sẽ giúp ích cho mọi người trong cuộc sống và công việc hàng ngày.