Thuyết tự chủ và động lực con người (phần 1)

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng của cá nhân tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết ăn cắp ý tưởng và thông tin một cách không biết xấu hổ từ cuốn sách Handbook of Self-Determination Research biên tập bởi Edward L. Deci và Richard M. Ryan và cuốn sách Self-Determination Theory: Basic Psychological Needs in Motivation, Development and Wellness của cùng tác giả.

Động lực tinh thần là một trong những thành phần quan trọng nhưng lại thường ít được để ý đến của đời sống cá nhân và xã hội. Đối với mỗi cá nhân, động lực là lực lượng đứng sau thúc đẩy mọi hoạt động có ý thức của con người. Đối với các tổ chức, việc quản lý và tạo ra động lực hoạt động cho các thành viên của mình là một việc thiết yếu và có ảnh hưởng to lớn đến kết quả hoạt động và thậm chí là sự tồn vong của mỗi tổ chức. Do vai trò quan trọng của nó, mà cho đến nay các nhà khoa học, chuyên gia tâm lý và các triết gia đã đưa ra rất nhiều lý thuyết nhằm giải thích và tiên đoán về động lực tinh thần của con người từ nhiều khía cạnh và trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Một trong những lý thuyết hiện đang thu hút được nhiều sự chú ý là Thuyết tự chủ (self-determination theory) mà tôi xin được giới thiệu trong bài viết lần này.


1. Thuyết tự chủ và động lực

Trước khi đi vào nội dung của Thuyết tự chủ, ta hãy nói qua về khái niệm “động lực”. Động lực, đúng như tên gọi, là thứ (lực) khiến con người thực hiện hành vi (động). Điều đó có nghĩa là động lực vừa cung cấp một sự “định hướng”, vừa cung cấp “năng lượng” để cá nhân thực hiện hành vi. Nói cách khác, động lực luôn là động lực hướng đến hành vi, chứ không có động lực đứng một mình không có phương hướng cụ thể. Nhưng động lực cũng lại khác biệt với những khái niệm khác như “lý do” hay “mục đích” ở chỗ bản thân động lực còn có tính định lượng, thể hiện ở mức độ mạnh mẽ của năng lượng mà động lực cung cấp cho hành vi của cá nhân. Do vậy, khái niệm “động lực” không những có thể được dùng để lý giải vì sao một cá nhân lại thực hiện một hành vi nào đó, mà còn có thể dùng để lý giải mức độ hoạt bát và năng nổ của cá nhân ấy khi thực hiện hành vi.

Thuyết tự chủ là một học thuyết dựa trên thực nghiệm và nằm trong trào lưu các học thuyết tổ chức sinh vật (organismic) về hành vi con người và phát triển nhân cách. Tuy chủ yếu tập trung nghiên cứu ở lĩnh vực tâm lý học, nhưng Thuyết tự chủ cũng được dựa trên một số kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý học và thần kinh học. Bài viết này đề cập chính đến khía cạnh động lực con người, cũng là khía cạnh nghiên cứu chính của Thuyết tự chủ, nhưng phạm vi của nó thì rộng lớn và bao quát hơn, với mục đích là giúp cho con người hiểu rõ hơn về các quá trình tâm lý xảy ra trong nội tâm bản thân và các cá nhân khác, cũng như tìm kiếm các phương pháp hiệu chỉnh môi trường xung quanh, nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần lẫn thể chất và hiệu quả hành động cũng như sự phát triển của mỗi cá nhân.

Đa số lý thuyết về nhận thức từ trước tới nay thường chỉ coi động lực là một khái niệm đơn nhất. Điều đó có nghĩa là các lý thuyết này thường dựa trên giả thiết là tất cả động lực đều giống nhau về định tính và chỉ khác nhau về định lượng, tức là chỉ có động lực mạnh và động lực yếu chứ không có động lực khác biệt nhau về bản chất. Trong các lý thuyết đó, động lực thường được định lượng bằng cách nhân giá trị về mặt tâm lý của kết quả hành vi với xác suất của việc cá nhân có thể đạt được kết quả đó, hoặc dựa trên những khái niệm khác tương tự như niềm tin của cá nhân đối với việc đạt được kết quả, hay kỳ vọng của cá nhân về năng lực bản thân và mối quan hệ nhân quả của hành vi. Các phương pháp tiếp cận này, do vậy, thường bỏ qua việc phân tích sự khác nhau, chẳng hạn, giữa động lực mà cá nhân tự sinh ra với động lực sinh ra bởi phần thưởng hay đe dọa.

Đây cũng là một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa Thuyết tự chủ với nhiều học thuyết khác bàn về động lực. Thuyết tự chủ cho rằng động lực có thể được chia ra làm nhiều phân loại khác nhau về mặt định tính, bên cạnh sự khác nhau về định lượng. Cụ thể, các phân loại động lực này có thể được sắp xếp thành một dải động lực giữa hai thái cực: một bên là động lực có tính tự chủ (autonomous) và một bên là động lực không có tính tự chủ, hay động lực  bị điều khiển (controlled). Chúng có sự khác biệt rõ rệt về nguồn gốc cũng như phương thức đem lại năng lượng và định hướng cho hành vi của cá nhân, và qua đó mang lại sự khác biệt cả về kết quả của các hành vi ấy cũng như tâm lý của bản thân cá nhân. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng lý thuyết về động lực vào thực tế: chúng ta không chỉ cần nghĩ tới việc tạo ra thật nhiều động lực cho cá nhân, mà còn phải nghĩ tới việc tạo ra những loại động lực “tốt” hơn.

Một đặc điểm nữa của Thuyết tự chủ là nó có tính bao quát và mạch lạc, tức là nó không chỉ đề cập và nghiên cứu về cách phân loại động lực, mà còn cả về các điều kiện tác động từ môi trường xung quanh đến cá nhân để dẫn đến từng phân loại động lực khác nhau, cũng như những tác động của mỗi phân loại động lực đối với sức khỏe và hiệu quả hành động của cá nhân. Nói cách khác, Thuyết tự chủ nghiên cứu cả về động lực lẫn tiền đề và kết quả của nó. Thêm vào đó, Thuyết tự chủ dựa trên nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng các kết quả thí nghiệm khoa học trong môi trường thí nghiệm lẫn trong thực tế, trên nhiều lĩnh vực (giáo dục, thể thao, tôn giáo, chính trị,…) và phạm vi đối tượng (giới tính, độ tuổi, văn hóa, quốc gia,…) khác nhau. Tất cả những điều này giúp cho những kết luận của Thuyết tự chủ có mức độ tin cậy cũng như tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao.

2. Năm phân loại động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tinh thần của con người có thể được chia ra làm hai phân loại lớn, dựa trên tương quan giữa động lực và hành vi mà động lực đó thúc đẩy: động lực nội tại (instrinsic motivation) và động lực ngoại lai (extrinsic motivation).

Động lực nội tại là động lực có nguồn gốc từ sự hấp dẫn và thỏa mãn cố hữu của bản thân hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Nói cách khác, động lực nội tại được gói gọn bên trong hành vi và không cần thêm bất cứ một nguồn gốc nào khác nằm ngoài hành vi đó. Khi cá nhân cảm thấy có động lực nội tại đối với một hành vi nhất định, và không gặp phải sự ngăn cản, cá nhân ấy sẽ tự mình thực hiện và duy trì hành vi đó một cách hoàn toàn tự phát mà không cần bất cứ sự thúc đẩy nào khác. Sự hấp dẫn và thỏa mãn làm nên động lực nội tại có thể rất đa dạng, nhưng tựu chung có thể được chia ra làm ba loại chính: động lực tìm hiểu đến từ việc tìm tòi khám phá ra những điều mới mẻ, động lực thành tựu đến từ việc tạo nên một điều gì đó hoặc vượt qua giới hạn của bản thân, và động lực trải nghiệm đến từ việc tiếp nhận những kích thích cảm giác. Ví dụ về động lực nội tại có thể dễ dàng tìm thấy trong hầu hết các hoạt động giải trí của con người.

Động lực ngoại lai là động lực có nguồn gốc nằm bên ngoài hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Một cá nhân thực hiện một hành vi nào đó bằng động lực ngoại lai sẽ không làm như vậy vì bản thân hành vi ấy, mà để nhằm đạt được một mục đích nào đó tách biệt khỏi hành vi, và hành vi khi đó chỉ còn đóng vai trò là công cụ mà thôi. Vì lúc này bản thân hành vi không còn sinh ra động lực, nên động lực sẽ cần phải được tạo ra một cách “nhân tạo” từ một sự kiểm soát (regulation) nào đó. Thuyết tự chủ, do vậy, chia động lực ngoại lai ra làm bốn phân loại nhỏ hơn, dựa trên tính chất của sự kiểm soát nằm trong nó, đi từ không có tính tự chủ đến có tính tự chủ cao: sự kiểm soát từ bên ngoài (external regulation), sự kiểm soát đã tiêm nhiễm (introjected regulation), sự kiểm soát đã đồng nhất (identified regulation), và sự kiểm soát đã tích hợp (integrated regulation).

Sự kiểm soát từ bên ngoài là sự kiểm soát nằm hoàn toàn bên ngoài cá nhân, tức là sự  kiểm soát đến từ môi trường xung quanh. Sự kiểm soát dễ nhận thấy nhất thuộc dạng này là sự đe dọa và cưỡng ép, nhưng chúng cũng có thể là tiền bạc, danh vọng, địa vị, sự tán thưởng, kỳ hạn công việc, kỳ vọng của người thân, sự phán xét của xã hội… Tựu chung lại, một cá nhân bị kiểm soát từ bên ngoài sẽ thực hiện hành vi để nhằm đạt đến một kết quả tích cực nào đó, hoặc tránh khỏi một kết quả tiêu cực nào đó mà hoàn toàn không liên quan tới bản thân hành vi. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác không có sự lựa chọn hoặc chịu sự chi phối từ bên ngoài. Một ví dụ là một người làm việc chỉ để nhận lương, và luôn nghĩ rằng nếu không phải vì tiền thì mình đã nghỉ việc quách cho xong.

Sự kiểm soát đã tiêm nhiễm là sự kiểm soát đã xâm nhập phần nào đó vào bên trong nội tâm cá nhân, nhưng vẫn chưa được chấp nhận làm một phần của nhân cách tự thân. Sự kiểm soát thuộc dạng này thường được thể hiện dưới dạng các sức ép nội tâm như cảm giác nghĩa vụ, cảm giác xấu hổ,… Bản chất của sự kiểm soát này là sự tích tụ của những sự kiểm soát từ bên ngoài mà cá nhân đã trải nghiệm hoặc quan sát được trong quá khứ, được cá nhân ghi nhớ, đúc rút kinh nghiệm và chuyển hóa thành một sự tự kiểm soát bản thân để tránh khỏi các hậu quả của sự kiểm soát trực tiếp từ bên ngoài. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác mâu thuẫn nội tâm tương đối rõ ràng giữa áp lực tinh thần từ bên trong của sự kiểm soát và mong muốn thực sự của nhân cách tự thân cá nhân. Một ví dụ là một người làm việc để không trở thành người thất nghiệp vì sợ bị người xung quanh dè bỉu.

Sự kiểm soát đã đồng nhất là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận về nguyên tắc dựa trên giá trị mà hành vi mang lại, tuy có thể vẫn còn tồn tại sự xung đột ở mức độ nào đó. Sự kiểm soát thuộc dạng này dựa trên một sự đánh giá có ý thức về các mặt lợi hại của hành vi, cả về vật chất lẫn tinh thần, và một sự quyết định có ý thức về việc thực hiện hành vi đó từ nhân cách của cá nhân. Nói cách khác, sự kiểm soát đã đồng nhất xuất hiện khi cá nhân thực hiện một hành vi vì thấy điều đó đem lại giá trị cho bản thân và do vậy tự mình đứng về phía quyết định thực hiện hành vi đó, tức hành vi và lợi ích của cá nhân đã trở nên đồng nhất. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác trách nhiệm đối với hành vi của bản thân. Một ví dụ là một người làm việc vì đã đánh giá và quyết định rằng công việc đó đem lại lợi ích tiền bạc và kinh nghiệm lớn hơn tổng số thiệt hại mà nó đòi hỏi.

Sự kiểm soát đã tích hợp là sự kiểm soát đã được nhân cách tự thân của cá nhân chấp nhận hoàn toàn và tích hợp thành một bộ phận hài hòa với các bộ phận khác của nhân cách. Sự kiểm soát thuộc dạng này xuất phát từ nhu cầu hiện thực hóa nhân cách, tức nhu cầu thể hiện ra bên ngoài những hành vi thống nhất với nhận thức của cá nhân về bản thân mình. Khi đó, cá nhân sẽ thực hiện một hành vi vì đó là một phần của định nghĩa “tôi là ai” trong nội tâm cá nhân, và việc thực hiện hành vi sẽ củng cố thêm cho định nghĩa ấy, giúp cho nhân cách tự thân của cá nhân thêm rõ ràng và chắc chắn. Đặc điểm của sự kiểm soát này là một cảm giác tự hào và một sự ủng hộ tinh thần hoàn toàn đến từ bên trong nội tâm cá nhân đối với hành vi được thực hiện. Một ví dụ là một người làm việc vì cảm thấy công việc đó có ý nghĩa cao cả và phù hợp hệ giá trị đạo đức của bản thân.

Bốn cấp bậc của sự kiểm soát thể hiện cho những kết quả khác nhau của một quá trình nội tâm hóa (internalization) những quy củ và yêu cầu từ môi trường xung quanh của cá nhân. Thuyết tự chủ cho rằng con người là một sinh vật luôn có xu hướng tự nhiên là xây dựng nên một nhân cách, một “cái tôi” ngày một thống nhất và phức tạp hơn, thông qua việc thu nhận, tích hợp và tổ chức lại các trải nghiệm từ môi trường xung quanh thành một hệ thống hoàn chỉnh, hợp lý và mạch lạc. Quá trình nội tâm hóa, tức biến những sự kiểm soát tồn tại trong môi trường thành sự kiểm soát của bản thân, là một bộ phận của xu hướng tự nhiên kể trên. Khi quá trình nội tâm hóa diễn ra thành công, kết quả sẽ là những sự kiểm soát có tính tự chủ cao, mà cụ thể ở đây là động lực từ sự kiểm soát đã đồng nhất hoặc đã tích hợp. Sự kiểm soát từ bên ngoài hay đã tiêm nhiễm đều thiếu tính tự chủ và là kết quả của một quá trình nội tâm hóa không thành công.

Chú ý rằng sự phân loại động lực kể trên chỉ thuần túy mang tính học thuật chứ không ám chỉ sự tồn tại của năm thực thể động lực tách biệt nhau trong trí não con người. Thêm vào đó, các loại động lực khác nhau có thể cùng tồn tại ở những mức độ khác nhau đối với cùng một hành vi ở cùng một thời điểm. Một người có thể làm việc vừa để đảm bảo cuộc sống (sự kiểm soát từ bên ngoài), vừa vì một cảm giác nghĩa vụ với xung quanh (sự kiểm soát tiêm nhiễm), đồng thời vì muốn học hỏi kinh nghiệm cho bản thân (sự kiểm soát đã đồng nhất). Sự khác biệt nằm ở mức độ chi phối mạnh mẽ và thường trực của từng loại động lực trong nhận thức của cá nhân. Việc phân loại sự kiểm soát theo mức độ tự chủ từ thấp đến cao cũng không có nghĩa rằng quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó sẽ phải diễn ra qua từng thang bậc theo đúng thứ tự ấy, mà hoàn toàn có thể có sự “nhảy vọt”, tùy thuộc vào những yếu tố sẽ được nói đến sau.

Bên cạnh các phân loại động lực trên, để có thể giải thích đầy đủ các trạng thái động lực của con người, Thuyết tự chủ đưa ra thêm một khái niệm nữa là vô động lực (amotivation). Vô động lực là một trạng thái của cá nhân khi thực hiện một hành vi có ý thức (khác với vô thức và bản năng) mà không có động lực nào đáng kể cả. Trạng thái này thường xuất hiện khi cá nhân bị buộc phải thực hiện một hành vi mà bản thân cá nhân thấy vô nghĩa. Khi đó, cá nhân không nhận thấy được mối liên hệ giữa hành vi với kết quả, và do đó không thực hiện hành vi với chủ ý đạt được kết quả nhất định nào cả. Điều này dẫn đến hệ quả là cá nhân sẽ cảm thấy hoàn toàn chán chường, và sẽ chỉ thực hiện hành vi dưới dạng một loạt các cử động thân thể theo khuôn mẫu như máy móc, chứ không có sự suy nghĩ và đánh giá thường thấy ở hành vi có chủ đích. Bước tiếp theo của trạng thái vô động lực thường sẽ là việc cá nhân dừng hoàn toàn hành vi đang thực hiện.

3. Ba nhu cầu tinh thần cơ bản

Thuyết tự chủ cho rằng mỗi cá nhân con người có ba nhu cầu tinh thần cơ bản: nhu cầu tự chủ (autonomy), nhu cầu năng lực (competence), và nhu cầu kết nối (relatedness).

Nhu cầu tự chủ là nhu cầu cảm thấy mình là khởi nguồn cho những hành vi của bản thân, cảm thấy mình đang làm chủ được bản thân mình. Một cá nhân sẽ cảm thấy mình tự chủ khi cá nhân đó cảm thấy những hành vi và quyết định của mình là sự thể hiện của những giá trị trong nhân cách thực của bản thân, thay vì là kết quả của sự chi phối trực tiếp hay gián tiếp của những nhân tố nằm ngoài nhân cách ấy (đọc thêm Bàn về “nhân cách”). Chú ý rằng cảm giác về sự tự chủ không nhất thiết đồng nhất với sự tự do thường được nghĩ tới, tức là sự không bị giới hạn trong hành động. Một người hoàn toàn vẫn có thể quyết định cảm thấy mình có sự tự chủ ở mức độ nào đó khi làm theo yêu cầu của người khác, hay thậm chí trong những hoàn cảnh thường được cho là kìm kẹp và thiếu tự do như bị uy hiếp, bị giam cầm,… (đọc thêm Bàn về “tự do”)

Nhu cầu năng lực là nhu cầu cảm thấy mình có thể tương tác với môi trường xung quanh một cách có hiệu quả. Điều này bao gồm việc cảm thấy mình có thể dễ dàng lý giải được những sự vật sự việc đang tồn tại và diễn ra xung quanh, cũng như cảm thấy mình biết cách và có khả năng tác động để kiểm soát hoặc thay đổi được những sự vật sự việc ấy, và cuối cùng là cảm thấy sự tác động của mình thực sự đã đem lại được kết quả như mong muốn. Nhìn từ một góc độ nào đó, nhu cầu tự chủ có thể chỉ được coi là nhu cầu năng lực đối với việc kiểm soát cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, nhu cầu tự chủ chú trọng đến nguồn gốc của hành động (bản thân vs. bên ngoài), trong khi nhu cầu năng lực chú trọng đến kết quả (có hiệu quả vs. không có hiệu quả), và do đó hai khái niệm này là khác biệt nhau. Chú ý rằng cảm giác về năng lực không nhất thiết đồng nhất với năng lực thực sự nhìn từ các tiêu chuẩn khách quan.

Nhu cầu kết nối là nhu cầu cảm thấy mình có thể kết nối với môi trường xung quanh một cách gần gũi và có ý nghĩa. Môi trường xung quanh ở đây không chỉ giới hạn ở các cá nhân cụ thể, mà còn có thể là thú cưng hay vật nuôi, hay những cấu trúc xã hội hoặc tinh thần trừu tượng hơn như tổ chức, cộng đồng, dân tộc, quốc gia, hay thậm chí là thế lực siêu nhiên nào đó như thánh thần, Mẹ thiên nhiên,… Nhu cầu này thường được thỏa mãn khi cá nhân cảm thấy mình đang quan tâm, chăm sóc và bảo vệ, và được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ bởi môi trường xung quanh, cảm thấy mình đang là một phần, đang thuộc về một cái gì đó lớn lao hơn. Chú ý rằng sự kết nối ở đây không phải là một công cụ để đạt đến một mục đích khác (vd. tình dục), mà giá trị thỏa mãn nhu cầu nằm ở chính bản thân sự kết nối, vì nó mang lại cho cá nhân cảm giác an toàn trước sự đơn độc và đe dọa cố hữu của cuộc sống con người.

Ba nhu cầu tinh thần cơ bản nói trên, đúng như tên gọi, có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất, chúng là nhu cầu tinh thần, và do đó sự thỏa mãn của chúng sẽ được quyết định bởi trạng thái tinh thần của chính cá nhân, mà ở đây đã được nhấn mạnh thông qua từ “cảm thấy”, chứ không phải bởi các yếu tố khách quan. Tất nhiên, từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng môi trường xung quanh đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đối với các nhu cầu này, nhưng xét cho cùng vai trò ấy vẫn chỉ là gián tiếp mà thôi. Thứ hai, các nhu cầu này là nhu cầu cơ bản, tức là chúng tồn tại trong tất cả mọi cá nhân con người, bất kể sự khác biệt về độ tuổi, giới tính, thể chất, địa vị, tài sản, văn hóa hay nhân cách. Tuy nhiên, tùy vào những yếu tố khác biệt đó mà các nhu cầu này có thể được thể hiện ra dưới các dạng khác nhau và cần được thỏa mãn bằng những cách thức khác nhau.

Việc các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng có mối liên hệ mật thiết với cảm giác của cá nhân về sức khỏe và hạnh phúc của bản thân, cả về thể chất lẫn tinh thần. Cụ thể, những người có nhu cầu tinh thần được thỏa mãn tốt thường cũng sẽ có lòng tự trọng cao hơn, hoạt bát hơn, ít bồn chồn lo âu hơn, và có ít các triệu chứng tinh thần thể hiện ra ở cơ thể hơn. Một điểm thú vị là những nghiên cứu về nhu cầu tinh thần cơ bản cũng chỉ ra những kết quả kể trên có mối liên hệ tiêu cực, tức tỷ lệ nghịch, với việc theo đuổi những mục tiêu nằm bên ngoài bản thân, vd. của cải, danh tiếng và hình ảnh. Từ đó có thể suy đoán rằng những mục tiêu kể trên không phục vụ cho những nhu cầu tinh thần thiết thực của con người, và mối liên hệ tiêu cực với sức khỏe và hạnh phúc có thể được lý giải là do việc theo đuổi những mục tiêu ấy khiến cho việc đáp ứng những nhu cầu tinh thần thực sự cần thiết bị sao nhãng và thậm chí là bị cản trở.

Nhưng điểm quan trọng hơn đối với bài viết này, đó là các nghiên cứu khoa học còn cho thấy khi các nhu cầu tinh thần cơ bản được đáp ứng đầy đủ, thì động lực của cá nhân có xu hướng dịch chuyển về phía các phân loại động lực có tính tự chủ cao. Không khó để thấy rằng một hành vi làm thỏa mãn một nhu cầu tinh thần nào đó của cá nhân sẽ khiến cá nhân nảy sinh động lực nội tại đối với hành vi đó. Nhưng không chỉ có vậy, khi các yếu tố xã hội từ môi trường xung quanh hỗ trợ các nhu cầu tinh thần của cá nhân trong quá trình nội tâm hóa một sự kiểm soát nào đó, thì sự nội tâm hóa ấy cũng sẽ có xu hướng tạo nên những sự kiểm soát có tính tự chủ cao hơn. Ngược lại, nếu như môi trường xung quanh ngăn cản và chống lại các nhu cầu tinh thần cơ bản, đặc biệt là nhu cầu tự chủ, thì không những sự kiểm soát được tạo nên sẽ nghiêng về các phân loại thiếu tính tự chủ, mà cả động lực nội tại của cá nhân cũng sẽ bị đè nén và xóa sổ.

4. Phạm vi động lực

Thuyết tự chủ cho rằng động lực tồn tại ở ba mức độ phạm vi khác nhau: phạm vi toàn cục (global), phạm vi ngữ cảnh (contextual), và phạm vi tình huống (situational).

Động lực toàn cục là khuynh hướng động lực chung nhất và có ảnh hưởng bao quát khắp toàn bộ mọi mặt cuộc sống của cá nhân. Đây cũng thường là động lực ổn định nhất về mặt định lượng lẫn định tính, và thể hiện cho việc cá nhân có xu hướng tiếp cận và thực hiện mọi hành vi với động lực nội tại hay ngoại lai hay vô động lực. Một cá nhân sinh ra thường bắt đầu với một khuynh hướng động lực toàn cục mang tính nội tại thuần túy và sơ khai. Sau đó, động lực toàn cục của cá nhân sẽ  được định hình (uốn nắn?) dần trong quá trình cá nhân xây dựng nên một nhân cách cho riêng mình.

Động lực ngữ cảnh là khuynh hướng động lực có ảnh hưởng bao trùm trong một phân vùng cụ thể nào đó, hay một ngữ cảnh, trong cuộc sống của cá nhân. Ở mức độ rộng nhất, động lực ngữ cảnh có ba phân vùng chính: công việc (bao gồm cả việc học tập), giải trí và quan hệ con người. Đi xuống sâu hơn, động lực ngữ cảnh có thể được chia ra cho từng hoạt động nhất định như đàn hát, bơi lội, chạy bộ, tiệc tùng, tán phét,… Động lực ngữ cảnh tương đối ổn định, nhưng vẫn có thể chịu ảnh hưởng và bị thay đổi bởi môi trường xung quanh. Đồng thời, động lực ngữ cảnh cũng chỉ có ảnh hưởng trong ngữ cảnh cụ thể của nó, chứ không hề có ảnh hưởng gì đến các hành vi ở những ngữ cảnh hoàn toàn tách biệt khác.

Động lực tình huống là động lực trong từng tình huống cụ thể trong cuộc sống của cá nhân. Nói cách khác, động lực tình huống là động lực của cá nhân đối với từng tác vụ cụ thể ở từng thời điểm cụ thể. Từ định nghĩa có thể dễ dàng thấy rằng động lực tình huống chịu ảnh hưởng ngay lập tức bởi nội dung của tác vụ, kết quả của hành vi, cũng như các yếu tố trong môi trường xung quanh, và do đó động lực tình huống rất không ổn định và có thể thay đổi nhanh chóng cả về chất và lượng qua từng thời điểm.

Việc phân chia động lực theo mức độ phạm vi có ý nghĩa như thế nào? Trước hết, theo Thuyết tự chủ thì động lực ở một phạm vi nhất định sẽ chịu sự tác động và điều chỉnh chủ yếu từ những yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương. Theo đó, động lực toàn cục sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở phạm vi toàn cục, tức những yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến mọi mặt hoặc nhiều mặt của cuộc sống cá nhân một cách lâu dài (vd. gia đình, cộng đồng, Nhà nước,…), động lực ngữ cảnh sẽ chịu sự tác động chính từ các yếu tố xã hội ở từng phạm vi ngữ cảnh cụ thể, tức là những yếu tố xã hội có tính bao trùm trong ngữ cảnh đó (vd. động lực đối với việc học tập sẽ chịu ảnh hưởng chính từ nhà trường, giáo viên,…). Điều này sẽ giúp việc xác định động lực cần tác động và những yếu tố xã hội cần được thay đổi để tạo nên tác động một cách chính xác hơn.

Thêm vào đó, bên cạnh việc phụ thuộc vào sự hỗ trợ hay ngăn cản nhu cầu tinh thần của các yếu tố xã hội ở phạm vi tương ứng, động lực ở một phạm vi thấp hơn còn chịu ảnh hưởng của động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Điều này có nghĩa là động lực tình huống của một hành vi sẽ chịu ảnh hưởng từ động lực ngữ cảnh của ngữ cảnh bao trùm hành vi và tình huống đó, đồng thời chịu ảnh hưởng ở mức độ nhỏ hơn từ động lực toàn cục. Có thể hình dung rằng động lực toàn cục và động lực ngữ cảnh tồn tại như những nền móng hay bản vẽ cơ sở khi động lực tình huống của cá nhân được hình thành trong mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Cuối cùng, đồng thời và ngược lại với ảnh hưởng từ trên xuống được nói đến ở trên, động lực ở phạm vi thấp hơn cũng sẽ có ảnh hưởng mang tính đệ quy tới động lực ở phạm vi cao hơn gần nhất. Nói cách khác, nếu như động lực tình huống của cá nhân trở nên thiếu tự chủ trong nhiều hành vi và tình huống cụ thể một cách lặp đi lặp lại, thì điều đó sẽ có tác động đến động lực ngữ cảnh tương ứng, khiến cho động lực ngữ cảnh cũng trở nên dần dần thiếu tự chủ hơn, và thông qua đó cuối cùng sẽ gây ảnh hưởng đến động lực toàn cục của cá nhân. Điều này giải thích lý do vì sao động lực ở mỗi phạm vi lại chịu tác động chủ yếu bởi các yếu tố xã hội ở phạm vi tương đương: đó là vì việc định hình nên các động lực ở phạm vi lớn đòi hỏi sự tác động liên tục kéo dài và nhất quán trong hàng loạt các tình huống, điều mà chỉ có các yếu tố xã hội bao trùm trên các phạm vi lớn tương ứng mới có thể tạo ra được.

5. Ảnh hưởng của động lực

Các nghiên cứu khoa học của Thuyết tự chủ đã cho thấy phân loại động lực trong hành vi của con người có liên hệ mật thiết với nhiều hệ quả và phẩm chất quan trọng ở nhiều mặt khác nhau của cuộc sống, mà cụ thể là hiệu quả hành động, tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, tính tự giác và tính bền bỉ.

Cụ thể, các hệ quả và phẩm chất kể trên được thể hiện ra tích cực nhất khi động lực hành vi là động lực nội tại, và suy giảm dần theo từng thang bậc mức độ tự chủ của động lực, thể hiện ra một cách tiêu cực nhất ở trạng thái vô động lực. Ba phân loại động lực mang lại kết quả tích cực hơn các động lực còn lại là động lực dựa trên sự kiểm soát đã đồng nhất và đã tích hợp (gọi tắt là động lực đồng nhất và động lực tích hợp), cùng với động lực nội tại, được xếp vào nhóm các phân loại động lực tự chủ. Đặc điểm chung của các phân loại động lực tự chủ là cá nhân cảm thấy mình có quyền lựa chọn, và đã tự mình lựa chọn, việc thực hiện hành vi. Đồng thời, lý do cho sự lựa chọn đó cũng bắt nguồn từ bên trong cá nhân: một kết quả đánh giá dựa trên hệ giá trị của bản thân (động lực đồng nhất), một sự mong muốn thể hiện nhân cách bản thân (động lực tích hợp), hoặc những cảm xúc và cảm giác của bản thân khi thực hiện hành vi (động lực nội tại).

Hiệu quả tích cực của các loại động lực tự chủ có thể dễ dàng được lý giải dựa trên những tính chất đã được trình bày ở trên. Trước hết, với các loại động lực tự chủ, tâm trí cá nhân được giải thoát khỏi sự giằng co giữa nhu cầu tự chủ với sự chi phối từ xung quanh như ở sự kiểm soát bên ngoài, hay với sự chi phối của áp lực tâm lý bên trong như ở sự kiểm soát tiêm nhiễm, và do đó cá nhân được tự do dành toàn bộ năng lượng tinh thần và sự tập trung cho hành vi đang thực hiện. Thứ nữa, khi cảm thấy mình không bị kiểm soát bởi một yếu tố nào khác ngoài mong muốn của chính bản thân, cá nhân sẽ có được sự tự do tinh thần để mạnh dạn thử nghiệm những ý tưởng và phương pháp mới thay vì lựa chọn những con đường an toàn hơn. Cuối cùng, do nguồn gốc đến từ những mong muốn và cảm xúc của riêng cá nhân, nên động lực tự chủ có thể được phát huy và duy trì một cách độc lập mà không bị phụ thuộc vào sự tồn tại và tác động liên tục của các yếu tố từ môi trường xung quanh.

Đặc biệt hơn, động lực nội tại thường được gắn với trạng thái “cuốn chảy” (flow), một trạng thái trải nghiệm được cho là tối ưu của con người, trong đó cá nhân đắm chìm hoàn toàn vào hành vi mình đang thực hiện với một cảm giác tập trung cao độ, toàn tâm toàn trí, nhiều khi quên đi ý thức về không gian, thời gian và thậm chí là cả bản thân. Lý thuyết về “cuốn chảy”, một học thuyết khác nằm ngoài Thuyết tự chủ, cho rằng trạng thái này có thể đạt được nếu có đủ ba yếu tố: 1. cá nhân bắt tay vào một hoạt động nào đó một cách có chủ ý, có mục đích và có lộ trình rõ ràng, 2. các tác vụ cụ thể trong hoạt động đó đem lại phản hồi một cách nhanh chóng và rõ ràng, và 3. cá nhân có cảm nhận về mức độ thử thách trước mắt cân bằng với cảm nhận về năng lực của bản thân.

Nhìn từ quan điểm động lực, trạng thái “cuốn chảy” có thể được giải thích dưới dạng một vòng xoáy tích cực của động lực nội tại. Cụ thể, việc cảm thấy mức độ thử thách tương xứng với năng lực khiến cho cá nhân có tự tin vào năng lực của mình, và từ đó nảy sinh động lực nội tại đối với việc thực hiện tác vụ trước mắt để thỏa mãn hơn nữa nhu cầu năng lực của bản thân. Động lực nội tại đó khiến cho cá nhân có khả năng cao hơn trong việc hoàn thành tốt tác vụ, và việc tác vụ phản hồi nhanh chóng sẽ khiến cho nhu cầu năng lực của cá nhân lập tức được thỏa mãn, làm nảy sinh thêm động lực nội tại đối với hoạt động. Cuối cùng, việc có chủ ý, mục đích và lộ trình toàn cục cho hoạt động sẽ giúp cho cá nhân kết nối tới và bắt đầu tác vụ tiếp theo một cách nhanh chóng và trơn tru, bảo toàn được động lực nội tại đã nảy sinh và được bồi đắp từ tác vụ trước, làm nên một chuỗi “phản ứng dây chuyền” kéo dài và có thể càng lúc càng mạnh thêm.

Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng chú ý giữa động lực nội tại với hai loại động lực ngoại lai có tính tự chủ còn lại. Theo đúng định nghĩa, động lực nội tại phụ thuộc vào tính hấp dẫn của hành vi đối với cá nhân, và do đó thường chỉ tồn tại trong phạm vi từng tác vụ hoặc hoạt động cụ thể. Điều này trái ngược với động lực đồng nhất và tích hợp, vốn là các động lực nhắm tới việc đạt được một giá trị nào đó hoặc thể hiện một khía cạnh nào đó của nhân cách cá nhân, và do đó thường tồn tại một cách bao quát và liền mạch trong suốt quá trình đi đến một mục đích nhất định. Nói đơn giản hơn, động lực nội tại có xu hướng cục bộ và hướng tác vụ, trong khi động lực đồng nhất và tích hợp có xu hướng toàn cục và hướng mục đích. Sự khác biệt này khiến cho động lực nội tại thuần túy thường không đem lại kết quả cao so với động lực đồng nhất và tích hợp đối với những hoạt động “dài hơi”, đòi hỏi sự kiên trì cao và bao gồm trong nó nhiều hành vi kém hấp dẫn. Trạng thái động lực lý tưởng, do vậy, là một sự kết hợp giữa động lực nội tại trong từng tác vụ cụ thể với động lực đồng nhất hoặc tích hợp đứng sau hỗ trợ và duy trì hoạt động ở cấp độ bao quát hơn.

(còn tiếp)

 

Bài toán của thầy và bài toán của em

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Democracy and Education” của John Dewey.

Có điểm khác biệt gì giữa một vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống và một vấn đề mà đứa trẻ đó gặp phải trên lớp học? Vì sao những đứa trẻ ở ngoài đời thường thì luôn tò mò hiếu kỳ về đủ các loại vấn đề và luôn bỏ bom người lớn bằng đủ các loại câu hỏi, nhưng cũng những đứa trẻ ấy sau một thời gian đến trường thì một phần ko nhỏ lại trở nên thờ ơ với những kiến thức trong sách vở?

Câu trả lời rất đơn giản: hứng thú.

Bất cứ một con người nào cũng đều có những thiên hướng và hành vi đặc trưng. Những thiên hướng và hành vi đó khi va chạm với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh sẽ dẫn đến những trải nghiệm và kích thích của riêng từng người. Những trải nghiệm và kích thích đó có thể làm nảy sinh ra những vấn đề hay câu hỏi nhất định cần lời giải đáp. Và suy nghĩ của con người ko gì khác chính là một phương pháp hay công cụ để giải quyết những vấn đề đó.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó là vì vấn đề ấy nằm trên con đường đi của những thiên hướng và hành vi tự nhiên của người đó. Có thể bản thân thiên hướng của người đó dẫn họ đến vấn đề ấy, mà cũng có thể là họ bắt gặp vấn đề ấy trên con đường để đi đến lời giải đáp cho một vấn đề khác mà họ có hứng thú. Điều này giống như việc một dòng nước chảy sẽ cuốn trôi đi những vật cản trên con đường của nó vậy.

Một người có hứng thú với một câu hỏi hay vấn đề nào đó cũng đồng nghĩa với việc người đó cảm thấy một lợi ích nào đó của bản thân phụ thuộc vào việc tìm ra lời giải đáp cho vấn đề đó. Lợi ích ấy có thể là tiền nong, sức khỏe, quan hệ, quyền lực, hay có thể đơn giản chỉ là việc thỏa mãn sự tò mò, nhưng chắc chắn một điều là nó xuất phát từ những thiên hướng tự nhiên, hay chính là nhân cách tự thân của người đó.

Khi một người có hứng thú với một vấn đề, thì người đó sẽ có động lực để giải quyết vấn đề đó, để nhằm tiến lên phía trước và đem lại lợi ích cho bản thân. Khi đó chúng ta có thể nói rằng người đó cảm thấy có trách nhiệm với vấn đề đó, hay người đó coi vấn đề đó là “của mình”. Ngược lại với thái độ có hứng thú và trách nhiệm ko gì khác chính là sự thờ ơ.

Theo như tiêu chuẩn trên, rõ ràng có thể thấy rằng những vấn đề mà một đứa trẻ gặp phải trong thực tế cuộc sống bên ngoài trường học đều là những vấn đề mà nó cảm thấy hứng thú. Bởi vì nếu ko có hứng thú thì đứa trẻ đó đã chẳng coi những vấn đề ấy là vấn đề. Đó là những vấn đề nảy sinh từ việc những thiên hướng và hành vi tự nhiên của đứa trẻ va chạm với thế giới xung quanh. Nói cách khác, đó là những vấn đề mà ko sớm thì muộn, bằng cách này hay cách khác đứa trẻ đó cũng sẽ gặp phải trong quá trình sống ở môi trường hiện tại.

Ngược lại, đại đa số những vấn đề và câu hỏi mà một đứa trẻ gặp phải trong trường học lại là những vấn đề “nhân tạo”, nếu ko muốn nói là “giả tạo”. Chúng ko phải là những vấn đề nảy sinh từ những thiên hướng và hành vi tự nhiên của những đứa trẻ, mà là được “chế tạo” ra để làm công cụ cho việc truyền tải những điều mà người lớn muốn trẻ em tiếp thu. Chúng ko hề có hoặc có rất ít sự gắn kết đối với những trải nghiệm thực tế mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày. Một phần lớn trong số chúng là những câu hỏi mà nếu như ko bị bắt buộc phải đến trường thì rất có thể đứa trẻ đó sẽ ko bao giờ bắt gặp.

Ko khó gì để thấy rằng hệ thống trường học hiện tại ko phải là một môi trường tốt để cho những đứa trẻ có thể bắt gặp các vấn đề một cách tự nhiên. Trong đa số các lớp học, trẻ em hầu như chỉ ngồi im một chỗ và ko được làm gì khác ngoài việc nghe giảng, chép bài và trả lời câu hỏi của giáo viên. Nội dung và thời điểm các môn học đều được định sẵn mà ko hề có tham khảo một chút nào đến mong muốn của từng đứa trẻ. Điều đó có nghĩa là những thiên hướng và hành vi tự nhiên của một đứa trẻ, ngoài những thứ phục vụ cho việc học trên lớp, hầu như ko có cơ hội thể hiện và được chấp nhận trong trường học. Khi đó đương nhiên đứa trẻ ấy cũng sẽ khó có thể bắt gặp những vấn đề mà nó thực sự có hứng thú.

Nếu như chỉ có vậy, thì những câu hỏi trong trường học, tuy có thể là vô bổ, nhưng vẫn còn là vô hại, vì những thiên hướng tự nhiên của một đứa trẻ sẽ tự biết loại bỏ những gì nó ko thấy có hứng thú và tập trung sự chú ý vào những thứ còn lại. Vấn đề lớn nhất của giáo dục trường học là việc những đứa trẻ ko được để cho tự do lựa chọn việc có suy nghĩ tìm cách giải quyết những câu hỏi được đặt ra cho chúng hay ko, mà những vấn đề ấy được áp đặt lên đầu chúng thông qua những công cụ như điểm số hay sự đánh giá từ giáo viên và cha mẹ.

Trong một môi trường như vậy, hứng thú của những đứa trẻ sẽ ko còn nằm trực tiếp ở những câu hỏi được đưa ra nữa, mà nằm ở việc đáp ứng những tiêu chuẩn và đòi hỏi từ người lớn. Việc giải quyết các vấn đề và trả lời các câu hỏi sẽ chỉ còn là một trong những công cụ để đạt được những điểm 10, để được thầy cô khen ngợi, để ko bị cha mẹ mắng mỏ. Nói cách khác, bài toán mà thầy đưa ra là chuyện của thầy, còn bài toán của em là làm sao để ko bị thầy cho ăn điểm xấu.

Và một cách hết sức tự nhiên, khi con đường thẳng là suy nghĩ giải quyết vấn đề có vẻ như quá gập ghềnh khó khăn, thì những đứa trẻ sẽ lựa chọn những con đường khác nhẹ nhàng hơn để đến cùng một cái đích là điểm số. Rất có thể trong những con đường ấy sẽ ko hề tồn tại sự suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo mà hệ thống giáo dục luôn mong muốn diễn ra, bởi vì bản thân việc giải quyết vấn đề ko phải là mục tiêu thực sự. Trái ngược lại với điều đó, chẳng có một ai lại nghĩ đến chuyện “gian lận thi cử” khi tự mình tìm cách học nấu một món ăn mới hay học chơi một nhạc cụ mới hay học nói một ngôn ngữ mới cả.

Hẳn nhiên, những điều trên ko có nghĩa là chúng ta nên phá bỏ hệ thống trường học và để mặc cho những đứa trẻ tự phát triển. Số lượng và chất lượng những kích thích mà một đứa trẻ bắt gặp trong cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội xung quanh, và do vậy thường sẽ mang tính hạn chế và cục bộ nếu ko có sự can thiệp có chủ ý. Nhiệm vụ của trường học là cung cấp một môi trường mà trong đó trí não của những đứa trẻ sẽ được kích thích nhiều hơn, rộng hơn và cân bằng hơn so với những sự kích thích mà chúng nhận được ngoài đời, và để cho chúng tự mình tìm ra từ đó những vấn đề mà chúng có hứng thú.

Nhiệm vụ của trường học còn là đảm bảo rằng việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi những đứa trẻ phải tự mình quan sát, tìm tòi, suy nghĩ cũng như sáng tạo, và cung cấp cho chúng những thông tin, công cụ và chỉ dẫn cần thiết và vừa đủ để làm được điều đó. Một đứa trẻ nếu như ko nhận được sự giúp đỡ thích hợp khi đứng trước một vấn đề quá khó sẽ có khả năng bỏ cuộc và đánh mất hứng thú. Nhưng nếu sự giúp đỡ vượt quá mức cần thiết thì đứa trẻ cũng sẽ ko còn cơ hội sử dụng trí não của riêng mình để tự tìm ra lời giải, và do đó việc giải quyết vấn đề sẽ mất đi phần lớn giá trị giáo dục. Nói cách khác, trường học cần phải là vườn ươm trí não đúng nghĩa, chứ ko phải là đấu trường hoang dại hay cái lò nuôi gà công nghiệp.

Tìm tòi học hỏi và suy nghĩ tìm cách giải quyết các vấn đề là những hành vi tự nhiên, nếu ko muốn nói là cần thiết phải có, của mọi con người. Việc biến những đứa trẻ từ những cái hố chân không bám lấy và hút vào đủ mọi loại tri thức thành những em học sinh chán chường và đôi khi căm ghét việc học phải nói là một thành tựu đòi hỏi công sức ko hề nhỏ của cả một hệ thống giáo dục sai lầm. Chừng nào trường học vẫn còn đâm đầu vào việc đơn thuần truyền tải những điều người lớn muốn trẻ em tiếp thu một cách cưỡng ép, và đánh giá các em thuần túy bằng khả năng ghi nhớ kiến thức và trả lời các câu hỏi nhân tạo, thì việc thờ ơ và gian lận trong giáo dục sẽ vẫn còn là điều phổ biến.

Cha mẹ và con cái và lợi ích và xung đột

Có lẽ phần đông các bạn trẻ thế hệ tôi đều đã từng ít nhất một lần được nghe câu “bố/mẹ/tao làm XYZ là muốn tốt cho con/mày chứ cho ai” hay đại khái như vậy từ miệng cha mẹ mình khi bị bắt ép làm một điều gì đó mà bản thân không thích. Và hẳn trong số các bậc cha mẹ trẻ ngày nay cũng không thiếu người đã từng hay vẫn đang có những suy nghĩ muốn con làm một điều gì đó mà bản thân cho là tốt cho con, trong khi chưa suy nghĩ thấu đáo đến mong muốn thực sự của đứa trẻ. Trong bài viết lần này tôi xin bàn về sự xung đột này giữa cha mẹ và con cái.

Trước hết chúng ta hãy nói về vấn đề thế nào là “cái tốt”, là “lợi ích”, là “vì hạnh phúc con cái”. Hẳn ít ai phản đối rằng “hạnh phúc” và rộng ra là “lợi ích” là một cảm nhận mang tính chủ quan, tức tùy thuộc vào giá trị quan của cá nhân người tiếp nhận. Mà đã như vậy, thì rõ ràng người có tư cách nhất, nếu không muốn nói là người duy nhất có đủ thẩm quyền, để mà quyết định xem một sự vật sự việc có đem lại “hạnh phúc” và “lợi ích” cho ai đó hay không, phải là chính người sẽ được/phải tiếp nhận cái “hạnh phúc” và “lợi ích” ấy, vì đó là người nắm rõ nhất tiêu chí để đưa ra đánh giá. Một sự đánh giá từ người khác, nếu không phải là niềm tin hay phỏng đoán, thì cũng chỉ là suy đoán chứ không phải là quyết định cuối cùng.

Do vậy, rõ ràng việc các bậc cha mẹ bắt ép con cái làm một điều gì đó mà chúng không muốn với lý do “vì lợi ích của con” là một điều hoàn toàn mâu thuẫn, vì lợi hay không phải do con quyết định, con đã cự tuyệt chứng tỏ mong muốn của bố mẹ không phải là “lợi ích” của con. Việc cha mẹ khăng khăng vin vào cái lý do “vì lợi ích của con”, do đó, không những là một điều vô lý đùng đùng, mà còn thể hiện một sự phủ nhận và thiếu tôn trọng đối với chủ thể đã đưa ra quyết định bác bỏ lý do ấy, mà ở đây là nhân cách tự thân của con.

Tất nhiên, “hạnh phúc” và “lợi ích” nên được đánh giá một cách toàn diện, công bằng và lâu dài. Và quả thực, có nhiều trường hợp con cái đưa ra những đánh giá mang tính hẹp hòi, thiên lệch hoặc ngắn hạn đối với những mong muốn hay yêu cầu của cha mẹ, và khi lớn lên sẽ thay đổi suy nghĩ mà cảm thấy biết ơn những gì cha mẹ đã làm. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không hề thay đổi được bản chất của sự việc là cha mẹ đã có hành động phủ nhận nhân cách của con, ít ra là tại thời điểm sự việc xảy ra và nhìn từ quan điểm của con cái.

Kết quả của điều đó là gì? Là về mặt lâu dài, cả con cái lẫn cha mẹ đều thiệt đơn thiệt kép. Việc nhân cách của con cái bị cha mẹ phủ nhận trước hết sẽ gây tổn thương tinh thần cho con, vì cha mẹ thường là những người con tin cậy và mong muốn được yêu thương và chấp nhận nhất. Quan trọng hơn, nó gây cản trở đến việc hình thành nhân cách tự thân của con. Đó là bởi vì việc phải làm một điều mà bản thân không muốn vì một lý do mà bản thân không phục, về bản chất chính là việc con người ta phải tự phủ nhận nhân cách của bản thân ở mức độ nào đó để sống theo một nhân cách giả tạo hòng xoa dịu sức ép kia. Nếu điều này diễn ra thường xuyên liên tục kéo dài, và nhân cách tự thân của con cái không đủ mạnh mẽ để chống cự, thì sẽ dẫn đến việc đứa trẻ lớn lên nhưng không có được một nhân cách thật cho riêng mình, mà chỉ sống theo những chuẩn mực và mong muốn của người khác.

Đứng từ phía cha mẹ, thì sự thể cũng không hề khá hơn. Có thể trong một chốc một lát những mong muốn và yêu cầu của cha mẹ sẽ được đáp ứng, nhưng việc bị buộc phải vứt bỏ mong muốn và suy nghĩ của bản thân để làm vui lòng cha mẹ về lâu dài sẽ dẫn đến sự xói mòn sự tin cậy mà con cái dành cho cha mẹ. Rõ ràng sẽ chẳng có ai muốn chia sẻ những suy nghĩ sâu xa chân thật xuất phát từ nhân cách thực của bản thân với những người đã từng và rất có thể sẽ lại chà đạp, phủ nhận, hay ít ra là không chào đón nhân cách ấy. Và khi đó, giữa cha mẹ và con cái sẽ xuất hiện một khoảng cách về niềm tin, một cái hố chia rẽ do các bậc cha mẹ tự đào lấy, để rồi lại đi băn khoăn là sao con không tâm sự với mình, và thậm chí là nghĩ đến chuyện đọc trộm nhật ký thư từ để “hiểu con hơn”. Đó là chưa kể, đối với những bậc cha mẹ muốn con mình trở thành một người độc lập và biết tự suy nghĩ, thì việc vô tình cản trở sự hình thành nhân cách tự thân của con, cản trở cái nền móng duy nhất cho sự “độc lập” và “biết nghĩ” kia, quả là một bi kịch.

Vậy phải chăng giải pháp ở đây là không bắt con làm bất cứ điều gì mà con không muốn? Đó chưa hẳn là giải pháp tốt nhất, và trong một số trường hợp cụ thể còn là giải pháp tồi. Trước hết, cha mẹ, với tư cách là người chịu trách nhiệm trước xã hội về tính mạng, sức khỏe và hành vi của con cái mình cho đến khi chúng trưởng thành, trong nhiều trường hợp có thể được xem là có lý do chính đáng để bắt buộc con cái làm theo ý mình bất kể mong muốn của con. Hơn nữa, việc luôn luôn ưu tiên mong muốn của con cái trong mọi trường hợp xung đột sẽ dẫn đến một mối quan hệ bất bình đẳng, thiếu sự tôn trọng từ phía con cái đối với cha mẹ như giữa những con người ngang hàng với nhau, và do vậy sẽ có thể tạo nên những nhận thức sai lầm trong con trẻ về quan hệ giữa người với người trong xã hội.

Thế thì xung đột này nên được giải quyết thế nào? Chúng ta hãy nhớ lại rằng vấn đề chính trong việc bắt ép con cái làm theo ý mình vì điều đó “tốt cho con” không nằm ở bản thân việc bắt ép, mà nằm ở lý do được đưa ra cho hành động đó. Chuyện chấp nhận nhượng bộ với người khác hay từ bỏ mong muốn vì những lý do hợp lý hay bất khả kháng là chuyện con người vẫn luôn sẵn sàng làm. Nhưng chính việc cha mẹ cho rằng một điều gì đó là “có lợi”, là “tốt”, là “vì hạnh phúc của con” và tìm cách áp đặt suy nghĩ đó bất chấp sự phản đối từ phía con cái mới là điều làm nên sự thiếu tôn trọng và phủ nhận nhân cách của con. Khi cha mẹ đem cái suy nghĩ ấy của mình làm lý do cho sự bắt ép, thì việc con cái chấp nhận nghe lời cha mẹ sẽ gián tiếp trở thành việc cúi đầu chấp nhận một lý lẽ mà bản thân đang bác bỏ và phản đối. Đó là một sự hạ nhục tinh thần lớn không kém gì, và đôi khi là còn hơn cả, bản thân việc bị bắt ép.

Vì vậy, cách xử lý đúng, theo tôi, là các bậc cha mẹ nên bỏ việc lấy lý do “vì lợi ích của con” làm lý lẽ biện minh cho những yêu cầu bắt buộc của bản thân đối với con, nhất là khi con đã không muốn làm theo. Vì như đã trình bày, đó là một việc làm có thể nói là mâu thuẫn về logic, và thể hiện sự thiếu tôn trọng nhân cách của con. Hơn thế nữa, nó còn thể hiện sự thiếu trung thực của các bậc cha mẹ. Ấy là bởi vì một khi các bậc cha mẹ đã không cho con quyền tự do lựa chọn, thì cũng đồng nghĩa với việc lý do thực sự đằng sau hành vi đó không còn là vì lợi ích của con nữa, mà là để nhằm phục vụ một lợi ích nào đó của chính cha mẹ. Lợi ích đó có thể là thỏa mãn mong muốn điều khiển con cái theo ý mình, hay để tránh sự mệt mỏi lo âu cho bản thân, hoặc để tránh bị người xung quanh gọi là vô trách nhiệm, mà cũng có thể đơn giản là để bảo vệ con cái khỏi nguy hiểm và rủi ro.

Việc đánh tráo lý do kể trên là một điều nguy hiểm, vì không những nó là một sự vô lý đối với con cái, mà còn là một sự lừa dối đối với bản thân. Khi các bậc cha mẹ tự huyễn hoặc rằng mình đang làm mọi thứ vì con, tức là vì một mục đích hết sức cao cả, không ai có thể bác bỏ được, kể cả những đứa trẻ, thì tức là họ đã tự cởi trói cho bản thân khỏi những giới hạn đạo đức và ứng xử thường có trong giao tiếp giữa người với người, để mà sẵn sàng “đi tới cùng” trên con đường “vì con”. Ngược lại, một khi cha mẹ nhận thức được rằng những việc mình nhất định muốn con phải làm đều là để phục vụ lợi ích của bản thân, thì đồng thời họ cũng sẽ tự ý thức đến cái giới hạn của lợi ích chính đáng hơn rất nhiều. Ấy là vì trong môi trường đạo đức xã hội ngày nay, không có mấy ai muốn và có thể tự công nhận rằng mình là một kẻ ích kỷ và vô lý cả.

Vậy nên, nếu như cha mẹ đã vì lợi ích của bản thân, thì hãy dũng cảm và hiên ngang chấp nhận sự thật đó, trước hết là trong tâm trí của mình, và thậm chí là nói thẳng ra với con trẻ. Những lý do “vì tốt cho con”, nếu có, hãy dùng làm lý lẽ để thuyết phục con nhượng bộ, chứ đừng lấy đó làm lý do cho hành vi bắt ép của mình khi biện minh với con. Trong trường hợp thuyết phục thất bại, tức là con không chấp nhận lý lẽ và cha mẹ dùng đến quyền lực nào đó để bắt ép, thì ít ra cha mẹ hãy công nhận phán quyết đã được đưa ra từ phía con, chứ đừng phủ nhận hay ngó lơ. Công nhận không có nghĩa là phải đồng ý, mà nó thể hiện sự tôn trọng đối với nhân cách của con như một con người hoàn toàn.

Dựa vào những lý lẽ trên, tôi xin đưa ra mấy lời khuyên cụ thể như sau đối với các bậc cha mẹ. Trước hết, khi nảy sinh một mong muốn nào đó đối với con cái, cha mẹ hãy thử suy nghĩ xem rằng nếu như con không chấp nhận mong muốn đó, thì mình có sẵn sàng để cho con có được tự do lựa chọn hay không. Nếu câu trả lời là có, thì hãy đưa mong muốn đó ra dưới dạng gợi ý hoặc đề đạt nguyện vọng thay vì yêu cầu hay ra lệnh, bởi một khi đã yêu cầu hay ra lệnh thì cái sĩ diện cá nhân của mỗi người sẽ khiến cho cha mẹ rất khó chấp nhận một sự bất tuân, mặc dù có thể chủ ý ban đầu không phải như vậy. Lưu ý rằng mọi sự bực tức, giận dỗi hay tâm trạng không tốt nào khi bị từ chối đều có thể được một đứa trẻ hiểu là một sự gây áp lực để bắt ép từ phía cha mẹ. Việc nhắc đi nhắc lại một nguyện vọng nào đó cũng là dấu hiệu của một mong muốn ích kỷ chứ không hoàn toàn vì lợi ích của con. Chúng ta có thể thấy rằng việc chấp nhận cho con có tự do lựa chọn đòi hỏi một sự chuẩn bị tinh thần nhất định.

Còn nếu như cha mẹ đã không thực sự có được sự sẵn sàng và thoái mái để con có được tự do lựa chọn, thì hãy vứt bỏ hết những lối tiếp cận giả tạo nghe như có vẻ mình đang cho con quyền từ chối, mà hãy nói thẳng với con rằng bố mẹ yêu cầu con làm việc XYZ vì lý do ABC, kèm theo là những đe dọa hoặc điều kiện trao đổi hoặc lý lẽ thuyết phục nếu cần. Khi con không đồng ý, hãy nói với con rằng bố mẹ biết con không thích XYZ, và bố mẹ hiểu rằng mình đang vi phạm đến quyền tự do của con, nhưng bố mẹ có những lý do của riêng mình để cương quyết yêu cầu con đáp ứng. Chú ý rằng dù lý do được đưa ra có là ích kỷ cá nhân, thì vẫn tốt hơn nhiều là không giải thích chút nào, bởi vì riêng việc phải làm một điều gì đó mà không rõ mục đích hay lý do cũng đã là một rào cản đối với việc chấp nhận yêu cầu từ cha mẹ.

Lưu ý rằng ở đây tôi không hề có ý nói việc cha mẹ bắt ép con cái làm theo ý mình là một điều gì đó xấu xa hay đáng lên án, vì phạm vi đang được nói đến là quá rộng lớn và đa dạng. Việc đánh giá đâu là “tốt”, đâu là “xấu” trong từng trường hợp cụ thể tôi xin nhường lại cho giá trị quan đạo đức của từng người. Ở đây tôi chỉ đưa ra cách tiếp cận ít gây tổn thương nhất trong trường hợp cha mẹ cảm thấy cần hay muốn áp đặt quyết định lên con cái. Nhưng chúng ta cũng có thể thấy rằng một khi đã gạt bỏ đi cái mác “vì con”, thì số lượng những mong muốn có đủ cơ sở để có thể được nói ra một cách thẳng thắn như trên mà không khiến cho chính cha mẹ cảm thấy mình ích kỷ và vô lý đã giảm đi khá nhiều.

Tôi cũng muốn lưu ý thêm rằng sức chịu đựng của con người là có hạn, và trẻ con cũng vậy. Mỗi một lần con trẻ cảm thấy bị bắt ép phải làm điều mình không muốn chỉ vì những lý do vô lý và ích kỷ của cha mẹ, là một lần sợi dây tình cảm giữa cha mẹ và con cái bị bào mòn đi. Mà sợi dây tình cảm ấy lại chính là thứ ràng buộc con người với nhau một cách bền chặt nhất. Nếu như cha mẹ thường xuyên và liên tục lạm dụng quyền lực của bản thân vào những vấn đề nhỏ nhặt không đáng, thì cũng đừng ngạc nhiên khi con cái kiên quyết chống đối mình trong những vấn đề hệ trọng sau này, hay tệ hơn là coi cha mẹ như những người dưng đứng ngoài cuộc đời của bản thân. Nói cách khác, cha mẹ nên biết cách sử dụng quyền lực của mình một cách “tiết kiệm”.

Tựu chung lại, một khi đã cùng chung sống dưới một mái nhà và có sự ràng buộc về nhiều mặt, thì giữa cha mẹ và con cái rất khó có thể tránh khỏi sự xung đột về lợi ích. Tuy nhiên, ngay cả khi các bậc cha mẹ vì lý do nào đó mà bắt ép con cái làm theo ý mình, thì vẫn có những cách tiếp cận giúp cho con trẻ cảm thấy nhân cách của bản thân được tôn trọng hết mức có thể. Qua bài viết này, tôi hy vọng rằng mình đã phần nào làm rõ được điều đó.

Phụ huynh Sudbury: Giao cho con có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Trong phần trước, tôi đã viết rằng điều mà “mô hình giáo dục Sudbury” coi trọng nhất chính là việc nhìn nhận trẻ em như những con người hoàn toàn độc lập với cha mẹ. Điều đó cũng có nghĩa là “tin tưởng 100% vào trẻ em, giao toàn bộ quyền lựa chọn cho trẻ em”.

Chẳng hạn như ở trường Tokyo Sudbury School, dù cho có là một đứa bé còn chưa đi học tiểu học, thì ý chí của riêng em đó vẫn được tôn trọng trên hết. Việc nhận học sinh không phải là phía trường chấp nhận việc “phụ huynh đưa con vào trường”, mà là chấp nhận việc “học sinh lựa chọn vào trường Sudbury”.

Thêm vào đó, cả sau khi đã vào trường, do trong mô hình Sudbury không có giờ học, nên các em học sinh chỉ làm những việc mà mình thích. Các em không hề nhận được sự chỉ dẫn “làm cái này đi” hay “nên làm cái này hơn” từ bất cứ ai cả. Việc học sinh làm gì trong khoảng thời gian ở trường là hoàn toàn dựa trên ý chí tự do của các em.

Và một vấn đề luôn luôn nảy sinh ở đây là “giao toàn quyền quyết định cho con liệu có ổn không?”.

Quả thực đã là trẻ con thì thường cũng có chỗ chưa được chín chắn. Trẻ con kinh nghiệm và tri thức đều ít, và có lẽ cũng không giỏi trong việc nhìn nhận một cách khách quan và quyết định một cách tỉnh táo. Nhìn những đứa trẻ “thiếu tin cậy” ấy, thì chuyện các bậc cha mẹ lo lắng rằng  “giao hết cho con có ổn không?” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, dù cho có là như vậy đi nữa thì tôi vẫn muốn tin vào con trẻ. Tôi cho rằng trẻ con có đầy đủ năng lực đánh giá và tự lựa chọn con đường đi cho riêng mình ngang bằng với người lớn.

Vì sao tôi lại có thể nghĩ như vậy? Đó là vì tôi nghĩ rằng chính việc chúng ta “đối xử như trẻ con” lại đang “giam cầm trẻ con trong cái vỏ bọc trẻ con”.

Tôi cho rằng trẻ con vốn ngay từ khi còn bé đã có năng lực phán đoán sự việc và lựa chọn cuộc đời mình. Cái đang cướp đi năng lực ấy, cái đang kìm hãm trẻ con trong hình ảnh “thiếu tin cậy” ấy chính là cách mà người lớn xung quanh đối xử với chúng “như trẻ con”.

Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được điều đó nếu nhìn vào những cô nhi ở Nhật Bản sau chiến tranh, hay những em bé ở các nước đang phát triển. Khi bị cuộc sống thúc bách, trẻ con có thể phát huy được năng lực vô cùng lớn, để sinh tồn một cách kiên cường với một sức sống còn vượt xa cả người lớn.

Lại nói, nếu nhìn vào những vận động viên đã đạt thành tích từ tuổi mười mấy như tuyển thủ golf Ishikawa Ryo, tuyển thủ trượt băng Asada Mao, hay tuyển thủ tennis Nishikori Kei, thì có thể rằng họ hoàn toàn không cho thấy một ấn tượng trẻ con nào. Vì sao mà phát ngôn của họ lại có thể chững chạc như người lớn đến vậy? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ ở trong một thế giới cạnh tranh nghiêm túc và do đó chẳng bao giờ được (bị) những người lớn xung quanh “đối xử như trẻ con” cả.

Hãy thử nghĩ về Nhật Bản ngày xưa mà xem. Trẻ em vừa tốt nghiệp tiểu học là đã lập tức ra xã hội làm việc. Ngay từ cái tuổi đầu mười những đứa trẻ ấy đã hoàn toàn đủ tư cách được coi là những thành viên có ích của xã hội.

Thêm vào đó, lễ “nguyên phục” (lễ trưởng thành) ngày xưa thường được tiến hành vào “khoảng từ 11 đến 17 tuổi”. Tuổi kết hôn đối với nam là từ 17 đến 20 tuổi, nữ là từ 13 đến 15 tuổi. Thế tức là trong xã hội ngày xưa chỉ cần trên 10 tuổi là được đối xử như người lớn rồi.

Nhưng đến ngày nay thì sao? Tuổi tương ứng với lễ nguyên phục là 20 tuổi. Cho đến khi ra khỏi trường đại học và bắt đầu đi làm, thì ngay đến cả một thanh niên râu ria xồm xoàm cũng vẫn bị xã hội “đối xử như trẻ con”.

Vì vậy mà tôi mới nghĩ rằng, cái đang cướp đi năng lực tiềm tàng của trẻ em chẳng phải chính là cha mẹ và trường học hay sao? Chúng ta đang dùng những lý lẽ như “vì các con vẫn còn là trẻ con”, “trẻ con thì im lặng mà nghe lời đi”, “cái đấy đợi đến khi nào con lớn rồi hẵng nghĩ tới” để mà cướp đoạt đi từ các con “năng lực tự mình suy nghĩ và lựa chọn”. Ấy thế nhưng mà trong lúc đó trẻ con vẫn bị người lớn nói những câu như “giới trẻ bây giờ chẳng biết tự lập là gì”, “toàn chỉ biết đợi lệnh chứ chẳng chịu tự suy nghĩ gì cả”. Đối với những đứa trẻ, thì quả đó là một điều bất công.

Ở trường Tokyo Sudbury School, học sinh không bao giờ bị những người xung quanh bắt ép phải học hành cả. Trường cũng chẳng có giờ học thể dục hay âm nhạc gì hết. Các em học sinh được có “tự do” làm những điều mình thích.

Thế nhưng, cái “tự do” ấy rất khác với cái “tự do” mà các em học sinh ở những trường học bình thường có được trong giờ nghỉ giải lao. Cái “tự do” ấy là cái “tự do” có kèm theo “trách nhiệm”, cũng tức là thứ “tự do” của người lớn.

Trong trường Sudbury không hề có giờ học toán hay quốc ngữ. Do đó, những học sinh không học thì dù có lớn đến đâu cũng không biết tính toán hay đọc viết.

Nếu các em cảm thấy “không biết tính toán thì không được”, thì các em có thể bắt đầu học toán. Nếu các em cảm thấy “muốn đọc sách”, thì các em có thể bắt đầu học đọc học viết. Đó là cách suy nghĩ theo phong cách Sudbury. Nó có nghĩa là các em phải tự suy nghĩ xem việc học có thực sự cần thiết cho mình hay không.

Nếu chỉ nhìn qua thì việc “làm gì cũng được” có vẻ như là đang nuông chiều các em, nhưng thực tế nhìn từ góc độ mỗi em đều phải tự chịu hoàn toàn trách nhiệm về tương lai của bản thân, thì có thể nói rằng đó là một phương pháp giáo dục hết sức “nghiêm khắc”.

Và cá nhân tôi muốn tin tưởng vào năng lực mà con tôi sẽ có được trong một môi trường như vậy. Đó chính là “năng lực phân biệt” được đâu là cái cần thiết cho mình và đâu là không, là “năng lực chịu trách nhiệm” đối với những lựa chọn dựa trên sự đánh giá của bản thân.

Trong xã hội ngày càng biến chuyển mạnh mẽ sắp tới, tôi tin rằng chính cái “năng lực tự mình đánh giá và quyết định mọi việc” ấy mới là điều quan trọng nhất.

Việc trẻ em tự lựa chọn con đường đời cho riêng mình dựa trên sự đánh giá của bản thân sẽ dẫn tới một tương lai như thế nào cho các em, ấy là điều chẳng ai có thể biết được.

Thế nhưng, một điều có thể chắc chắn nói được, đó là dù tương lai đang chờ đợi các em có là như thế nào chăng nữa, thì đó cũng là thứ mà chính bản thân các em đã lựa chọn. Và những đứa trẻ của chúng ta chắc chắn sẽ giang rộng vai đón nhận trách nhiệm đối với kết quả của sự lựa chọn ấy.

Từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, tôi đã tự mình đưa ra một quyết tâm. Ấy là việc ngừng suy nghĩ xem “cái gì mới là hạnh phúc cho con”. Và kèm theo đó là việc giao toàn bộ cuộc đời của con cho bản thân con. Làm như vậy, chắc chắn con sẽ có thể xây dựng nên được một “năng lực tự mình đánh giá, tự mình quyết định cuộc đời” và trưởng thành đến mức khiến cho bản thân tôi cũng không nhận ra được nữa.

Có dũng khí để mà chấp nhận cho con có một cuộc sống tự lập. Tôi nghĩ đó chính là “mô hình giáo dục Sudbury”.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【子どもにまかせて大丈夫?】

「サドベリー教育」が最も大切にしていることは、子どもを親とは独立した一個の人間として認めることであるということを前回書きました。それはつまり「子どもを100%信頼し、すべての選択を子どもの判断に委ねる」ということです。

たとえば東京サドベリースクールに入学するときは、たとえ小学校に上がる前の子でも、その子の意志がなにより尊重されます。親は子を「サドベリースクールに入れる」のではなく、「子がサドベリースクールを選んで入る」のを承認する形になるのです。 

また、スクールに通うようになってからも、サドベリーには授業がないので、子どもたちは自分の好きなことだけをします。誰からも「こうしなさい」とか「こうした方がいいよ」と指図されることはありません。学校で何をして過ごすかは、すべて子どもたちの自由意志に委ねられます。

そして、ここで常に問題になるのが、「子どもにすべての選択を任せて大丈夫か」ということです。

確かに子どもには未熟なところがあります。経験や知識も少ないし、客観的な視野に立って物事を冷静に判断することは苦手かもしれません。そんな“頼りない”子どもに、「すべての選択を任せて大丈夫?」と心配になる親の気持ちはよく分かります。

でも、それでも、私はあえて子どもの力を信じたいと思います。彼らには大人と同等の判断力があり、自分の人生を自分で選び取る能力があると思います。

なぜそう思えるのか。それは、大人が「子ども扱いすること」が、かえって「子どもを子どもの中に閉じ込めている」のではないかと考えるからです。

子どもは本来、小さなうちから物事を判断し自分の人生を選び取ってく力を有していると思います。その力を奪い、子どもをいつまでも“頼りない”存在にしているのは、周囲にいる大人たちの「子ども扱い」なのではないでしょうか。

たとえば、戦後の日本の孤児たちや、途上国の子どもたちを見ていると分かります。必要に迫られると、子どもはとてつもない能力を発揮し、大人顔負けの生命力で、逞しく生き抜いていくものです。

また、ゴルフの石川遼やスケートの浅田真央、テニスの錦織圭など、10代で活躍した選手たちを見ていると、まったく子供っぽい印象がありません。なぜ彼らの発言は大人びていて、立派なのでしょう。それはたぶん周囲にいる大人が勝負の世界に生きる彼らを「子ども扱い」しないからだと思います。

そして、もうひとつ「子どもを子どもの中に閉じ込めている」ものが現代にはあります。それは学校教育です。学校が子どもを必要以上に「子ども扱い」するために、卒業して社会に出るまで、子どもは大人になることを自らやめてしまうのです。

昔の日本を考えてみてください。子どもは小学校を出たら、すぐに社会に出て働いていました。10代で彼らは十分に実社会で役立つ即戦力になっていたのです。

また、かつての「元服」の年齢は「11歳から17歳の間」だったそうです。結婚する年齢も、平安時代は男性で17歳~20歳ぐらい、女性で13歳~15歳ぐらい。10歳を超えれば、昔の社会ではすっかり大人扱いされていたわけです。

それが今ではどうでしょう。元服にあたる成人式は20歳。大学を出て会社に就職するまでは、ヒゲの生えた立派な青年でも社会は「子ども扱い」をします。

私は思います。子どもの潜在能力を奪っているのは、むしろ親や学校なのではないかと。「あなたはまだ子どもだから」「子どもは黙って聞いていなさい」「それは大人になってから考えることよ」などと言い、子どもから「自ら考え、選択する力」を奪っているのです。それでいて、「今の子は自立していない」「指示待ちばかりで自分で考える力がない」などと言われるのですから、子どもにとってはいい迷惑です。

東京サドベリースクールでは、周囲から強制的に勉強させられることはありません。体育や音楽の授業もありません。子どもには好きなことをやっていい「自由」が与えられます。

でも、この「自由」は一般の学校にある休み時間の「自由」とは違います。それは自らに「責任」が伴う大人としての「自由」なのです。

スクールには算数や国語の授業がありません。なので、勉強しない子はいくつになっても計算や読み書きができません。

「計算できないのはいやだ」と思えば算数を勉強すればいい。「本が読みたい」と思えば読み書きを勉強すればいい。これがサドベリー流の考え方です。勉強が自分にとって必要かどうかは自分で考えなさいということです。

一見「何をやってもいい」と甘やかしているように見えますが、自分の将来に完全に責任を負わなければいけないという点において、非常に「厳しい」教育といえるのです。

このような環境で子どもに身につく力を、私は信じたいと思います。それは自分にとって必要なものとそうでないものを「見分ける力」であり、自分の判断において選んだことに対して「責任を持つ力」です。

変化の激しいこれからの社会においては、まさにこのような「自分で物事を判断し、決めていける力」がものを言うようになってくると思います。

自分の判断において子どもが自ら選択し、歩んでいった人生の先に、どのような未来が待っているのか、それは誰にも分かりません。

でも、ひとつ言えるのは、どんな未来が待っていようと、それは子ども自身が選び取ったものだということ。その結果に対して、子どもは胸を張って責任を取ることでしょう。

息子が東京サドベリースクールに通うようになって、私はひとつの決断をしました。それは「子どもにとって何が幸せか」を考えることをやめること。そして、息子の人生をそっくり彼に手渡してあげること。そうすることで、子どもは見違えるほど、「自分で判断」し、「自らの人生を決めていく力」を獲得していくはずです。

勇気をもって、子どもの独立した人生を認めること、それが「サドベリー教育」だと私は思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Phụ huynh Sudbury: Không học có ổn không?

Bản dịch tiếng Việt

Kể từ khi con trai bắt đầu đến trường Tokyo Sudbury School, trong trí óc của tôi “giáo dục là gì” đã trở thành một đề tài suy nghĩ thường xuyên.

“Tại sao trẻ con lại phải đến trường?”. “Tại sao lại phải học hành?”.

Đó là những vấn đề quá sức cơ bản, đến mức tôi chưa từng bao giờ suy nghĩ tới trước đó.

Và tôi cũng bắt đầu suy nghĩ thực sự nghiêm túc về câu hỏi rằng liệu con mình “không học có ổn không?”. Việc vứt bỏ nền “giáo dục nghĩa vụ” để vào một ngôi trường không có giờ học cũng không có giáo viên liệu có phải là một sự đánh cược quá liều lĩnh hay không?

Chắc hẳn rất nhiều bậc phu huynh Sudbury trước khi cho con đến trường cũng đều đã rất trăn trở với vấn đề này. “Vào trường Sudbury để được tự do cũng tốt thôi, nhưng nhỡ mà con lại ham mê điện tử thì biết làm sao đây…”. “Trường Sudbury chưa được Bộ Văn Giáo công nhận, nên chỉ có thể lấy đưPreviewợc bằng tốt nghiệp cấp 2. Chỉ có bằng cấp 2 thôi thì có sống nổi trong xã hội không…”.

Tất nhiên không chỉ có những điều tiêu cực, mà cũng xuất hiện cả những suy nghĩ tích cực nữa. “Nếu như có thể trải qua thời gian học đường một cách thoải mái trong môi trường tự do của Sudbury, thì chắc chắn con trai mình sẽ có thể tìm thấy điều nó thích làm và theo đuổi mơ ước của bản thân…”. “Chắc chắn con sẽ có được những kinh nghiệm không thể có được ở những trường bình thường khác, và trở nên một đứa trẻ tuyệt vời có suy nghĩ tự lập…”. Rất nhiều suy nghĩ khác nhau đã được sinh ra từ một câu hỏi “không học có ổn không?”. Và tôi đã tưởng tượng ra đủ mọi kịch bản khác nhau về tương lai của con để mà lo lắng, để mà yên tâm.

Thế nhưng, đến một lúc nào đó, bỗng nhiên tôi nhận ra một điều. Vốn dĩ việc suy nghĩ những chuyện như vậy, bản thân nó đã chẳng phải là vô nghĩa lắm sao? Cái chuyện “không học có ổn không?” ấy, có suy nghĩ bao nhiêu cũng sẽ chẳng bao giờ biết được. Nếu có ai đó lo lắng rằng “không học có ổn không?”, thì ta cũng có thể hỏi một câu ngược lại rằng “cứ học là sẽ ổn ư?”. Chỉ cần học giỏi ở trường, vào được một trường đại học danh tiếng, vào được một công ty danh tiếng, như vậy là cuộc đời sẽ ổn ư?

Khi suy nghĩ như vậy ta có thể thấy được phần nào bản chất của sự việc. Dù có vào trường Sudbury hay không, thì chuyện tương lai có ổn hay không vẫn là điều chẳng ai biết được.

Đến đây, trong đầu tôi lại hiện lên một câu hỏi khác. “Ơ? Thế bản thân mình cuối cùng là đang kỳ vọng điều gì ở trường Sudbury vậy?”. Phải chăng ở đâu đó trong tâm, tôi đang nghĩ rằng “nếu con vào trường Sudbury thì biết đâu đấy sẽ có thể trở thành một con người tuyệt vời”?

Một ngôi trường tự do, một ngôi trường có thể được sống như mình vốn thế. Nếu được ở trong một ngôi trường như vậy, biết đâu đấy con sẽ trở thành một con người có cá tính và phóng khoáng hơn những đứa trẻ đi học ở những ngôi trường bình thường với những giáo trình buồn chán khác…

Nhưng tôi cho là những suy nghĩ như vậy vẫn có phần sai lầm. Nó là lối tư duy có phần giống với cách suy nghĩ “học ở trường tư lập danh tiếng thì sẽ vào được trường đại học tốt” vậy.

Trường học không phải là một cái lò vi sóng. Không có chuyện cho trẻ con vào, bấm nút một cái là ra một đứa trẻ tuyệt vời. Bất cứ trường học nào cũng vậy mà thôi. Trường Sudbury cũng vậy mà trường học thường cũng vậy, đứa trẻ nào phát triển thì sẽ phát triển, mà đứa trẻ nào không phát triển thì sẽ không phát triển.

Mà không, chính ngay cái sự trông đợi rằng trẻ con sẽ “phát triển” cũng rất có thể đã là một sai lầm.

Tại sao chúng ta lại không được trông đợi vào con cái? Như tôi đã viết trong lần trước, đó là vì “con cái và cha mẹ nên có một mối quan hệ bình đẳng”. Việc trông đợi sự đáp ứng kỳ vọng từ một con người bình đẳng với mình, dù cho có là giữa cha mẹ và con cái đi nữa, chẳng phải là một việc hơi thiếu tôn trọng sao?

Chẳng hạn nếu như chúng ta bị con cái kỳ vọng rằng “con muốn bố trở thành một người hoàn hảo hơn chút nữa”, hay “bố mà thành người giàu có thì có phải thích không”, thì chúng ta sẽ cảm thấy thế nào? Việc bị người khác đặt kỳ vọng có thực là một việc đáng vui mừng không? Cá nhân tôi thì thấy đó là một hành vi gây phiền phức.

Điều đó cũng đúng trong trường hợp của trẻ con. Những kỳ vọng của cha mẹ như “muốn con thành người cứng cáp”, “muốn con thành người có cá tính”, “muốn con theo đuổi ước mơ” chẳng phải cũng đều là những việc không cần thiết hay sao? Nhìn từ phía con cái, việc chúng cảm thấy “bố mẹ ồn ào quá, để cho con được yên” cũng là chuyện dễ hiểu mà thôi.

Cứ như vậy mà tôi trở nên suy nghĩ rằng “không được kỳ vọng điều gì ở trường học cả”, “không được kỳ vọng điều gì ở con cái cả”, mặc dù cách nói đó có phần hơi cực đoan.

Con cái không phải là vật sở hữu của cha mẹ. Chúng là những con người độc lập. Và cuộc đời của con cái là của riêng chúng. Tuyệt nhiên đó không phải là thứ của cha mẹ.

Vậy cho nên, việc cha mẹ tự tiện kỳ vọng và lo lắng là việc làm gây phiền phức cho con cái. Chuyện “không học có ổn không” không phải là việc của cha mẹ, mà phải là vấn đề để cho con cái tự suy nghĩ lấy.

Nghĩ đến đó, tôi bỗng chợt nhận ra một điều. “À ra vậy, chân túy của giáo dục Sudbury chính là nằm ở đây chăng”.

Ấy chính là việc chấp nhận con cái như một con người độc lập hoàn toàn tách khỏi cha mẹ. Ấy chính là việc giao toàn quyền quyết định cuộc đời của con cái cho các con. Cái sự “giác ngộ tinh thần” ấy chẳng phải là điều rất quan trọng đối với một phụ huynh trường Sudbury hay sao?

Việc giao toàn quyền cho con cái cũng chính là việc “tin tưởng 100% ở con cái”. Việc có học hay không, có chơi điện tử hay không, có đọc sách hay không không phải là việc cha mẹ suy nghĩ, mà là việc để cho con cái quyết định.

Nói đến đây xong, trong hầu hết trường hợp sẽ có một câu hỏi quay ngược trở lại. “Trẻ con có khả năng quyết định đến mức ấy không?”. “Giao toàn quyền cho trẻ con liệu có ổn không?”.

Tôi thì nghĩ là sẽ ổn. Không chỉ thế mà thậm chí tôi còn nghĩ rằng chúng ta nên giao quyền quyết định cho con cái càng sớm càng tốt.

Lý do cho điều đó tôi xin được viết ra trong phần sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【勉強しなくて大丈夫?】

息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、私自身の中で、「教育とは何か」ということが一つのテーマとなりました。

「子どもはなぜ学校に通わなければならないのか?」「なぜ学ばなければならないのか?」

あまりにも基本的すぎて、一度も考えたことのなかった問題です。

そしてまた、自分の子が「勉強しなくて大丈夫か?」ということについても、真剣に考えるようになりました。「義務教育」を放棄して、授業もない、先生もいない学校に通うのは、あまりにもギャンブルすぎやしないかと。

恐らく多くのサドベリーの保護者が、スクールに子どもを入れる前に、この問題で悩まれたことでしょう。「サドベリーに入って、自由になるのはいいけれど、子どもがゲームにはまったらどうしよう……」「サドベリーは文科省から認可されていないので、中学卒業資格しか得られない。中卒の資格で社会に出て生きて行けるのだろうか……」

ネガティブなことばかりではなく、ポジティブなことも頭に浮かびます。「サドベリーの自由な環境の中でのびのび過ごせば、息子は自分の好きなことを見つけ、夢に向かって進んでくれるはずだ……」「普通の学校では得られない経験をして、自立した考えを持った素敵な子に育ってくれるに違いない……」「勉強しなくて大丈夫?」という問いからは、それはもういろんな考えが頭に浮かびました。子どもの将来についてさまざまなケースを想定し、心配してみたり、安心してみたりしたものです。

ところが、ある時、ふと気づいたのです。そもそも、こういうことを考えること自体、ナンセンスではないかと。「勉強しなくて大丈夫?」なんて、そんなことはいくら考えても分かりっこありません。「勉強しなくて大丈夫?」という心配があるのなら、逆に「勉強すれば大丈夫?」という反問もできます。学校で勉強して、一流の大学に行って、一流の会社に就職できれば、それで人生は大丈夫なのか……と。

こう考えると物事の本質が少し見えてきました。サドベリーに通おうが、普通の学校に通おうが、大丈夫か否かなんて誰にも分からないのです。

そう思ったところで、私の頭に疑問が浮かびました。「あれ? 自分は一体サドベリーに何を期待しているのだろう」と。心のどこかで、「子どもがサドベリーに通えばすばらしい人間に育つのでは」と思っていたのではないかと。

自由に、あるがままに生きられる学校。そんな学校で過ごせたら、退屈なカリキュラムのある普通の学校に通う子より、個性的で、のびやかな人間に育つのではないか……。

でも、こう考えるのも、たぶんちょっと違うのだと思います。それは「有名私立に通えれば、いい大学に入れる」と考えることと似たりよったりの思考回路かもしれません。

学校は電子レンジではありません。子どもを中に入れ、スイッチを押せば、立派な子に育つなんてことはありえません。どんな学校でも同じです。サドベリーだろうが、普通の学校だろうが、伸びる子は伸びるし、伸びない子は伸びないのです。

いや、そもそも子どもに“伸びる”ことを期待すること自体、間違っているかもしれない。

なぜ子どもに期待してはいけないか? それは前にも書きましたが、「子と親は対等な関係であるべきだ」と思うからです。対等な人間に対して何かを期待するなんて、親子の間でも少し失礼ではないでしょうか。

たとえば子どもから「パパはもう少し立派な人間になってほしいな」とか「お金持ちになってくれたら嬉しいな」なんて期待されたらどう思います? 人から期待を寄せられることってありがたいことですか? 私は迷惑なんじゃないかと思います。

子に対しても同じです。「逞しい子になってほしい」「個性的な子になってほしい」「夢に向かって生きてほしい」などと親が期待するのは、余計なことではないか。子どもとしては、「うるさい、ほっといてくれ」となって当然でしょう。

こうして私は、少々極端な言い方ですが、「学校に何かを期待してはいけない」「子どもに何かを期待してはいけない」と思うようになったのです。

子どもは親の所有物ではありません。独立した一個の人間です。そして、子どもの人生は子どものもの。決して親のものではありません。

だから、親が勝手に期待したり、心配したりするのは、子どもにとっていい迷惑なのです。「勉強しなくて大丈夫?」ということは、親ではなく、子ども自身が自分で考えるべき問題なのです。

そう思ったとき、ハッと気づきました。「なるほど、ここにサドベリー教育の真髄があるのか」と。

子どもを、親とは独立した一個の人間として認めること。子どもの人生を、子どもに完全に委ねること。その「覚悟」を持つことが、サドベリースクールの保護者にとって大切なことではないでしょうか。

子どもにすべてを委ねることは、「子どもを100%信じる」こと。勉強するかしないか、ゲームをするかしないか、本を読むか読まないかは、親が考えることではなく、子どもが考えることなのです。

と、このように言うと、たいていの場合、次のような質問が返ってきます。「子どもにそんな判断力があるのか?」「子どもにすべてを任せて大丈夫なのか?」

私は大丈夫だと思っています。というよりむしろ、なるべく早い時期から、すべての判断を子どもに任せた方がいいと思っています。

その理由については次回書くことにします。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Phụ huynh Sudbury: Giá trị dành cho các bậc cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bản dịch tiếng Việt

“Ở trường Tokyo Sudbury School không có giáo viên, cũng không có giờ học. Các em học sinh dành cả ngày ở trường để làm những điều mình thích”.

Các bậc phụ huynh tham gia vào buổi thuyết trình về trường trước khi cho con nhập học sẽ được nhân viên của trường giải thích những điều trên. Và hầu hết các bậc cha mẹ nghe đến đó đều lấy làm ngạc nhiên. Cả tôi và vợ cũng đều đã rất ngạc nhiên. Đến mức tôi đã thốt lên rằng “Trên đời này lại có trường học không giáo viên lẫn giờ học như thế này ư!”.

Và rồi tiếp sau sự kinh ngạc ấy là một suy nghĩ xuất hiện trong đầu, ấy là câu hỏi “trẻ con không học liệu có ổn không?”. Câu hỏi ấy là điều cho tới trước khi đó tôi vẫn chưa từng một lần nghĩ tới. Ấy là vì tôi vẫn luôn đinh ninh rằng “trẻ con là phải đến trường đi học” là một điều gì đó rất đương nhiên.

Cái sự mới mẻ ấy, cái sự đi trước thời đại ấy, hay cũng có thể nói là cái sự quá khích ấy, cái phương châm giáo dục phá tan mọi thường thức cố hữu ấy của mô hình giáo dục Sudbury đã khiến cho tôi hoàn toàn bị bất ngờ.

Và từ đó bắt đầu chuỗi ngày vắt óc suy tư của một người cha. Tôi đã suy nghĩ một cách hết sức nghiêm túc và tha thiết về câu hỏi liệu rằng đứa con của mình “không học có làm sao không? có thực sự sẽ ổn không?”.

Nhân viên của trường đều hết sức nhiệt tình giải thích về “triết lý giáo dục” của mô hình trường Sudbury. Trong sách của Daniel, người sáng lập ra trường Sudbury gốc ở Boston cũng có viết rất nhiều điều tuyệt vời.

Chẳng hạn như việc “dìm trẻ em vào biển buồn chán”.

Người ta nói rằng những đứa trẻ sau khi vào trường Sudbury và có được tự do, ban đầu thường lao vào trò chơi điện tử hay những trò chơi khác, nhưng dần dần chúng trở nên buồn chán, và bắt đầu quay lại đối diện với chính mình. Từ đó, chúng tìm ra điều mà mình thực sự muốn làm, và bước một bước đầu tiên trên con đường đời của bản thân.

Khi nghe lời thuyết trình ấy, một mặt tôi vừa gật gù “à ra thế, thật là tuyệt diệu”, nhưng một mặt tôi cũng không khỏi đặt ra nghi vấn rằng “liệu con của mình có trở nên được như thế hay không?”.

Phía trường thì đưa ra nhiều câu chuyện thực tế để thuyết trình. Trong đó có câu chuyện về một cô bé ham thích nấu ăn, suốt ngày chỉ đứng ở trong bếp, và sau khi tốt nghiệp đã đi làm tại một hiệu bánh. Lại có cả câu chuyện về một cậu bé sau một thời gian tự mình mày mò với máy vi tính đã trở nên thông thạo hơn cả người lớn… Rồi trên trang chủ của một trường Sudbury khác lại có câu chuyện về “một em học sinh đã tự học và hoàn thành nội dung học tập của trường cấp 2 cấp 3 trong một thời gian ngắn”. Thêm vào đó, những em học sinh xuất hiện trong buổi thuyết trình dường như cũng chững chạc hơn nhiều so với tuổi và đều có những suy nghĩ của riêng mình.

Những “ví dụ thành công” ấy đều rất tuyệt vời, và trong đầu tôi cũng hiểu được “cái tốt” mà chúng nói đến, nhưng nếu hỏi rằng tôi có thực sự tán thành được từ tận đáy lòng hay không, thì lại không hề đơn giản như vậy. “Có thực sự là tất cả mọi đứa trẻ đều sẽ được như vậy không?”. “Có khi nào phía trường chỉ đem những trường hợp thành công ra để giới thiệu chăng?”. “Biết đâu trong số đó lại chẳng có những đứa trẻ thất bại?”. Những nghi vấn như vậy vẫn tiếp tục xuất hiện trong tôi.

Đến bây giờ thì tôi đã nhận ra rằng chính bản thân việc suy nghĩ về “kết quả trong tương lai” ấy là một sự sai lầm. Nhưng tại thời điểm đó, nỗi bất an rằng “cho con vào trường này rồi sẽ ra sao” đã vượt lên trên hết và khiến cho tôi cứ luôn chỉ nghĩ đến những chuyện xa xôi ấy.

Ấy nhưng cũng phải nói rằng, đấy chẳng phải là chuyện đương nhiên đối với những người làm cha làm mẹ hay sao? Đã là cha mẹ thì chuyện yêu thương con là điều hiển nhiên. Học sinh có thành người thế nào đi nữa thì trường học cũng chẳng chịu trách nhiệm, nhưng cha mẹ thì lại phải gánh vác 100% trách nhiệm đối với đứa con của mình.

Trường học và cha mẹ vốn dĩ lập trường đã khác nhau. Trường học chỉ nói chuyện một cách chung chung. Còn cha mẹ thì lại nghĩ về một trường hợp cụ thể là “con mình”. Bởi vậy nên dù phía trường có đem bao nhiêu “ví dụ thành công” ra đi nữa, thì đứng từ phía các bậc cha mẹ việc không thể dễ dàng chấp nhận những điều ấy cũng là chuyện đương nhiên.

Câu hỏi “không học có sao không” vẫn theo đuổi tôi kể cả sau khi con đã bắt đầu đến trường Sudbury. Nó trở thành vấn đề được quan tâm nhiều nhất giữa vợ chồng tôi, và tôi cũng đã không biết bao nhiêu lần bàn bạc với vợ về đề tài này (đôi khi là cả cãi cọ nữa).

Và rồi, phải mãi về sau tôi mới nhận ra rằng, việc vợ chồng chúng tôi hướng về tương lai của con, suy nghĩ và trao đổi một nghiêm túc, thực ra cũng chính là một trong những “giá trị của mô hình giáo dục Sudbury” đối với các bậc phụ huynh.

Nếu giả như con trai tôi đi học một trường công lập hay tư lập nào đó, thì liệu vợ chồng tôi có suy nghĩ về con một cách nghiêm túc đến mức này không? Liệu chúng tôi có trăn trở về tương lai của con hay không? Chính câu hỏi “không học có sao không” bắt nguồn từ sự lạ đời của mô hình giáo dục “không giờ học, không giáo viên” đã khiến cho chúng tôi mở to mắt mà hướng đến đứa con của mình.

Thực tế khi nói chuyện với những phụ huynh khác của trường Sudbury School, tôi phải nhận thấy rằng rất nhiều người trong số họ suy nghĩ hết sức nghiêm túc về con cái mình. Đó có lẽ là vì họ cần phải suy nghĩ sâu sắc về cả những điều mà các bậc cha mẹ có con đi học trường bình thường chẳng bao giờ cần nghĩ tới.

Einstein đã từng nói rằng, “thường thức là tập hợp những thiên kiến mà con người thu thập được cho đến tuổi 18”. Thường thức là thứ cũng có mặt quan trọng đối với xã hội, nhưng cũng có khi nó lại dồn trí não con người ta đến mức tê liệt tư duy. Chính cái sự “phi thường thức” của mô hình giáo dục Sudbury đã giúp cho chúng tôi phá bỏ được gông xích của thường thức mình tự mang lên người, và đẩy chúng tôi ra với tự do của tư tưởng.

Để trăn trở, suy nghĩ, và tự tìm ra câu trả lời của chính mình trong tự do.

Không chỉ đối với học sinh, mà cả đối với các bậc phụ huynh, mô hình giáo dục Sudbury cũng cho chúng ta cơ hội để đối diện với chính mình.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【保護者にとっての価値】

「東京サドベリースクールには、先生いません。授業がありません。生徒たちは一日中、学校で好きなことをやって過ごしています」

入学する前、スクールの説明会に参加すると、保護者はスタッフからこのような話を聞かされます。そして、ここでたいていの親御さんが驚かれます。私と家内も驚きました。「先生も授業もない、こんな学校が世にあるのか!」とびっくり仰天したものです。

そして、驚きの次に頭に浮かんだのが、「子どもが勉強しなくて大丈夫か?」という疑問でした。こんなことは、それまで一度も考えたことがありません。なぜなら、「子どもは学校に行って勉強するもの」と当たり前のように思っていたからです。

サドベリー教育の斬新さというか、先見性というか、あるいは過激さというか、いままでの常識をすべて覆してしまうような教育方針に、まったくもって面食らいました。

そして、ここから親としての苦悩が始まりました。真剣に、切に、自分の子が「勉強しなくていいのか? 本当に大丈夫か?」と考えるようになったのです。

スクールのスタッフは熱心にサドベリースクールの「教育理念」を語ります。ボストンサドベリーを立ち上げたダニエルさんの本にもすばらしいことがいっぱい書いてあります。

たとえば、子どもをどっぷりと「退屈の海」に浸けるという話。

サドベリースクールに入って自由を得た子たちは、はじめは嬉しくてゲームをしたり、遊んだりするのですが、やがて退屈するようになり、自分と向き合うようになるそうです。そして、自分のやりたいことを見つけ、人生の第一歩を踏み出すというのです。

この説明に「なるほど、すばらしい!」と頷く一方で、どこかに「我が子は果たしてそうなるのか?」と疑っている自分がいました。

学校はいろんな事例を挙げて説明してくれます。お料理をするのが好きで、いつもキッチンに立っていた女の子が、卒業後にケーキ屋さんに就職したという話。自分でパソコンをいじりだすうちに、大人顔負けにパソコンに詳しくなった子の話……。そして、別のサドベリースクールのホームページには「自ら勉強し、中学・高校の数学の学習を短期間で終えてしまった子」の話が載っていました。また、説明会に出てくる子たちも年齢の割にしっかりしていて、自分の意見を持っているように見えました。

こういった「成功例」はどれもすばらしく、頭では“良さ”が理解できるのですが、しかし心の底から頷けるかというと、そう簡単にはいきません。「本当にみんなそうなるの?」「学校はうまく行ったケースだけを選んで紹介しているんじゃないの?」「中にはダメになった子もいるのでは?」という疑念が湧いてしまうのです。

今となってはこのように「先の結果」を考えること自体が間違いだということに気づいていますが、しかし、当初は「この学校に子どもを入れてどうなるんだ」という不安が先行し、どうしても先のことばかりを考えてしまいました。

いや、しかし、人の親としてこれは当然のことではないでしょうか。親であれば子が可愛いのは当たり前。学校は子どもがどうなっても責任を負いませんが、親は自分の子に100%責任を負わねばなりません。

学校と親とではそもそも立場が違います。学校はあくまでも一般論でしか物事を語りまませんが、親は「我が子」という個別のケースで物事を考えます。だから、学校がいくら「成功例」を出してきても、親としてそれを鵜呑みにできないのは当然の話です。

この「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけは、子どもがサドベリーに通うようになってからも、しばらく私の中で続きました。この問題は私たち夫婦の間で最大の関心事となり、何度も妻と話し合いました(ときには口論にもなりました)。

そして、これはかなり後になって気づいたことですが、このように夫婦で子どもの将来と向き合い、真剣に話し、考えること自体が、実は保護者にとっての「サドベリー教育の価値」のひとつだったのです。

もし仮に息子が公立の学校に通っていたら、あるいは私立の中学に通っていたら、私たち夫婦はこんなにも真剣に子どものことを考えたでしょうか。彼の将来について悩んだでしょうか。「授業がない、先生がいない」という教育の非常識から生まれた「勉強しなくて大丈夫?」という問いかけが、私たちの目をグッと見開かせ、子どもの方に向けさせたのです。

実際にサドベリースクールの保護者たちと話してみると、多くの方がとても真剣に子どものことについて考えていることに気づかされます。普通の学校の保護者であれば考える必要のないことにまで、深く考えを及ばせる必要が出てくるからでしょう。

アインシュタインがこんなことを言っています。「常識とは18才までに身に付けた偏見のコレクションのことをいう」と。常識は社会にとって大切な面もありますが、ときとして人間の頭を思考停止に追い込みます。サドベリー教育の「非常識」は、私たちをがんじがらめにしている常識の鎖を裁ち切り、自由な思考の中へと解き放ってくれるのです。

自由の中で、悩み、考え、自分なりの答えを見いだしていく。

生徒だけでなく、保護者にとっても、サドベリー教育は自分と向き合う機会を提供してくれるのです。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Phụ huynh Sudbury: Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Tiếp tục mạch bài viết của một bậc phụ huynh người Nhật có con theo học mô hình giáo dục tự do Sudbury, trong lần này tôi xin được đăng nội dung phần thứ ba trong chuỗi bài này (phần 2 đã đăng, phần 1 xin bỏ qua). Tuy rằng lý luận của người viết dùng để nói lên việc cha mẹ không còn quyền uy với con cái chưa hẳn là đã đủ sự chặt chẽ và tính thuyết phục, nhưng bản thân đề tài cha mẹ có thực sự có quyền uy và quyền hạn đối với con cái hay không vẫn là một đề tài đáng để suy ngẫm.


Bản dịch tiếng Việt

Trong lần trước, ở bài phát biểu thứ hai, tôi đã viết rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ”. Lý do cho điều ấy là vì cha mẹ cũng giống như con cái, đều là những người còn thiếu hiểu biết. Nhưng thực ra tôi nghĩ trong thời đại ngày nay còn có một lý do nữa cho việc cha mẹ và con cái cần phải có mối quan hệ bình đẳng với nhau. Đó là “sự đánh mất quyền uy của cha mẹ”.

Cái từ “đánh mất” viết ra thì nghe có vẻ như một điều gì đó tiêu cực, nhưng thực sự thì cũng không hẳn là như vậy, mà nó chỉ là một phần trong dòng chảy hoàn toàn tự nhiên của thời đại mà thôi. Vấn đề này sẽ hơi có vẻ lý luận cao siêu, nhưng tôi vẫn muốn sắp xếp lại suy nghĩ của mình cho mạch lạc và viết ra ở đây.

Trước hết tôi sẽ nói về bản chất của cái gọi là “quyền uy”. Khi thử tra cứu trong từ điển, thì tôi thấy rằng từ “quyền uy” có hai ý nghĩa. Đó là “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng”, và “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó”. Quả không hổ danh từ điển, nói rất trúng cái cốt lõi.

Hình tượng lý tưởng về “bậc phụ mẫu” thời xưa đúng là có đầy đủ cả hai yếu tố này. Cha mẹ là những người cái gì cũng biết, vừa tài giỏi đáng kính, lại vừa có đôi chút đáng sợ, và phận con cái là nhất mực phải làm theo những lời nói của cha mẹ.

Điểm quan trọng ở đây nằm ở cụm từ “được công nhận rộng rãi”. Đúng vậy, “quyền uy” là thứ chỉ tồn tại khi có được sự công nhận của số đông. Một người có tự một mình tỏ ra oai vệ thì cũng không thể coi là có “quyền uy” được.

Và quả thực trong xã hội Nhật Bản thời xưa đã từng tồn tại một “không khí” chung là công nhận “quyền uy” của cha mẹ. Toàn thể xã hội khi đó đều công nhận rằng cha mẹ là những người “tài giỏi” “đáng kính”, và điều đó làm nên cột chống cho cái “quyền uy” của các bậc cha mẹ. Chính vì thế mà cha mẹ đã từng có thể chi phối, ra lệnh và mắng mỏ con cái.

Ấy thế nhưng, cái “quyền uy” ấy của cha mẹ trong thời đại ngày nay lại đang bị lung lay một cách mạnh mẽ. Lý do rất đơn giản, đó là vì xã hội đã không còn cần thiết phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa.

Tại sao lại không cần phải công nhận “quyền uy” của cha mẹ nữa? Ấy là vì xã hội đã mất đi “tính kế thừa”. “Tính kế thừa” ở đây là sự tiếp nối và truyền lại những gì có từ xa xưa. Đó là việc tiếp thu văn hóa, phong tục, trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm, kỹ thuật, giá trị quan từ thế hệ trước và lưu truyền lại cho các thế hệ đi sau.

Trong những thời đại mà tính kế thừa vẫn còn được duy trì đầy đủ, thì đối với con cái mà nói cha mẹ là đối tượng cần phải tôn kính. Chẳng hạn chúng ta hãy thử tưởng tượng về một gia đình nông dân ngày trước. Khi đó, trong mắt con cái cha mẹ là người được kính trọng một cách vô điều kiện. Đó là vì cha mẹ là người nắm giữ tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ, tri thức cần thiết cho việc nông gia. Do đó, đối với con cái thì cha mẹ là đối tượng cần phải học hỏi, và do đó là những nhân vật xứng đáng nhận được sự tôn kính.

Nói cách khác, các bậc cha mẹ ngày xưa là những người xứng với mô tả “được công nhận rộng rãi là tài giỏi xuất chúng ở một phương diện nào đó” trong định nghĩa về “quyền uy” của từ điển. Và vì thế “quyền uy” của cha mẹ là điều tất nhiên sẽ được đảm bảo.

Ngược lại, hãy thử nhìn xem xã hội ngày nay thì sao? Liệu đó có phải là một xã hội mà những trí tuệ và kinh nghiệm cổ xưa vẫn còn được truyền lại hay không? Thời đại ngày nay là thời đại mà điện thoại bàn thì biến thành điện thoại di động, điện thoại di động lại biến thành điện thoại thông minh, thư viết tay thì trở thành thư điện tử, rồi thư điện tử lại phát triển thành tin nhắn. Trong một thời đại mà những kỹ thuật mới liên tiếp được sinh ra, cơ chế cũng thay đổi, chế độ cũng thay đổi, các thường thức và giá trị quan cũng không ngừng đảo lộn, thì việc nắm giữ những trí tuệ và kinh nghiệm của môt thời xa xưa có thực sự là thứ đáng được “tôn kính” nữa hay không?

Câu trả lời là “không”. Trong một xã hội đã mất đi “tính kế thừa”, thì con người ta sẽ rất khó có thể duy trì được “quyền uy” chỉ dựa vào tuổi tác. Thời đại ngày nay đã không còn là thời đại mà chỉ cần có kinh nghiệm sống trước đã là “tài giỏi”.

Ở đây tôi tuyệt không có ý nói rằng chúng ta có quyền coi thường cha mẹ hay những người cao tuổi. Tôi chỉ nói rằng việc duy trì “quyền uy” thuần túy bằng tuổi tác là điều khó khăn mà thôi.

Nếu một người đã mất đi quyền uy mà vẫn cứ tỏ ra khệnh khạng thì sẽ như thế nào? Chúng ta hãy thử lấy ví dụ về một vị lãnh đạo đã bị sa thải.

Giả dụ ở một công ty kia có một vị lãnh đạo rất mực quyền uy và hổ báo. Mỗi khi có việc gì không vừa ý ông ta đều sẵn sàng nổi trận lôi đình, nên cấp dưới ai cũng sợ hãi mà không dám trái lời.

Tại sao lại không dám trái lời? Ấy là vì tổ chức, mà cụ thể ở đây là công ty, đã trao “quyền uy” cho ông ta. Vì vậy mà dù cho những gì ông ta nói ra có đôi chút vô lý, thì cũng không có ai dám phản đối cả.

Tuy nhiên, giả sử rằng vào một ngày đẹp giời vì một lý do nào đó mà vị lãnh đạo kia bị đuổi việc. Khi đó, sẽ chẳng cần bất cứ thứ gì chống đỡ cho “quyền uy”  của ông ta nữa. Vậy thì vị lãnh đạo ấy sẽ trở nên thế nào đây? Liệu ông ta còn có thể lên mặt ra oai với cấp dưới như trước nữa không?

Hiển nhiên là không. Một người một khi đã đánh mất “quyền uy”, thì cũng tức là đã đánh mất cái “sức mạnh chi phối và bắt người khác phục tùng“. Đây là điểm rất quan trọng khi suy nghĩ về hình tượng cha mẹ lý tưởng trong thời đại ngày nay. Việc các bậc cha mẹ đã mất đi “quyền uy” mà lại cứ muốn ra lệnh và chi phối con cái chẳng khác nào việc một vị lãnh đạo đã bị công ty sa thải mà lại muốn ra lệnh cho những người từng là cấp dưới của mình. Những người như vậy sẽ chẳng có ai buồn nghe theo cả.

Lý do thứ hai khiến tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng” chính là những điều đã viết ở trên.

Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa như đã nói ở trên, thì vai trò của cha mẹ cũng thay đổi rất nhiều so với trước. Việc truyền thụ lại kinh nghiệm và trí tuệ của bản thân cho con cái đã không còn là việc của cha mẹ nữa. Còn việc áp đặt giá trị quan và suy nghĩ của mình lên con thì tôi cho là càng không thể chấp nhận được.

Tất nhiên, cha mẹ là người có kinh nghiệm hơn con cái, nên việc đưa ra lời khuyên là hoàn toàn có thể. Việc chỉ ra điều gì là tốt nhất và luyện tập các thói quen cho con cũng là điều quan trọng. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng kể cả khi đó, dù cho cha mẹ có thể nói với con rằng “con nên làm thế này hơn”, thì cũng không thể ra lệnh cho con rằng “con phải làm cái này đi”. Đó là vì cha mẹ không phải là người nắm quyền chi phối con cái. “Vai trò của cha mẹ” ngày nay đã thay đổi so với trước đây. Việc ý thức được sự biến đổi ấy rất có thể là điều quan trọng nhất đối với các bậc cha mẹ ở thời điểm hiện tại.

Con cái là một thực thể độc lập tách biệt khỏi cha mẹ, và không còn cần phải tiếp nhận kinh nghiệm và tri thức từ cha mẹ để sống như thời xưa nữa. Trong xã hội biến đổi đến chóng mặt như ngày nay, con cái cần phải tự mở ra cuộc đời mình bằng chính sức của bản thân và bước đi trên một con đường khác biệt với cha mẹ.

Và ở thời đại đổi thay nhanh chóng này, tôi cho rằng vai trò của trường học cũng đang có sự biến đổi. Trong một xã hội đã mất đi tính kế thừa, những trường học cố bám lấy các giáo trình cũ kỹ “vững như bàn thạch” để giáo dục học sinh cũng đang dần mất đi “quyền uy” tương tự như các bậc cha mẹ.

Trường học cũng cần phải ý thức được sự đổi thay của thời đại và xã hội.  Đó cũng chính là lý do mà gia đình tôi đã cùng ngồi lại bàn bạc với con và cuối cùng quyết định lựa chọn mô hình “giáo dục Sudbury”.

Trong phần tới, tôi sẽ thử viết ra những “lợi ích đối với các bậc phụ huynh” mà mô hình giáo dục Sudbury mang lại.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

 Nguyên gốc tiếng Nhật

【 親の権威の失墜 】

 前回、2回目の投稿で、私は「親と子の関係は対等であるべきだ」と書きました。それは人間として親も子と同じように未熟者だからという理由でした。しかし、実はもうひとつ、親と子の関係が対等であるべき理由が現代にはあると思うのです。それは「親の権威の失墜」です。

「失墜」などと書くと悪いことのように思えますが、実はそうでもありません。これはごく自然な時代の流れなのです。このことについて、少々理屈っぽくなりますが、頭を整理して書いていきたいと思います。

まず「権威」というものの本質についてです。「権威」を辞書で引くと2つの意味が載っていました。「他を支配し服従させる力」と「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」です。さすがは辞書です。なかなか核心をついていますね。

昔の古い“親像”には、確かにこの2つの要素が備わっていました。親は何でも知っていて、偉くて、尊敬できる存在で、ちょっぴり恐くて、子どもたちは親の言うことに従わねばならないのです。

ここでのポイントは「一般に認められている」ということです。そう、「権威」は一般の人に認められて初めて成立するもの。自分ひとりが偉そうにしていても、それは「権威」にはなりません。

そして、昔の日本の社会には、確かに親の「権威」を認める“空気”がありました。親は「偉い」「尊敬できる」ということを社会全体で認め、親の「権威」を支えていたのです。だから親は子どもを支配し、命令し、叱ることができたのです。

ところが、この親の「権威」が、現代においては大きく揺らいでいます。理由は簡単で、社会に親の「権威」を認める必要がなくなったからです。

なぜ、親の「権威」を認める必要がなくなったか。それは社会が「伝承性」を失ったからです。「伝承性」とは古くからあるものを受け継ぎ、継承していくこと。文化、風習、知恵、知識、経験、技術、価値観などを受け継ぎ、後生に伝えていくことです。

伝承性が十分に保たれていた時代には、親は子にとって尊敬すべき対象でした。たとえばひと昔前の農家を想像してみましょう。この場合、親は子にとって無条件で尊敬される存在でした。なぜなら、農業にとっての大切な経験、知恵、知識を全て親が有していたからです。子にとって親は学ぶべき対象であり、尊敬に値する人物でした。

つまり当時の親は、辞書の「権威」の項目にある「ある方面でぬきんでてすぐれていると一般に認められていること」に値する人物だったのです。ですから必然的に親の「権威」は保たれていたのです。

ひるがえって、今の社会はどうでしょう。古くからある知恵や経験が伝承される社会でしょうか。電話が携帯に変わり、携帯がスマホに変わり、手紙がメールになり、メールがSNSに発展していく時代。次々と新しい技術が生まれ、仕組みが変わり、制度が変わり、常識や価値観が覆っていく社会において、昔の知恵や経験を有していることが、果たして「尊敬」の対象になるのでしょうか。

答えは「ノー」です。「伝承性」を失った社会では、年長者というだけでは「権威」を保つことは難しい。もはや先に生きているだけで「偉い」という時代ではないのです。

私は決して親や年長者をないがしろにしていいと言っているのではありません。伝承性が失われた社会では、年上というだけで「権威」を保つことは難しいと言っているのです。

権威を失った人間がいつまでも偉そうにしているとどうなるか。たとえば会社を解雇された上司のことを考えてみましょう。

非常に権威的で、威圧的な上司が会社にいたとします。彼は気に入らないことがあるとすぐに怒り、雷を落とすので、部下は恐くて逆らうことができません。

なぜ逆らえないのか。それは会社という組織が彼に「権威」を与えていたからです。だから、彼が少々理不尽なことを言っても、誰も逆らえなかったのです。

ところが、何らかの理由でこの上司が解雇されたとします。もはや彼の「権威」を支えるものはどこにもありません。この上司はどうなるでしょうか。以前のように部下の前で偉そうにできるでしょうか。

もちろんできません。「権威」を失った人間は、辞書にあった「他を支配し服従させる力」を失うからです。これは現代の“親像”を考える上で重要なポイントだと思います。「権威」を失った親が子どもに命令し、支配しようとするのは、会社を解雇された上司がかつての部下に命令することに似ています。誰もそんな人の言うことは聞いてくれません。

「親と子の関係は対等であるべきだ」と私が考えるようになったふたつ目の理由は、上記のようなことにあります。

このように伝承性を失った社会において、親の役割は、かつての親の役割と大きく変わってきています。自分の経験や知恵を子どもに授けることは、もはや親の役割ではありません。ましてや自分の価値観や思いを子に押しつけるなど、言語道断だと思います。

もちろん、親は子より経験を積んでいるので、アドバイスをすることは可能でしょう。善悪の基準を教え、躾けることも大切です。でも、こうした場合でも「こうするといいよ」とは言えても、「こうしなさい」とは言えないと思います。親は子どもの支配者ではないからです。昔と今とでは「親の役割」が変わってきている。この変化に気づくことが、いま、親として最も大切なことなのかもしれません。

子どもは親から独立した別の存在であり、昔のように、親の経験や知識を受け継いで生きていくものではありません。めまぐるしく変化する社会において、子どもは自分の人生を、自分の力で切り開き、親とは別の道を歩んでいかねばならないのです。

そして、このように急速に変化する現代にあっては、学校の役割もまた変わってきていると思います。伝承性が失われた社会において、旧態依然としたカリキュラムで子どもを教育しようとする学校は、親と同じように「権威」を失いつつあります。

学校もまた時代の変化、社会の変化に気づくべきなのです。私の家族が子どもと一緒になって考え、最終的に「サドベリー教育」を選んだ理由はここにあります。

次回はサドベリー教育がもたらす「保護者にとっての価値」について考えてみたいと思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ (phần 2)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

 

Phụ huynh Sudbury: Tất cả các bậc cha mẹ đều chỉ là gà mờ

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Bài viết lần này không phải do tôi viết ra, mà là một bài phát biểu của một người cha Nhật Bản mà tôi tình cờ đọc được. Con của ông được cho đi học tại trường Tokyo Sudbury School, một ngôi trường phỏng theo mô hình của trường Sudbury Valley School ở Mỹ. Mô hình Sudbury là mô hình trường học mà trong đó không có sự phân vai giữa “giáo viên” và “học sinh”, cũng như không tồn tại khái niệm “thời khóa biểu” hay “giảng dạy”. Thay vào đó, học sinh được toàn quyền tự do quyết định hoạt động của bản thân, cũng như việc điều hành cả ngôi trường theo nguyên tắc biểu quyết số đông. Việc tiếp xúc với một mô hình giáo dục mới mẻ như vậy đã khiến cho người cha này suy nghĩ nhiều hơn về các bậc cha mẹ và việc giáo dục con cái của họ. Tôi xin được dịch bài viết ra và giới thiệu ở đây để mọi người tham khảo.


Bản dịch tiếng Việt

“Cha mẹ là gì?”. Đó là câu hỏi chưa từng rời khỏi trí óc của tôi kể từ khi con trai bắt đầu đi học tại Tokyo Sudbury School. Nhờ được gặp gỡ với ngôi trường đặc biệt không có giáo viên mà cũng không có giờ học này, mà tôi mới có dịp đối mặt với vấn đề mang tính căn bản “giáo dục là gì”, và từ đó suy nghĩ đến câu hỏi “cha mẹ là gì”.

Đúng thế, tôi nghĩ rằng câu hỏi “giáo dục là gì” có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi “cha mẹ là gì”. Bởi vì cha mẹ là những người có nghĩa vụ cung cấp giáo dục cho con cái.

Thế nhưng thành thực phải nói rằng tôi không hiểu rõ về cái khái niệm “cha mẹ” đó. Lý do là vì khác với khi lựa chọn trường học hay công việc, việc làm cha của tôi bây giờ không phải là kết quả của một sự quyết tâm nào cả. Tôi không tự nói với mình rằng “ok, làm cha thôi” để rồi tự mình đưa ra quyết định làm cha. Nói một cách thành thực, thì cảm tưởng của tôi là kết hôn xong, vợ có thai, đẻ con ra, và đùng một cái, chẳng hiểu từ bao giờ tôi đã thành cha rồi.

Người ta hay nói “con cái là món quà trời ban tặng”. Cái từ “ban tặng” đó thật vi diệu, vì rõ ràng việc sinh đẻ là một sự kiện lớn lao mà chúng ta không thể dễ dàng đi tới thành công được chỉ bằng sức của bản thân mình. Và như ý nghĩa mà từ “ban tặng” đó ngầm thể hiện, việc sinh con ra và trở thành cha mẹ luôn có một cái gì đó mang tính thụ động.

Tuy nhiên, chỉ cần thử nghĩ qua thì chúng ta có thể thấy việc trở thành cha mẹ cũng đồng nghĩa với việc khoác lên mình một trách nhiệm trọng đại. Có thể nó không đến mức như việc mẫu thân Mạnh Tử ba lần đổi nhà, nhưng ảnh hưởng của cha mẹ lên con cái, trong đó bao gồm cả môi trường gia đình, là rất lớn đến mức không gì có thể đo đếm được. Đó là vì cha mẹ có vai trò trực tiếp và sâu sắc đối với thời thơ ấu, thời kỳ rất quan trọng hình thành nên nhân cách và thậm chí là có thể thay đổi cả cuộc đời của con, tức là thay đổi cuộc đời của cả một con người.

Từng lời nói và hành động của cha mẹ, từng cái giơ tay từng cái bước chân, đều có thể quyết định đến nhân cách của con cái. Một lời nói vu vơ cũng có thể tạo nên nỗi ám ảnh cả đời cho con. Thế nhưng thật xấu hổ khi phải nói rằng, tôi đã không hề chuẩn bị sẵn quyết tâm gánh vác trách nhiệm trọng đại đó trước khi trở thành cha. Đối với tôi, quả thực là bỗng một ngày chợt nhận ra thì đã thấy mình làm cha rồi.

Cơ mà chẳng phải hầu hết các bậc cha mẹ trên thế gian này đều đại khái giống như tôi sao? Hầu như tôi chưa từng nghe thấy có trường hợp nào quyết chí làm cha mẹ, dành ra hàng năm trời nghiên cứu “cha mẹ học”, chuẩn bị chu đáo tuyệt vời rồi mới làm cha mẹ thật cả.

Thực tế là hầu hết mọi người, ít nhất là đối với đứa con đầu tiên, đều trở thành cha mẹ khi chưa hề có tí kinh nghiệm nuôi con nào. Và như vậy thì chẳng phải có thể nói rằng “tất cả các bậc cha mẹ đều là gà mờ trong việc nuôi con” hay sao? Nghĩ đến đây, tôi lại không khỏi phải thêm một lần nữa giật mình trước khoảng cách quá xa giữa “gánh nặng trách nhiệm” và “sự thiếu thốn quyết tâm” của các bậc cha mẹ, tất nhiên trong đó bao gồm cả chính tôi.

Mười mấy năm trời từ khi con trai tôi sinh ra cho đến nay, tôi đã làm cha trong tình trạng “lái xe không bằng cấp”. Tôi đã làm cha một cách “đại khái”, chẳng hề được ai dạy, cũng chẳng hề học hành một cách nghiêm túc, mà chỉ nhìn ngó bắt chước xung quanh.

Tôi đã từng có lần xẵng giọng “làm cái gì thế!” khi con làm đổ nước khỏi cốc, trong khi bản thân chỉ buông một lời xin lỗi gọn lỏn cho qua chuyện khi chính mình làm đổ. Tôi cũng đã từng có lần suýt giơ tay lên đánh con theo phản xạ khi con sờ vào đồ trưng bày trong cửa hàng, trong khi bản thân biết rằng con chỉ đưa tay sờ vì một sự tò mò thuần túy.

Mỗi khi mắng con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có lý do chính đáng để mà mắng mỏ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn thuần mắng mỏ dựa trên tâm trạng hay cảm xúc của bản thân. Mỗi khi dạy con điều gì đó, chưa chắc các bậc cha mẹ đã có tri thức chuyên môn để mà dạy dỗ. Có những lúc chúng ta chỉ đơn giản lợi dụng sự thiếu hiểu biết của con cái và lên mặt dạy dỗ bằng kinh nghiệm sống lâu hơn đôi chút của bản thân.

Khi suy nghĩ về “giáo dục” sau khi con trai bắt đầu đến trường Sudbury, một câu hỏi khác lại hiện ra trong trí não của tôi: “Gượm đã, đừng nói tới giáo dục vội, mà nghĩ xem bản thân mình giờ đang thế nào?”. Liệu rằng tôi có đủ tư cách làm cha để mà khệnh khạng đưa ra những lời dạy dỗ con cái hay không? Khi nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy chiếc mặt nạ “bậc phụ mẫu” rơi ra, làm lộ nguyên hình hài một con người non kém của bản thân mình. Câu hỏi “cha mẹ là gì”, không gì khác, cũng chính là câu hỏi “bản thân mình là ai”.

Từ đó, nhận thức của tôi đã được thay đổi. Giờ đây tôi tin rằng giữa cha mẹ và con cái không phải là một mối “quan hệ trên dưới”, mà là “quan hệ giữa những con người ngang hàng”. Tất nhiên, trẻ con thiếu hiểu biết, nhưng người lớn cũng chẳng hiểu biết nhiều hơn bao nhiêu. Nếu đã cùng là những người còn thiếu hiểu biết, thì chẳng phải cha mẹ và con cái nên nói chuyện với nhau một cách bình đẳng hay sao? Đúng vậy, “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Đó chính là điều thay đổi lớn xuất hiện trong tôi sau khi con trai đến trường Sudbury.

Tuy nhiên, đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Thực ra vẫn còn một lý do nữa cho việc tôi nghĩ rằng “cha mẹ và con cái nên có mối quan hệ bình đẳng”. Lý do đó, tôi sẽ để cho lần phát biểu sau.

Tác giả: Một phụ huynh của trường Tokyo Sudbury School.

Nguyên gốc tiếng Nhật

【すべての親は子育ての素人だ】

「親とは何か?」息子が東京サドベリースクールに通うようになってからというもの、 私の頭からはこの問いがずっと離れなくなりました。先生も授業もないという特殊な学校 との出会いによって、「教育とは何か」という根本的な問題に直面し、そこから「親とは何 か」について考えるようになったのです。

そう、「教育とは何か」という問いは、「親とは何か」という問いとつながっているように 思います。なぜなら親は子に教育を授ける義務を負うからです。

ところが困ったことに、その“親”というものが私にはよく分からない。学校や仕事を選択 したときと違って、自ら決意して親になったわけではないからです。「よし、親になるぞ」と 決心して親になったわけではない。結婚して、妻が妊娠し、出産を経て、いつのまにか、 なんとなく、気がついたら親になっていたというのが正直な感想です。

よく「子どもは神様からの授かり物」といいますね。「授かる」とはよくいったもので、出 産は自分たちの力だけではいかんともしがたい運命的なイベント。この“授かる”という言 葉に象徴されるように、子が生まれて親になるのには、どこか受動的なイメージがつき まといます。

とはいえ、考えてみれば、親になるということはたいへん重大な責任を背負うこと。 孟母三遷の教えではないけれど、家庭環境を含めて、親が子に与える影響は計り知れ ないほど大きいのです。子どもという一個の人間の、一生を左右してしまうかもしれない 人格形成の大事な時期に、親は深く関わることになります。

親の行動や言動の一つひとつ、一挙手一投足が、子の人格を左右する。何気なく 言った一言が、一生その子のトラウマになることだってあるかもしれません。ところが 困ったことに、そのような重大な責任を背負う覚悟をもって自分は親になったわけでは ない。なんとなく気がついたら、親になってしまっていたというのが実感です。

でも、世間の大方の親御さんも、だいたい私と同じではないでしょうか。「親になるぞ」 と決意して、何年間も「親学」を学び、完璧に準備をしてから親になったという話はあまり 聞きません。

そもそもほとんどの人が、少なくとも長男長女の場合は、育児未経験のままで親にな るわけで、そういう意味で「すべての親は子育ての素人だ」といえるのではないでしょう か。親が負う「責任の重大さ」と「自覚の足りなさ」、このギャップの大きさには(自戒の 念を込めて)あらためて驚かされます。

息子が生まれて十数年、ここまで私は“無免許運転”のまま親をやってきました。誰 から教わったわけでもなく、真剣に学んだわけでもなく、見よう見まねで“なんとなく” “テキトー”に、親をやってきたのです。

子どもがコップの水をこぼしたとき「何やってんだ!」と声を荒げたことがありました。 自分がこぼしたときには「ごめん」の一語で済ませるくせに。子どもが店の商品に触った ときには、思わず手をあげそうになったこともあります。子どもが純粋な好奇心から手を 伸ばしたことを知っていたのに。

子を叱るとき、親は必ずしも正統な理由があって叱るわけではありません。単なる気分、 感情で言葉を発するときもあります。子に何かを教えるとき、必ずしも専門的な知識が あって教えるわけではありません。子が知らないことをいいことに、ちょっとだけ長く生き た自分が偉そうに言っているだけのこともあります。

息子がサドベリーに通うようになって「教育」のことを考えたとき、待てよ、教育について 考える前に「自分はどうなんだ?」という問いが頭に浮かびました。親として偉そうなこと を言う資格が自分にあるのかと。そう考えたとき、親の仮面がはがれ落ち、未熟な自分 の姿がそこに見えてきたのです。「親とは何か」という問いかけは、まさに「自分とは何か」 という問いかけに他なりません。

それで私の意識は変わりました。親子は「上下の関係」ではなく、人間として「横並びの 関係」であるべきだと思うようになったのです。子はもちろん未熟ですが、親もまた未熟 です。未熟者同士、親と子は対等に語り合える関係であるべきではないのかと。そう、 「親と子は対等の関係であるべきだ」。これが、子どもが東京サドベリースクールに通う ようになって私に現れた、大きな変化のひとつです。

でも、これだけではありません。実はもうひとつ、「親子の関係が対等であるべき」と 考える理由があるのです。それについては次回、またこの場をお借りして話したいと 思います。

東京サドベリースクール 保護者

Các phần khác

Sự đánh mất quyền uy của cha mẹ (phần 3)

Giá trị dành cho các bậc cha mẹ (phần 4)

Không học có ổn không? (phần 5)

Giao cho con có ổn không? (phần 6)

Bàn về “hạnh phúc”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết lấy ý tưởng từ cuốn sách “Choice Theory: A New Psychology of Personal Freedom” của William Glasser, “Utilitarianism” và “On Liberty” của John Stuart Mill.

Có lẽ trong thế gian này không có người nào là không mong muốn bản thân được hạnh phúc. Các tôn giáo lớn hầu hết đều dựa trên một lời hứa hẹn sẽ đem lại hạnh phúc vĩnh cửu, hay ít ra là dài lâu, cho những người nghe theo giáo lý của mình. Nhà nhà người người truyền cho nhau những bí quyết để có một cuộc sống hạnh phúc, một gia đình hạnh phúc. Một số quốc gia còn lấy chỉ số hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phát triển. Thế nhưng dường như đối với phần đông mọi người, hạnh phúc vẫn là một cái gì đó khá mơ hồ và huyền bí. Bài viết này là một nỗ lực cá nhân, dựa trên những ý tưởng của người đi trước, nhằm lý giải hạnh phúc theo một cách rõ ràng và dễ hiểu, để từ đó mỗi người có thể rút ra được những kết luận có cơ sở hơn trong việc tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình.


1. Hạnh phúc là gì

“Hạnh phúc” là một trạng thái tinh thần của con người khi các nhu cầu tinh thần được đáp ứng trên một mức độ nhất định nào đó. Các nhu cầu tinh thần này có thể được chia làm năm phân loại nhu cầu chính: 1. nhu cầu sinh tồn, 2. nhu cầu khám phá, 3. nhu cầu quyền lực, 4. nhu cầu yêu thương, và 5. nhu cầu tự do. Mức độ đáp ứng cần thiết cho mỗi nhu cầu để có thể đạt được và duy trì trạng thái “hạnh phúc”, cũng như những phương pháp cụ thể để có thể đáp ứng mỗi nhu cầu đó, là khác nhau đối với từng cá nhân. Những xu hướng này phần lớn đã được quyết định ngay từ khi sinh ra, tuy nhiên vẫn có thể chịu ảnh hưởng ít nhiều từ môi trường xung quanh trong suốt quá trình sống và trưởng thành của mỗi con người.

Hạnh phúc chính là mục đích sống cao nhất của con người. Đó là vì hạnh phúc chính là lợi ích tối cao, và cũng có thể nói là lợi ích thực chất duy nhất của tất cả mọi con người. Tất cả mọi lợi ích khác theo những cách hiểu thông thường đều có thể được diễn giải thành một phương tiện hay bước đệm để đạt đến cảm giác hạnh phúc, hoặc chính là một phần của hạnh phúc. Đó là bởi việc hưởng thụ tất cả mọi lợi ích đều phải diễn ra thông qua một sự cảm nhận chủ quan, tức là qua một “màng lọc” của tinh thần, để tạo nên một cảm giác tích cực khiến cho chúng ta mong muốn những lợi ích đó, và cảm giác đó chính là hạnh phúc. Tất cả các hành vi hay quyết định của con người, do đó, được đưa ra đều là vì chúng ta tin rằng chúng sẽ đem lại hạnh phúc cho bản thân, dù có thể đó chỉ là một thứ hạnh phúc được hứa hẹn trong tương lai, chứ không hề thấy được trước mắt.

Hạnh phúc là một trạng thái thuần túy thuộc về tinh thần, và các nhu cầu để đạt được hạnh phúc cũng hoàn toàn là các nhu cầu tinh thần. Điều đó có nghĩa là hạnh phúc mang tính chủ quan: một sự vật sự việc khách quan bản thân nó không tạo nên hạnh phúc, mà chỉ đem lại hạnh phúc khi chúng ta nhận thức được nó, và kết quả nhận thức đó phù hợp với các nhu cầu và tiêu chuẩn của riêng mỗi chúng ta về hạnh phúc. Do vậy, không hề tồn tại một tiêu chuẩn chung khách quan và cụ thể cho hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người, mà mỗi người cần phải tự tìm ra hạnh phúc của riêng mình.  Tập hợp những nhận thức và hiểu biết của một con người về những nhu cầu và phương pháp để đạt đến hạnh phúc cho bản thân là một bộ phận rất quan trọng của nhân cách mỗi cá nhân, và khi phát triển đến một mức độ nhất định, còn được gọi với một cái tên khác là “đạo đức” (tham khảo bài viết trước).

2. Năm nhu cầu tinh thần

a. Nhu cầu sinh tồn

Nhu cầu sinh tồn, hay còn có thể gọi là nhu cầu thể xác, bao hàm tất cả những nhu cầu sinh lý cơ bản thiết yếu như hít thở, ăn uống, ngủ nghỉ, bài tiết, toàn vẹn cơ thể,… cũng như các nhu cầu thể xác khác “xa xỉ” hơn như tiện nghi thoải mái, khoái cảm tình dục, hay thậm chí là khoái cảm do các loại chất kích thích mang lại,… và tất nhiên không thể không nói đến một nhu cầu rất quan trọng là cảm giác an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản. Những nhu cầu thuộc phân loại này tuy hết sức phong phú và đa dạng, và nhiều khi có vẻ rất khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung: nhằm đảm bảo cho sự tồn tại liên tục của thể xác con người ở một mức độ thỏa mãn nhất định. Do ít nhất ở thời điểm hiện tại, ý thức của con người luôn phải gắn liền với và được duy trì bằng thể xác, nên mọi sự đe dọa hay bất tiện đối với thể xác cũng sẽ có thể có tác động tiêu cực đến sự thỏa mãn của tinh thần, và do đó làm giảm hạnh phúc của cá nhân.

Tùy vào các nhu cầu cụ thể của thể xác, mà sự thiếu thốn của nhu cầu sinh tồn có thể được cảm nhận bằng nhiều cách khác nhau. Những nhu cầu sinh lý thiết yếu có thể dễ dàng được cảm nhận thông qua những tín hiệu rõ ràng trực tiếp từ cơ thể như cảm giác đói, khát, nóng, lạnh, đau đớn, mệt mỏi,… Những nhu cầu khác không nhất thiết phải có cho sự sống, nhưng có thể đem lại sự thõa mãn tinh thần, thì được thể hiện qua những cảm giác mơ hồ hơn như thèm muốn, bức bối, khó chịu,… Và nhu cầu an toàn thì tất nhiên đem lại cảm giác sợ hãi lo lắng nếu như không được đáp ứng. Chú ý rằng nhu cầu sinh tồn vẫn là nhu cầu tinh thần, dù nó có quan hệ mật thiết với thể xác con người. Một sự vật sự việc nhất định đem lại cảm giác hạnh phúc đến đâu, không những phụ thuộc vào các đặc điểm của cơ thể người đó, mà còn phụ thuộc vào việc nhân cách người đó đánh giá cao đến mức nào và có ham muốn đến đâu đối với nhu cầu cụ thể mà sự vật sự việc đó thỏa mãn.

Vai trò của nhu cầu sinh tồn là rất rõ ràng: nó là động lực để chúng ta duy trì sự sống của bản thân. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng tính mạng mình sẽ bị đe dọa nghiêm trọng thế nào nếu như tất cả các cảm giác như đói khát hay đau đớn đột ngột biến mất. Việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn cũng là một việc khá đơn giản, không phải theo nghĩa dễ dàng, mà theo nghĩa trong đại đa số trường hợp, chỉ bằng trực giác chúng ta cũng có thể biết khá rõ điều mình cần phải làm để đáp ứng những nhu cầu đang thiếu thốn: đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì ngủ, sợ hết tiền thì làm việc… Tuy nhiên, nhu cầu sinh tồn lại đòi hỏi một lượng tài nguyên không hề nhỏ để duy trì, cả về vật chất (tiền bạc, đồ ăn,…), tinh thần (hôm nay ăn gì?), lẫn thời gian (1/3 cuộc đời để ngủ). Điều này khiến cho hạnh phúc mang lại bởi việc thỏa mãn nhu cầu sinh tồn, tuy có vai trò nền tảng quan trọng đối với hạnh phúc của con người, nhưng không lâu bền mà lại tốn kém hơn nhiều so với những nhu cầu còn lại.

b. Nhu cầu khám phá

Nhu cầu khám phá là nhu cầu kích thích trí não bằng những trải nghiệm mới mẻ. Trí não ở đây bao gồm tất cả các giác quan, cảm xúc cũng suy nghĩ có ý thức của con người. Trải nghiệm mới mẻ có thể chỉ đơn giản là một giai điệu mới, một hình ảnh mới, một cảm giác mới, mà cũng có thể là một hiểu biết mới, một ý tưởng mới, một kỹ năng mới,… Nhu cầu khám phá chính là lý do khiến cho chúng ta muốn đi du lịch, muốn xem triển lãm nghệ thuật, muốn chơi trò chơi, muốn đọc sách, muốn xem tivi, và nói chung là tham gia vào các hoạt động giải trí. Nhu cầu khám phá cũng có thể được dùng để giải thích cảm giác buồn cười khi bắt gặp những tình huống hài hước: đó là vì sự hài hước thường đến từ những trải nghiệm vượt xa khỏi phạm vi những gì chúng ta coi là “bình thường”, hay nói cách khác, chúng ta thấy buồn cười khi tiếp xúc với những trải nghiệm “siêu mới mẻ”, tất nhiên là với điều kiện chúng ta cảm thấy những trải nghiệm đó là vô hại đối với bản thân.

Chú ý rằng sự “mới mẻ” ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, tức là mới mẻ trong một khung thời gian và khung ý thức nhất định. Một trải nghiệm mà một người đã từng trải qua trong quá khứ vẫn có thể đem lại một sự thỏa mãn nhu cầu khám phá nhất định, nếu như trải nghiệm đó là tương đối mới mẻ so với tập hợp những trải nghiệm của người ấy trong một khoảng thời gian gần đó. Ngược lại, một trải nghiệm dù là đầu tiên, nhưng nếu sau đó được lặp đi lặp lại liên tục trong một khoảng thời gian ngắn, thì ít nhất là trong khoảng thời gian đó, trải nghiệm ấy mất dần đi độ “mới”, và do đó cảm giác hạnh phúc nó tạo ra cũng sẽ phai nhạt dần. Đồng thời, cùng một trải nghiệm với các yếu tố giống hệt nhau, nhưng nếu được tiếp nhận với một cách nhìn khác, một tâm trạng khác, tức là với một ý thức bên trong khác, thì vẫn có thể tạo nên cảm giác mới mẻ, và do đó vẫn có thể được xem như một sự khám phá.

Khác với nhu cầu sinh tồn, việc đáp ứng nhu cầu khám phá không nhất thiết đòi hỏi sự tiêu tốn lớn về tài nguyên. Con người chúng ta, nhất là trẻ em, có thể tìm ra vô số cách để có những trải nghiệm mới mà không hề tốn kém: một cuốc đi dạo trên một con đường lạ, leo trèo lên cao để có một góc nhìn mới, tự nghĩ ra một điệu nhảy múa may quay cuồng, và chắc chắn phải kể đến hoạt động mà tôi ưa thích, đó là nằm một chỗ và tưởng tượng suy nghĩ về đủ thứ trên đời. Có thể nói rằng, đối với một người có khả năng quan sát và cảm nhận, và chịu quan sát và cảm nhận, thì thế giới bên ngoài lẫn bên trong chúng ta luôn tràn ngập những nguồn cảm hứng khám phá. Tất nhiên, mức độ thỏa mãn đem lại là khác nhau đối với từng trải nghiệm và đối với từng cá nhân cụ thể. Không phải ai cũng thấy bốn tiếng đồng hồ ngồi câu cá là thích thú, và không phải ai cũng thấy một chuyến leo núi mạo hiểm là hấp dẫn.

Bên cạnh việc thuần túy đem lại cảm giác hạnh phúc, nhu cầu khám phá còn đóng một vai trò rất quan trọng: đó là một trong những động lực chính của quá trình học hỏi của con người. Nếu xem việc học là việc tiếp nhận bất cứ một điều gì mới vào bên trong trí não của chúng ta, thì có thể nói rằng nhu cầu khám phá cũng chính là nhu cầu học hỏi. Mọi con người sinh ra đều sẵn có tính tò mò ham hiểu biết, chính là vì việc khám phá, hay học, tự nó đã mang lại sự vui vẻ thích thú. Và rất có thể nhu cầu khám phá đã được tạo nên bởi quá trình tiến hóa nhằm mục đích để cho con người có một động lực tự nhiên và thường xuyên cho việc học, một hoạt động rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Việc học chỉ trở nên khó chịu, khi tổn thương mà nó đem lại đối với những nhu cầu tinh thần khác vượt quá lợi ích đạt được. Do đó có thể nói rằng mọi phương pháp giáo dục, nếu khiến cho việc học không đem lại sự vui vẻ thích thú, thì đều là đi ngược lại quy luật của tự nhiên, và do đó sẽ không thể đạt được hiệu quả cao nhất.

c. Nhu cầu quyền lực

Nhu cầu quyền lực, hay còn có thể gọi là nhu cầu thành công, là nhu cầu thấy một điều gì đó diễn ra đúng theo như mình mong muốn. Chúng ta thường hiểu “quyền lực” là khả năng khiến cho người khác làm theo yêu cầu của bản thân. Tuy nhiên con người cũng có thể cảm thấy mình “quyền lực” khi chế ngự được thiên nhiên, khi đạt được thành công trong công việc, hay khi thấy bản thân đang trở nên đúng với hình mẫu mà mình mong muốn,… Một phần sự thích thú của con người đối với âm nhạc có thể được giải thích là vì khi nghe nhạc, trong vô thức chúng ta nhận thấy những âm thanh mình đang nghe có một quy luật nhất định, và chúng ta sử dụng quy luật đó để dự đoán sự lên xuống cũng như nhịp độ và thời điểm của các âm thanh tiếp theo. Khi bản nhạc diễn ra đúng theo sự dự đoán của chúng ta, thì chúng ta sẽ cảm thấy một sự khoan khoái vì thấy nó “hợp lý”. Ngược lại, một bản nhạc trúc trắc và loạn nhịp thường sẽ đem lại một cảm giác khó chịu cho người nghe.

Nhu cầu quyền lực rất có thể đã phái sinh một cách tự nhiên từ nhu cầu sinh tồn và tách ra thành một nhu cầu độc lập. Đó là vì so với thế giới xung quanh, con người quá nhỏ bé và yếu ớt. Chỉ một bầy thú dữ, một cơn dịch bệnh, hay một trận hạn hán cũng có thể quét sạch cả một cộng đồng người. Nỗi sợ hãi đến từ việc ý thức và cảm nhận một cách đầy đủ điều đó là quá lớn, và có thể khiến cho con người hoàn toàn tê liệt vì tuyệt vọng. Để có thể giữ được một cảm giác an toàn nhất định, con người cần cảm thấy, hay ít nhất tin rằng, mình có thể điều khiển được phần nào đó hiện thực xung quanh theo mong muốn của bản thân. Nhu cầu quyền lực, song song với nhu cầu khám phá và nhu cầu sinh tồn, có thể được coi là động lực chính cho toàn bộ công cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xây dựng nên văn minh của nhân loại.

Khi nhu cầu quyền lực không được đáp ứng, chúng ta thường sẽ sinh ra cảm xúc tức giận, thất vọng, bất lực hay căm ghét. Tuy nhiên cũng như các nhu cầu khác, việc nhu cầu quyền lực được đáp ứng hay không được đáp ứng, và ở mức độ nào, trong một trường hợp cụ thể là phụ thuộc vào nhân cách của từng cá nhân. Trong đó, một điểm đáng chú ý là tuy mọi sự trở ngại đối với cuộc sống con người đều đem lại sự bất hạnh ở mức độ nào đó, nhưng đại đa số mọi người sẽ thấy giận dữ hơn nhiều nếu như biết được, hay nghĩ rằng mình biết, đằng sau những trở ngại mình gặp phải có một ai đó đang cố tình “trêu ngươi”. Đó là vì khi ấy, sự trái ý không chỉ còn dừng ở bản thân trở ngại nữa, mà còn bao gồm cả việc hình ảnh về một bản thân “đáng được tôn trọng”, “đáng được ABCXYZ” đang bị phá vỡ. Có thể nói rằng chúng ta càng xây dựng nhân cách bản thân theo hướng mình “đáng được” cái này “đáng được” cái kia, thì chúng ta sẽ càng tự đẩy mình vào thế phải chịu bất hạnh.

Nhu cầu quyền lực là một nhu cầu khá oái oăm, vì việc đáp ứng nó không hề đơn giản như nhu cầu sinh tồn hay khám phá, và trong nhiều trường hợp, nỗ lực đáp ứng nhu cầu này lại chỉ dẫn đến kết quả ngược lại. Điều này xảy ra khi chúng ta lựa chọn việc nhắm tới những đối tượng nằm ngoài khả năng kiểm soát của bản thân để tìm cách điều khiển theo những cách thiếu hiệu quả, mà đối tượng vô vọng điển hình chính là những người xung quanh. Như tôi đã từng viết trong một bài viết trước, một trong những sai lầm lớn nhất của con người là nghĩ rằng mình có thể bắt được người khác làm theo ý muốn của bản thân. Mọi cố gắng điều khiển người khác mà không tính đến suy nghĩ và cảm xúc của đối tượng, đều sẽ có khả năng rất lớn gặp phải sự cự tuyệt và phản kháng, và do đó sẽ đem lại sự bất hạnh cho chủ thể của hành động. Việc xác định được thứ gì có thể điều khiển và điều khiển theo cách nào, bởi vậy, đóng vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu quyền lực.

d. Nhu cầu yêu thương

Nhu cầu yêu thương là nhu cầu cảm nhận và trân trọng giá trị tồn tại của một điều gì đó, đồng thời nhận lại sự đối xử tương tự từ xung quanh. Trong phần lớn trường hợp, đối tượng mà chúng ta yêu thương là những người thân thiết hoặc vật nuôi, vì những đối tượng này thường sẵn sàng đón nhận những cử chỉ bày tỏ sự yêu thương của chúng ta, cũng như đáp trả lại một cách tương xứng. Sự yêu thương cũng có thể được hướng tới những sự vật sự việc vô tri như cây cảnh, đồ vật, một khái niệm nào đó như dân tộc hay tổ quốc, hoặc thậm chí là tiền bạc,… Tuy vậy, nhu cầu yêu thương là một nhu cầu hai chiều: yêu thương và nhận về sự yêu thương. Vì vậy, sự yêu thương một phía sẽ khó có thể đem lại sự thỏa mãn đầy đủ nhất. Tất nhiên, cảm nhận về tình yêu thương là thuần túy chủ quan, và do đó chúng ta hoàn toàn có thể tự nghĩ rằng mình đang nhận được sự yêu thương từ bất cứ ai hay bất cứ điều gì, giống như chúng ta vẫn tự nghĩ rằng mình đang được vật nuôi yêu quý vậy.

Giá trị của một sự vật sự việc nằm ở mức độ khác biệt và độc nhất, tức là mức độ đặc biệt, của nó so với tập hợp các sự vật sự việc cùng phân loại trong mắt người quan sát. Sự yêu thương sẽ xuất hiện và trở nên mạnh mẽ khi chúng ta bắt đầu ý thức được sự đặc biệt đó. Sự đánh giá ở đây phụ thuộc vào hai yếu tố: chúng ta cảm nhận sự đặc biệt ở những điểm nào và đến mức nào, và chúng ta đặt đối tượng vào phân loại nào để so sánh. Điều này giải thích cho tình cảm yêu thương mạnh mẽ mà cha mẹ dành cho con cái: đối với nhiều người trong số họ, mỗi đứa con đều là một thực thể đặc biệt nhất trong số tất cả mọi thứ trên đời. Tương tự như vậy, những mối liên hệ, những kỷ niệm chung, những sự tương đồng giữa đối tượng với người quan sát có thể sẽ góp phần làm tăng sự đặc biệt tương đối của đối tượng trong mắt người quan sát, và do đó khiến cho tình cảm yêu thương dễ nảy sinh hơn. Khi chúng ta thực sự cảm nhận được rằng mọi sinh linh, mọi sự vật đều khác biệt, đều độc nhất, đều có giá trị to lớn, thì đó cũng là lúc chúng ta cảm nhận được tình yêu thường thấy ở các bậc thánh nhân: thuần khiết, bao la và bình đẳng đối với toàn bộ thế gian.

Nhu cầu yêu thương là một nhu cầu vừa phức tạp vừa đơn giản. Đơn giản vì một người hoàn toàn có thể tự thỏa mãn nhu cầu yêu thương của bản thân mà không cần tốn kém: chỉ cần quan sát hay thậm chí nghĩ đến một điều gì đáng yêu là người đó đã có thể thấy hạnh phúc. Đó là lý do vì sao các video chó mèo trên Youtube lại có sức hút lớn đến như vậy. Sự phức tạp của nhu cầu yêu thương đến từ việc chúng ta hay nhầm lẫn nó với nhu cầu quyền lực, tức là nhầm lẫn tình yêu với sự kiểm soát và điều khiển. Khi chúng ta yêu quý một người hay vật nào đó, chúng ta có xu hướng thể hiện tình cảm đó ra bằng hành động. Hành động đó của chúng ta có thể đem lại hạnh phúc cho đối phương bằng việc khiến họ cảm thấy được yêu thương, mà cũng có thể không, nhất là khi nó đem lại bất hạnh cho họ ở những mặt khác, và điều này phụ thuộc hoàn toàn vào cảm nhận chủ quan. Khi một cá nhân, chỉ vì cho rằng hành động của mình là thể hiện của tình yêu, mà nghĩ rằng đối phương nên/cần/phải chấp nhận nó, và thậm chí là phải thấy hạnh phúc, thì tức là người đó đơn giản chỉ đang muốn thỏa mãn nhu cầu quyền lực của bản thân mà thôi.

Chú ý rằng khái niệm yêu thương ở đây rất khác với khái niệm tình yêu nam nữ (hay nam-nam, nữ-nữ,…). Sự yêu thương bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với tình yêu lãng mạn, và nhu cầu đối với tình yêu lãng mạn cũng có thể được phân tích ra thành nhiều nhu cầu tinh thần khác, trong đó nhu cầu yêu thương chỉ là một thành phần. Nhu cầu yêu thương theo nghĩa rộng đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cho nhân loại có thể cùng chung sống trong những cộng đồng và xã hội, và cùng tồn tại với môi trường xung quanh một cách tương đối hòa bình. Nhu cầu yêu thương khiến cho chúng ta có thể thu được cảm giác hạnh phúc từ bản thân sự tồn tại của các sự vật sự việc khác, chứ không giới hạn ở việc chúng ta có thể sử dụng và tác động đến những sự vật sự việc đó như thế nào. Và do đó chúng ta có được sự thỏa mãn từ việc đơn thuần giữ một mối quan hệ bất can thiệp và mong muốn những điều tốt đẹp đối với thế giới xung quanh.

e. Nhu cầu tự do

Nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy mình là người nắm quyền ra các quyết định của bản thân. Nói cách khác, nhu cầu tự do là nhu cầu cảm thấy được sống đúng với nhân cách tự thân của chính mình. Tuy đều mang yếu tố “theo ý mình”, nhưng nhu cầu tự do có sự khác biệt căn bản với nhu cầu quyền lực ở chỗ nhu cầu quyền lực đánh giá kết quả của một quyết định, còn nhu cầu tự do đánh giá nhân cách đứng sau quyết định đó. Điều này lý giải vì sao một số người thường không thích cảm giác bị người khác điều khiển, mặc dù có thể những quyết định và hành động của họ ở thời điểm được đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, và thậm chí là đem lại kết quả tích cực như ý muốn (vd. cảm giác bị dẫn dắt, được sắp xếp sẵn mọi thứ,…). Có thể nói rằng nhu cầu tự do là nhu cầu được thoát khỏi sự kiểm soát và điều khiển của thế giới xung quanh.

Nhu cầu tự do, một khi bị từ chối đáp ứng, nhất là khi điều đó diễn ra một cách thường xuyên, có thể gây hệ quả tiêu cực rất nặng nề và lâu dài đến sức khỏe tinh thần của cá nhân, mà khó có thể được bù đắp lại bởi sự thỏa mãn những nhu cầu khác. Đối với một con người đã ý thức được một nhu cầu tự do nhất định của bản thân, thì việc tự do đó bị phủ nhận tương đương với việc nhân cách, cũng tức là tư cách làm người, bị phủ nhận. Khi đó trong tâm trí cá nhân thường sẽ xuất hiện một cảm giác căm ghét tột độ đối với sự vật sự việc mà cá nhân đó cho là đang cản trở tự do của mình. Bên cạnh thiệt hại trực tiếp về mặt hạnh phúc, việc tự do bị tước đoạt cũng cản trở việc hình thành nhân cách tự thân, và qua đó cản trở sự phát triển năng lực tiềm ẩn của cá nhân, trong đó bị ảnh hưởng nặng nhất có lẽ là khả năng tự chủ và tính sáng tạo.

Cũng giống như nhu cầu yêu thương, việc thỏa mãn nhu cầu tự do, ít nhất trên lý thuyết, không hề tốn kém về vật chất hay thời gian: chúng ta chỉ việc xây dựng nhân cách của riêng mình, và nghe theo ý kiến của nhân cách đó trong mọi việc. Tuy nhiên, trên thực tế điều này đôi khi đòi hỏi một lượng tài nguyên tinh thần không hề nhỏ, và trong một số trường hợp là gây nguy hiểm đến tính mạng. Đó là vì nhu cầu tự do của người này thường xung đột với nhu cầu quyền lực, và đôi khi là cả sinh tồn, của người khác trong cùng một cộng đồng, cũng như gặp phải sự cản trở từ các quy luật của tự nhiên. Tài nguyên tinh thần mà một cá nhân cần phải sử dụng đến để vượt qua những cản trở đó, để chịu đựng thiệt hại đối với những nhu cầu khác trong khi thỏa mãn nhu cầu tự do của bản thân, chính là ý chí tự do. Đồng thời, việc cân bằng giữa tự do của cá nhân và lợi ích của phần còn lại của cộng đồng cũng là một điểm rất quan trọng trong việc vận hành cộng đồng đó.

Vai trò của nhu cầu tự do khá rõ ràng: nó tạo ra động lực để mỗi cá nhân con người mong muốn bảo vệ và phát triển nhân cách riêng của mình, thông qua đó giữ cho xã hội loài người có một sự đa dạng cao về tư tưởng và hành động. Những tư tưởng và kinh nghiệm được tạo ra từ sự đa dạng đó, sau khi trải qua sự thử thách và chọn lọc khi va chạm với các tư tưởng và kinh nghiệm khác, tạo nên toàn bộ hệ thống tri thức và lý luận của con người ngày nay. Có thể nói rằng nhu cầu tự do gián tiếp đảm bảo nguồn nguyên liệu thô cho quá trình tiến hóa của văn minh nhân loại. Bởi vậy, việc tôn trọng quyền tự do tư tưởng và hành động của cá nhân, tất nhiên trong giới hạn đảm bảo ở mức nhất định quyền lợi của các cá nhân khác trong xã hội, là một nguyên tắc không chỉ phù hợp với lợi ích của từng cá nhân, mà còn là phù hợp với lợi ích tổng thể của xã hội loài người, và do đó là một việc làm hợp đạo đức.

3. Đi tìm hạnh phúc

Năm nhu cầu tinh thần nói đến ở trên đơn giản chỉ là một cách phân loại, một cách nhìn đối với tập hợp toàn bộ các nhu cầu hạnh phúc của con người vốn rất phức tạp và đa dạng. Năm nhu cầu này có thể không bao quát và lý giải được tất cả mọi nhu cầu hay cảm xúc của con người, nhưng chúng có thể cho chúng ta một cơ sở lý luận để qua đó có thể suy nghĩ một cách có hệ thống hơn về hạnh phúc và cách để đạt tới hạnh phúc. Trong thực tế, một hành vi của con người có thể có tác động rất phức tạp lên hạnh phúc của bản thân, liên quan đến nhiều nhu cầu tinh thần khác nhau: tình yêu đôi lứa có thể đáp ứng cùng lúc nhu cầu thể xác (XXX), nhu cầu yêu thương (yêu…), nhu cầu khám phá (trải nghiệm yêu), và nhu cầu quyền lực (khiến đối phương hạnh phúc). Nỗ lực thỏa mãn một nhu cầu nhất định (ép buộc con cái theo ý mình) cũng có thể gây tổn thương lớn hơn đến một nhu cầu khác (ngăn cản sự yêu thương và nhận về yêu thương).

Hành trình tìm kiếm hạnh phúc của con người, do đó, cũng chính là hành trình đi tìm ra những con đường có thể đáp ứng nhu cầu hạnh phúc của riêng mình một cách hiệu quả nhất và bền vững nhất, và còn được chúng ta gọi với một cái tên khác là sự trưởng thành. Hành trình đó đòi hỏi chúng ta không chỉ nhận thức và tác động lên thế giới xung quanh, mà quan trọng hơn là nhận thức được và kiểm soát được ở mức độ nhất định đối với nội tâm của chính mình. Đó là vì tất cả các nhu cầu hạnh phúc đều là nhu cầu tinh thần, và phụ thuộc vào ít nhất một hay một số yếu tố tinh thần nhất định: nhu cầu quyền lực phụ thuộc vào việc chúng ta nghĩ mình “đáng được” cái gì, nhu cầu yêu thương phụ thuộc vào việc chúng ta quan sát thế giới kỹ đến đâu và ở phạm vi nào, nhu cầu tự do phụ thuộc vào việc chúng ta có nhân cách tự thân để mà theo không,… Từ cách nhìn như vậy, thì có thể nói rằng hạnh phúc thực sự luôn tồn tại sẵn ở trong tâm trí của chúng ta.

Một điểm đáng chú ý nữa là các nhu cầu tinh thần cũng có “thứ bậc” nhất định, và có thể khác nhau đối với từng người. Tuy nhiên trong đa số trường hợp thứ bậc này gần giống với thứ tự được giới thiệu ở đây: sinh tồn < khám phá < quyền lực < yêu thương < tự do. Những nhu cầu ở thứ bậc càng cao thì một khi đã được ý thức, sẽ càng khó có thể từ bỏ hoàn toàn để thỏa mãn các nhu cầu thấp hơn. Một người khi đã biết rằng mình có thể tác động đến thế giới xung quanh để uốn nắn theo ý mình, sẽ khó có thể từ bỏ hoàn toàn điều đó để chỉ dừng lại ở việc khám phá những điều mới mẻ. Tương tự, một khi đã biết đến cảm giác yêu thương và tự do, con người sẽ rất khó đồng ý xóa bỏ hoàn toàn những cảm xúc ấy để đổi lại sự đáp ứng dù là cao nhất đối với tất cả những nhu cầu còn lại.

Và dù cho không có một nhu cầu hay một phương pháp nhất định nào tự nó là “cao cả” hay “thấp kém” một cách tuyệt đối, thì khi đứng trên quan điểm lợi ích cá nhân, việc tập trung vào những nhu cầu ít tốn kém hơn và những phương pháp để đạt đến hạnh phúc lớn lao hơn và có tính bền vững hơn, có thể được xem là chiến lược sáng suốt hơn về lâu dài. Cụ thể, chúng ta nên tránh việc để cho hạnh phúc của mình phụ thuộc vào sự thỏa mãn những nhu cầu tốn kém trong việc duy trì (hưởng thụ vật chất, chất kích thích,…), tránh việc sử dụng những phương pháp đáp ứng nhu cầu có khả năng phản tác dụng cao (điều khiển người khác, hy sinh tự do,…), và hướng đến việc tìm kiếm và gia tăng hạnh phúc ở bên trong tâm trí (yêu nhiều ghét ít, hạ thấp kỳ vọng, tu dưỡng bản thân,…). Tất nhiên, như đã nói mỗi người có một khuynh hướng riêng trong vấn đề hạnh phúc, và không có công thức nào để đạt tới hạnh phúc áp dụng được cho tất cả mọi người cả.

Nếu chúng ta suy nghĩ một cách sâu xa và triệt để về cách để bản thân có được hạnh phúc, thì rất có thể những kết luận mà chúng ta đạt được nghe sẽ có vẻ giống những lời dạy bảo của các tôn giáo hay đạo đức truyền thống. Đó vốn chính là nguồn gốc của đạo đức ở mức độ cá nhân lẫn xã hội: những chiến lược, những nguyên tắc, những lời khuyên có thể đem lại hạnh phúc bền vững, hoặc ngăn ngừa sự bất hạnh, cho mỗi cá nhân con người, được hình thành thông qua trực giác bản năng hoặc kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân và các thế hệ đi trước – một cuốn “cẩm nang hạnh phúc”. Đạo đức là một thứ vốn có ích và mang lại tự do cho cá nhân nếu nó được dùng đúng phạm vi và công dụng. Chỉ khi đạo đức bị khoác lên mình tấm áo quyền lực và chân lý, bị lợi dụng để điều khiển người khác, khi “nên” bị biến thành “phải”, thì đạo đức mới trở thành một đề tài gây ra tranh cãi và bất hạnh.


Như vậy, cảm giác hạnh phúc là một cảm giác nảy sinh từ sự thỏa mãn của một hay một số nhu cầu trong số rất nhiều các nhu cầu tinh thần đa dạng của con người. Các nhu cầu đó có thể được phân chia làm năm phân loại chính: sinh tồn, khám phá, quyền lực, yêu thương, và tự do. Mỗi phân loại nhu cầu có cơ chế thỏa mãn khác nhau, cũng như vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại nói chung và mỗi cá nhân nói riêng. Mỗi con người cũng sẽ có những khuynh hướng nhất định đặc trưng cho cá nhân đó, đòi hỏi nhu cầu này nhiều hơn, nhu cầu kia ít hơn. Mỗi quyết định và hành động của con người đều nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất các nhu cầu tinh thần của bản thân, trong giới hạn hiểu biết và năng lực tại thời điểm đó. Việc hiểu rõ về các nhu cầu của bản thân, và tìm ra những cách đáp ứng chúng sao cho mang lại hiệu quả tổng thể cao nhất và ít tốn kém nhất, là con đường duy nhất để đạt đến được hạnh phúc ổn định, bền vững và lâu dài.

Bàn về “nhân cách”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trong những đánh giá về một con người, đôi khi chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của từ “nhân cách”. Chúng ta hay nói rằng nhân cách một con người là “lớn lao”, “cao cả”, “vĩ đại”, hay ngược lại là “thấp kém”, “nhỏ bé”, “xấu xa”. Chúng ta có thể cảm nhận lờ mờ được rằng dường như “nhân cách” là một thứ gì đó đại diện cho giá trị của một con người ở một khía cạnh nào đó. Vậy thực sự thì nhân cách là gì? Và nếu nhân cách là một thứ được dùng để đánh giá giá trị của chúng ta, thì chúng ta có thể làm gì để nâng cao giá trị đó? Bài viết dưới đây sẽ tập trung vào việc làm rõ khái niệm “nhân cách”, đồng thời nêu ra một số suy nghĩ mà cá nhân tôi cho rằng mọi người chúng ta nên có đối với khái niệm này.


1. Nhân cách là gì?

Nhân cách là tập hợp những nhận thức, hiểu biết, nguyên tắc, niềm tin của một con người về chính bản thân mình, và còn có thể được gọi là “tư cách làm người” hay “tính người” của người đó. Nhân cách là thứ trả lời cho những câu hỏi như “tôi là ai”, “tôi đến từ đâu”, “tôi là người thế nào”, “tôi mong muốn cái gì”, “tôi coi trọng cái gì”, “tôi tin vào cái gì”,… Tùy vào mức độ phát triển mà nội dung của nhân cách có thể rất phong phú:từ việc ý thức được mình là một “con người”, hay ít nhất là một “thực thể” tách biệt khỏi thế giới xung quanh, cho đến hiểu biết về những nhu cầu, sở thích, ham muốn, tính cách của bản thân, và cuối cùng là những nội dung trừu tượng như niềm tin, triết lý, đạo đức,… Ví dụ về từng khía cạnh riêng lẻ của nhân cách có thể là “tôi là người Việt Nam”, “tôi thích đồ ngọt”, “tôi rất giỏi ngoại ngữ”, “tôi muốn làm nghề dạy học”, “tôi coi trọng tự do tư tưởng”, “tôi tin rằng lợi ích cá nhân nên được đặt lên trên hết”,…

Nhân cách là nguồn gốc và căn cứ sâu xa nhất của tất cả những đánh giá và quyết định có ý thức của con người. Tất cả mọi đánh giá và quyết định có ý thức của chúng ta đều có thể được truy gốc về một hay nhiều mặt của nhân cách mỗi cá nhân. Những tiêu chuẩn và tiền đề “khách quan” mà người ta thường nói tới như đạo đức, truyền thống, tín ngưỡng, pháp luật, hay cả khoa học cũng đều chỉ là một trong những yếu tố được sử dụng trong quá trình đưa ra đánh giá hay quyết định. Trong quá trình đó, nhân cách mới là thứ có tiếng nói quyết định. Trong tâm trí của chúng ta, Trái Đất hình tròn không phải vì khoa học bảo thế, mà vì chúng ta lựa chọn việc tin vào điều đó, hoặc tin vào khoa học. Chúng ta không giết người không phải vì pháp luật cấm đoán, mà vì chúng ta không muốn phạm pháp, hoặc không muốn trở thành kẻ thù của xã hội. Một khi nhân cách đã đưa ra quyết định trái ngược thì bao nhiêu đạo đức khoa học hay pháp luật quy tắc cũng đều là đồ bỏ.

Cần chú ý rằng nhân cách khác với tính cách. Tính cách là một phần của nhân cách và bao gồm các khuynh hướng của cảm xúc, thái độ và hành động được thể hiện ra ngoài như xuề xòa, vui vẻ, hài hước, nóng nảy, khiêm tốn,… Trong cùng một con người có thể có rất nhiều tính cách đa dạng, đôi khi là trái ngược, cùng tồn tại. Việc tính cách nào được thể hiện ra bên ngoài sẽ tùy thuộc vào hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể. Một người có thể nhũn nhặn với cấp trên nhưng lại nóng nảy với cấp dưới, nhút nhát ở chỗ đông người nhưng sôi nổi khi bàn luận riêng. Những biểu hiện bên ngoài đó tuy có thể rất khác nhau nhưng đều xuất phát từ một nhân cách trung tâm ở bên trong, và sự khác biệt nảy sinh tùy vào hoàn cảnh là điều hoàn toàn bình thường và hợp lý. Có thể nói rằng, tính cách là những vai diễn, người đời là khán giả, và người diễn viên đằng sau những vai diễn đó, người quyết định sẽ đóng vai nào trong hoàn cảnh nào, chính là nhân cách.

Nhân cách cũng khác với tri thức hay hiểu biết thông thường. “Trái Đất (có thể) hình tròn” hay “Trái Đất (có thể) hình đĩa” đơn thuần chỉ là những giả thuyết hay ý tưởng, tương đương với một mệnh đề logic chưa được chứng minh, và bản thân chúng không mang thông tin gì cả. Khi chúng ta gắn cho những giả thuyết đó một giá trị chân lý đúng/sai dựa trên một số tiền đề nhất định thì chúng ta có thông tin, hay còn gọi là tri thức, tương đương với một khẳng định logic. Và cuối cùng, nhân cách của một người sẽ là thứ quyết định việc người đó tin hay không tin, tin ở mức độ nào, với điều kiện gì, gắn những giá trị và ý nghĩa gì, và sử dụng như thế nào đối với một thông tin hay tri thức nhất định. Nói cách khác, nhân cách là quan tòa tối cao, là bộ lọc cuối cùng đối với mọi tri thức mà chúng ta tiếp nhận, đồng thời cũng là một trong những mắt xích kết nối tri thức với những suy nghĩ, hành động và quyết định cụ thể của chúng ta.

2. Nhân cách tự thân và tiêm nhiễm

Đối với một con người sống trong một xã hội, nhân cách có thể được chia làm hai bộ phận: nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm. Nhân cách tự thân là nhân cách được hình thành một cách tự nhiên và tự do, không có sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài. Trái lại, nhân cách tiêm nhiễm là nhân cách có nguồn gốc từ bên ngoài, hoặc phải phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. Có thể nói rằng, nhân cách tự thân thể hiện cho con người thực của chúng ta, còn nhân cách tiêm nhiễm thường thể hiện cho một hình ảnh về chúng ta trong mắt người khác, hoặc hình ảnh một người khác bên trong chúng ta. Do đến từ bên ngoài hoặc phụ thuộc vào bên ngoài, nên nhân cách tiêm nhiễm thường mang lại cảm giác “xa xôi”, “bất biến”, “hiển nhiên”, “không thể chống lại”. Trong khi đó, nhân cách tự thân là thứ chúng ta cảm thấy hoàn toàn có thể và có quyền thêm bớt hay thay đổi theo ý muốn, tuy rằng có thay đổi và thay đổi được hay không lại là chuyện khác.

Nhân cách tiêm nhiễm thường thấy nhất là những chuẩn mực văn hóa và đạo đức của xã hội mà chúng ta đang sống. Chẳng hạn, trong xã hội Việt Nam từ trước đến nay người phụ nữ thường được (bị) giáo dục từ bé rằng cần phải hiền thục đảm đang, gánh vác việc nhà, hy sinh vì gia đình,… Rất nhiều người trong số đó khi lớn lên coi điều này là một chân lý hiển nhiên, hoặc ít nhất cảm thấy một áp lực vô hình hướng bản thân tới hình ảnh lý tưởng ấy. Một ví dụ khác thường thấy là những sự định hướng và kỳ vọng mang tính áp đặt của cha mẹ đối với con cái trong các vấn đề sự nghiệp, tình cảm, gia đình,… Ngược lại, nhân cách tự thân là những sở thích và mơ ước cá nhân, là những triết lý chúng ta tự khám phá ra, là những nguyên tắc cốt lõi không thể khoan nhượng, là sự tự hào đối với những thành tựu của bản thân,… Nhân cách tự thân là tất cả những điều gì khiến cho chúng ta cảm thấy mình đang được là chính mình.

Khái niệm nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm hoàn toàn chỉ mang tính tương đối và tượng trưng chứ không hề có một định nghĩa hay ranh giới chính xác. Và do đó một người đứng bên ngoài quan sát khó có thể kết luận rõ ràng rằng một hành vi hay một suy nghĩ nào đó của một cá nhân là biểu hiện của nhân cách tự thân hay nhân cách tiêm nhiễm. Điều đó phải do tự bản thân cá nhân đó quyết định lấy. Trong thực tế, một người hoàn toàn có thể đinh ninh rằng một điều gì đó là một phần nhân cách thực của bản thân, cho đến khi nhận ra rằng đó chỉ là một thứ bị tiêm nhiễm vào từ bên ngoài một cách vô thức. Nói cách khác, cùng một suy nghĩ, cùng một hành động, cùng một quyết định có thể là xuất phát từ nhân cách tự thân hoặc từ nhân cách tiêm nhiễm, tùy vào nội tâm của cá nhân chủ thể.

3. Sự xâm nhập nhân cách

Sự xâm nhập của nhân cách tiêm nhiễm có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau. Ban đầu, một người có thể bị buộc phải chấp nhận sống bằng một nhân cách nào đó do sự đe dọa về thể xác, lợi ích hoặc áp lực tinh thần. Khi đó, nhân cách tiêm nhiễm sẽ chỉ nắm được quyền điều khiển nếu sự đe dọa hay áp lực được duy trì. Ở mức độ này, có thể nói rằng nhân cách đến từ bên ngoài kia chưa hề được chấp nhận làm một phần nhân cách bên trong của cá nhân, mà chỉ được tuân thủ một cách máy móc. Khi đó nhân cách tự thân thường sẽ thể hiện sự kháng cự thông qua một cảm giác bị ép buộc, dẫn tới sự giận dữ, và có thể là sự chống đối công khai. Tất nhiên sự chống đối sẽ khó xảy ra nếu như nhân cách tự thân quá yếu ớt hay áp lực bên ngoài quá lớn. Bước đầu tiên của quá trình tiêm nhiễm này có thể dễ dàng thấy được khi trẻ em bị cha mẹ uốn nắn dạy dỗ một cách cưỡng ép, hay khi một thành viên xã hội bị kiểm soát và điều khiển bởi vũ lực của tầng lớp thống trị.

Khi nhân cách tiêm nhiễm đã xâm nhập sâu hơn, nó sẽ bám rễ bên trong tâm trí của cá nhân. Lúc này cá nhân đã chấp nhận, hay đúng hơn là bỏ cuộc, ở mức độ nào đó đối với sự xâm lấn từ bên ngoài. Nhân cách tiêm nhiễm sẽ có thể tự xuất hiện và giành quyền kiểm soát nội tâm mỗi khi cá nhân có suy nghĩ gì đó trái ngược với nó, mà không cần đến sự đe dọa hay áp lực có thực từ bên ngoài. Cá nhân bắt đầu mất dần ý thức về nguồn gốc ngoại lai của nhân cách tiêm nhiễm và chấp nhận nó như một phần khó có thể tách rời của nhân cách bản thân, dù muốn dù không. Sự khuất phục trước uy quyền, ví dụ như uy quyền của cha mẹ hay thần quyền, là một ví dụ điển hình của nhân cách tiêm nhiễm ở mức độ này. Có rất nhiều người dù đã có gia đình riêng và hoàn toàn tự lập về tài chính, nhưng vẫn không thể chống lại được lời cha mẹ, và sự khuất phục của hàng bao thế hệ người Châu Âu trước quyền uy của Giáo hội La Mã là một sự thật lịch sử khó ai có thể phủ nhận.

Nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể xâm nhập vào nội tâm một con người theo những con đường “ôn hòa” hơn. Một người có thể tự mình tạo nên nhân cách tiêm nhiễm bằng việc du nhập các tư tưởng bên ngoài một cách vô tội vạ mà không có sự chọn lọc kiểm tra bằng suy nghĩ của bản thân. Những hạn chế về môi trường, thông tin, hay đơn giản là sự may rủi cũng có thể khiến cho cá nhân tự mình chấp nhận một cách vô thức rằng một niềm tin hay cách suy nghĩ nào đó là điều hiển nhiên không thể thay đổi, chỉ bởi vì cá nhân không có cơ hội được tiếp xúc với những lựa chọn khác. Khi đó, những niềm tin hay cách suy nghĩ ấy có thể trở thành một phần vĩnh viễn của nhân cách nếu như bản thân cá nhân ngừng việc suy nghĩ, đặt câu hỏi, và tìm kiếm những khả năng mới. Chẳng hạn, một người sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ thường xuyên sử dụng vũ lực và áp đặt suy nghĩ lên con cái, rất có thể sẽ tin rằng đó là cách duy nhất để dạy dỗ những đứa con của chính mình, mặc dù có thể điều đó mâu thuẫn với tình yêu người đó dành cho con.

Sự xâm lấn và mở rộng của nhân cách tiêm nhiễm thường đi cùng với sự thu hẹp và phai nhạt của nhân cách tự thân. Cũng giống như kỹ năng hay tri thức, nhân cách chỉ có thể được duy trì và phát triển nếu như thường xuyên được sử dụng và bồi bổ. Việc thường xuyên sử dụng nhân cách tự thân sẽ giúp cho cá nhân dần hiểu rõ được bản thân, biết cách tin tưởng và sử dụng sở thích, tính cách và trực giác của bản thân, đồng thời chỉnh sửa, mở rộng nhân cách bản thân cho phù hợp với nhu cầu thực tế lẫn thiên hướng có sẵn. Ngược lại, nếu bị đè nén và phủ nhận, nhất là từ khi còn nhỏ, thì nhân cách tự thân sẽ không có cơ hội phát triển và do đó sẽ rất hoang sơ, rời rạc vô tổ chức, và quan trọng nhất là không được tin tưởng. Biểu hiện rõ ràng nhất của điều này là việc không biết mình thích gì, muốn gì, không có khả năng hay không dám tự suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm, mà luôn tìm kiếm sự chỉ dẫn từ một quyền lực nào đó như cha mẹ, giáo viên, cấp trên, thần quyền,… Đối với một người mà nhân cách tự thân đã bị xóa bỏ hoàn toàn, thì có lẽ đến cả việc tự chọn vị kem mình thích cũng là điều khó khăn.

Tất nhiên, không phải mọi tư tưởng có nguồn gốc ngoại lai đều trở thành nhân cách tiêm nhiễm. Khi tiếp xúc với một tư tưởng từ bên ngoài mà cá nhân cảm thấy hợp lý, tức là cảm thấy phù hợp với nhân cách tự thân của cá nhân tại thời điểm đó, cá nhân có thể ngay lập tức kết nối tư tưởng mới ấy vào thành một phần của nhân cách tự thân. Hay nói đúng hơn, khi đó đã diễn ra một quá trình sáng tạo: cá nhân lấy những tư tưởng nguyên liệu từ bên ngoài và sáng tạo lại thành một mảnh ghép mới của mô hình thế giới thu nhỏ bên trong trí não (tham khảo bài viết trước). Điều này cũng tương tự với việc các thầy cô giáo hay yêu cầu học sinh “biến kiến thức thành của mình” vậy. Điểm khác biệt của quá trình này so với sự du nhập vô tội vạ là do tư tưởng mới đã được diễn giải, kết nối và kiểm chứng bằng thế giới quan của chính mình, nên cá nhân có thể, và trong đa số trường hợp sẽ bảo vệ tư tưởng đó chỉ bằng năng lực và nhân cách tự thân (vd. “tôi thích nghĩ thế”), thay vì cảm thấy phải dựa dẫm vào những nguồn quyền lực và lý luận ở bên ngoài như “khoa học”, “thời trang”, “thuần phong mỹ tục”, “truyền thống đạo đức”, hay “cha mẹ bảo thế”.

4. Vai trò của nhân cách tự thân

Ở đây tôi không muốn nói rằng nhân cách tự thân là “tốt” và nhân cách tiêm nhiễm là “xấu”. Tuy nhiên, nhân cách tự thân có vai trò quan trọng đối với hạnh phúc của mỗi chúng ta, và việc để cho nhân cách tiêm nhiễm xâm lấn và chèn ép nhân cách tự thân có thể đem lại nhiều hậu quả không được mong muốn. Trước hết, vì “tôi hạnh phúc khi nào” cũng là một nội dung quan trọng của nhân cách, mà chỉ có nhân cách tự thân mới phản ánh đúng những quy luật cảm xúc tự nhiên của chính chúng ta, nên chỉ có nhân cách tự thân mới có thể chỉ ra cho chúng ta con đường để đi tới hạnh phúc thực sự và lâu bền cho bản thân. Mọi định nghĩa hạnh phúc mà nhân cách tiêm nhiễm mang lại, nếu không phải là sai lệch hoàn toàn, thì cùng lắm cũng chỉ có thể đem lại sự thỏa mãn một phần nào đó một số nhu cầu tâm lý nhất thời mà thôi.

Một điểm dễ thấy ở những người có nhân cách tự thân yếu ớt là họ thường sẽ ít cảm thấy có trách nhiệm với bản thân và thế giới xung quanh. Đó là vì trách nhiệm và tự do là hai mặt của cùng một đồng tiền. Nhân cách tiêm nhiễm thường là thứ chúng ta cảm thấy không có quyền hay không thể tự do lựa chọn. Mà đã không được tự do lựa chọn, thì chúng ta sẽ không thấy lựa chọn đó là “của mình”, hay nói cách khác chúng ta không cảm thấy có trách nhiệm với nó. Ngược lại, nhân cách tự thân là thứ chúng ta đã tự lựa chọn một cách có ý thức và có thể tự do thay đổi theo ý muốn. Chính điều này làm nên cảm giác trách nhiệm đối với lựa chọn của bản thân. Cảm giác trách nhiệm này là một yếu tố có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành công cũng như cảm giác thỏa mãn mang lại bởi các hoạt động của chúng ta trong thực tế cuộc sống.

Chú ý rằng, nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể tạo ra ở cá nhân một thứ có biểu hiện bề ngoài gần giống như tinh thần trách nhiệm, đó là sự sợ hãi. Điều này có thể thấy ở một số ví dụ như một đứa trẻ tỏ ra chăm chỉ học hành khi bị cha mẹ áp đặt định hướng vào một ngành nghề nào đó. Bên ngoài, đứa trẻ đó dường như đang thể hiện trách nhiệm đối với cuộc đời của chính mình, hoặc là đối với sự kỳ vọng của cha mẹ. Nhưng rất có thể bên trong nội tâm đứa trẻ đó, động lực thôi thúc hành vi học hành lại là nỗi sợ hãi đánh mất sự chấp nhận và tình cảm từ phía cha mẹ. Tương tự như vậy, một người phụ nữ cố gắng giữ vững hình ảnh hiền thục đảm đang rất có thể đơn giản là vì sợ hãi sự đánh giá từ xung quanh, chứ không phải vì một cảm giác trách nhiệm đối với vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội của bản thân.

Sự sợ hãi và cảm giác trách nhiệm có hai sự khác biệt chính. Thứ nhất, sự sợ hãi dẫn đến sự bị động, trong khi trách nhiệm tạo nên sự chủ động: một người có thể cố gắng đáp ứng tốt nhất mọi công việc được giao vì sợ hãi, nhưng chỉ có trách nhiệm thực sự mới khiến người đó tự mình suy nghĩ sáng tạo tìm cách cải thiện chất lượng công việc dù không được yêu cầu. Thứ hai, sự sợ hãi là động lực bên ngoài, trong khi trách nhiệm là động lực bên trong: khi tất cả các yếu tố bên ngoài gây nên sự sợ hãi đều biến mất, thì động lực còn sót lại chính là trách nhiệm thực sự. Chính vì sự khác biệt về bản chất này của động lực sản sinh bởi nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm, nên trong đại đa số trường hợp một người sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ không thể phát huy hết được năng lực tiềm tàng của bản thân, nhất là năng lực sáng tạo và tự chủ, so với khi người đó được sống bằng nhân cách thực của chính mình.

Một hệ quả tiêu cực khác của việc nhân cách tự thân yếu ớt là một cá nhân sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ để cho nội tâm của mình phụ thuộc nhiều vào tác động từ bên ngoài. Nói một cách đơn giản là người đó dễ mất phương hướng và bị dắt mũi bởi thế giới xung quanh. Một số ví dụ đơn giản cho điều này là việc chạy theo các xu hướng thời trang, tin theo tất cả các thông tin có gắn mác “khoa học”, hay dễ bị dụ dỗ bởi những lời đường mật kiểu “bán hàng đa cấp”. Trong các ví dụ này, một bộ phận nào đó của nhân cách cá nhân (vd. “thế nào là đẹp”, “thế nào là đáng tin”, “thế nào là thành công”) đã được tiêm nhiễm vào từ bên ngoài hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố bên ngoài về mặt nội dung, chứ không được dựa trên những suy nghĩ của bản thân, và do đó nằm ngoài tầm kiểm soát của cá nhân. Điều này dẫn tới việc suy nghĩ của cá nhân dễ bị thao túng, hay nhẹ hơn là dễ biến động hoặc hoang mang khi môi trường xung quanh liên tục cung cấp các thông tin thiếu thống nhất hay thậm chí trái ngược nhau.

Một ví dụ khác của điều được nói đến ở trên là việc danh tính (identity) của cá nhân, một bộ phận rất quan trọng của nhân cách, được gắn chặt hay thậm chí là định nghĩa hoàn toàn bởi những cái mác bên ngoài như tên tuổi, xuất thân, bằng cấp, tài sản, quốc tịch, dân tộc, hay thậm chí là tình trạng hôn nhân. Đối với những cá nhân đó, những cái mác này làm nên con người họ, chứ không đơn thuần chỉ là một số thuộc tính họ ngẫu nhiên mang theo mình nữa. Đối với họ, việc đánh mất một cái mác tương đương với việc đánh mất một phần sự tồn tại của bản thân, và việc một cái mác gặp phải sự chỉ trích hay bôi nhọ tương đương một đòn đánh trực diện vào nhân cách của chính họ. Điều này có nghĩa là nhân cách của họ rất dễ bị tổn thương, và nếu nhân cách đó không còn gì khác ngoài những cái mác, thì đó là một nhân cách nghèo nàn và thiếu thực chất. Một nhân cách như vậy sẽ không phải là một lá chắn tốt giúp giữ vững sự ổn định tinh thần của một con người.

Điều này mang lại nhiều bất lợi cho cá nhân, bởi tất cả những yếu tố bên ngoài, kể cả những thứ tưởng chừng như trường tồn như quốc gia hay dân tộc, đều có thể biến mất hay bị quên lãng bất cứ lúc nào. Nhân cách, ý chí và năng lực tự thân mới là những thứ thực sự chắc chắn sẽ đi theo một con người suốt từ khi sinh ra cho đến (gần) khi chết đi, đồng thời tạo nên ở con người đó sức hấp dẫn và lôi cuốn bền bỉ đối với những người xung quanh. Bất lợi này càng rõ ràng hơn khi cá nhân phải sinh sống và làm việc tại một môi trường hoàn toàn mới lạ như ở nước ngoài, nơi mà những cái mác vốn có bỗng dưng hoàn toàn mất giá trị. Có thể nói rằng một trong những phép thử cho nhân cách một con người là xem xem sau một thời gian ở một môi trường mới, có được bao nhiêu người xung quanh nhìn người đó như một con người hoàn toàn, hay hầu hết vẫn nhận diện người đó bằng những cái mác như “thằng Việt Nam”.

Cuối cùng, một nhân cách tự thân dù cho có yếu ớt và bị chèn ép đến đâu, cũng rất khó có thể biến mất hoàn toàn, mà chỉ có thể bị chôn vùi xuống đáy tâm hồn và bị quên lãng đi mà thôi. Khi nhân cách tiêm nhiễm khiến cho cá nhân có những suy nghĩ hay hành động trái ngược với một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân đã bị vùi lấp, nhân cách đó sẽ trỗi dậy và tạo nên một sự xung đột tâm lý trong nội tâm cá nhân, dù có thể là yếu đuối. Điều này có thể được cảm nhận qua một cảm giác lấn cấn, do dự, “có cái gì đó sai”, hay đơn giản chỉ là một sự khó chịu không rõ nguyên nhân. Những xung đột tâm lý này, nếu không được lý giải rõ ràng và giải quyết tận gốc, thì qua thời gian có thể sẽ tích tụ và lớn dần lên, tạo nên sự mâu thuẫn nội tâm ngày càng gay gắt, và cuối cùng có thể dẫn đến những triệu chứng của các loại bệnh tâm thần.

5. Xây dựng nhân cách của chính mình

Chính vì nhân cách tự thân có vai trò quan trọng như vậy, nên mỗi người chúng ta đều nên để ý xây dựng nên cho mình một nhân cách độc lập và vững vàng theo mong muốn của bản thân. Nhiều người cho rằng tính cách hay nhân cách là do môi trường tạo nên. Khẳng định đó có thể phần nào phản ánh đúng hiện thực, nhưng nó gián tiếp phủ nhận vai trò của ý chí tự do của mỗi cá nhân, cũng tức là thể hiện sự lảng tránh trách nhiệm đối với nhân cách và qua đó là vận mệnh của chính mình. Vậy, chúng ta có thể làm gì để phát triển nhân cách của bản thân?

a. Phát triển

Trước hết, nếu một người không hề ý thức được gì về một thứ nào đó, thì cũng có nghĩa là thứ đó không hề tồn tại đối với người ấy, và một thứ không tồn tại thì không có cách nào phát triển được. Do vậy, điều đầu tiên chúng ta nên làm là tự quan sát và ý thức được sự tồn tại của nhân cách tự thân. Điều này không nhất thiết phải là cái gì to tát, mà có thể đơn giản bắt đầu từ việc để ý xem mình thích ăn món gì, thích nghe nhạc gì, thích mặc đồ gì,… Mở rộng ra, chúng ta có thể dành thời gian để quan sát và suy nghĩ về tính cách, năng lực, đạo đức của bản thân: mình đối xử với xung quanh thế nào, mình thích làm và làm tốt việc gì, mình cảm thấy tức giận vì điều gì,… Một phần rất lớn nhân cách của chúng ta vốn đã tồn tại sẵn ở bên trong nội tâm mỗi người, vấn đề chỉ là chúng ta có ý thức được sự tồn tại của chúng, và diễn đạt những nội dung đó ra thành hình ảnh hay ngôn từ được hay không mà thôi.

Song song với việc tự quan sát chính bản thân, chúng ta cũng nên thường xuyên tìm kiếm và tiếp xúc với những ý tưởng, suy nghĩ, quan điểm mới mẻ để có thêm nguyên liệu cho quá trình xây dựng nhân cách, thông qua những phương tiện như sách vở, báo chí, internet, nói chuyện, hay đơn giản là quan sát từ xung quanh,… Ý tưởng hay suy nghĩ mới không nhất thiết phải là từ những sách vở chuyên ngành nhất định, mà có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, thậm chí ở cả những nơi tưởng chừng như chẳng hề liên quan. Chú ý rằng quá trình thu thập thông tin này cần gắn liền với sự chọn lọc, lý giải và kiểm chứng bằng nhân cách tự thân, chứ không nên là sự tiếp thu vô điều kiện. Có thể nói rằng, đây là quá trình tìm kiếm những công cụ mới để mô tả một cách ngày càng rõ ràng và chính xác hơn về nhân cách tự thân đã có sẵn, đồng thời mở rộng hoặc cải biến nhân cách đó mà vẫn giữ được tính thống nhất và hợp lý của nó, chứ không đơn thuần là sự chắp vá một cách tùy tiện.

Một trong những phương pháp tốt nhất để quan sát và xây dựng nhân cách tự thân là tự đặt mình vào trong một môi trường sống mới, mà ví dụ điển hình là một cuộc sống ở một vùng đất mới, trong một cộng đồng mới. Chúng ta chỉ có thể nhận ra sự tồn tại của một thứ gì đó khi có một thứ khác biệt đứng bên cạnh để so sánh. Cũng giống như việc con người không thể nhận ra sự tồn tại của không khí nếu như không có chân không, chúng ta không thể nhận ra một thói quen hay một khuôn mẫu tư tưởng của chính mình nếu như tất cả mọi người xung quanh đều có chung thói quen hay khuôn mẫu đó. Một môi trường hoàn toàn mới sẽ buộc chúng ta phải tiếp xúc với rất nhiều tư tưởng và suy nghĩ xa lạ từ xung quanh, dù muốn dù không, và qua đó có cơ hội nhận thức được rõ ràng hơn về nhân cách của chính mình, cũng như chọn lọc tiếp thu được những điều mới mà có thể trước đây chúng ta chưa bao giờ có cơ hội tiếp xúc.

b. Bảo vệ & sử dụng

Để cho nhân cách tự thân có thể trở nên vững vàng hơn, chúng ta cũng cần để ý bảo vệ và tin tưởng sử dụng nó vào thực tế. Điều này tưởng chừng như đơn giản nhưng có thể lại rất khó khăn. Nếu như nhân cách tự thân của chúng ta đã bị đè nén quá lâu, chúng ta có thể sẽ không có lòng tin vào nhân cách của chính mình, mà sẽ lựa chọn việc sống theo những chuẩn mực, thói quen hay lòng tin của những người xung quanh, vì những điều đó dù gì cũng (có lẽ) ít nhiều đã được kiểm chứng bằng thực tế, và nhất là vì kể cả khi thất bại chúng ta cũng không cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thất bại ấy. Cứ như thế, chúng ta càng thiếu tin tưởng và không sử dụng nhân cách tự thân, thì nhân cách tự thân của chúng ta càng không được phát triển, bị quên lãng đi, và do đó càng trở nên thiếu tin cậy hơn. Vòng xoáy tiêu cực này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là chúng ta phó mặc hoàn toàn việc suy nghĩ, đánh giá và quyết định của bản thân cho thế giới bên ngoài.

Điều đầu tiên chúng ta có thể làm được để phá vỡ vòng xoáy đó là thường xuyên khẳng định sự tồn tại và thể hiện những nội dung của nhân cách tự thân một cách rõ ràng bằng ngôn từ, hành động, hay ít nhất là suy nghĩ. Kể cả khi hoàn cảnh khiến cho chúng ta đưa ra những quyết định hay hành động trái ngược với mong muốn, chúng ta cũng nên lắng nghe tiếng nói của nhân cách tự thân, tôn trọng ý kiến đó, và nhận trách nhiệm hoàn toàn với từng quyết định hay hành động cuối cùng của mình. Điều đó đơn giản có nghĩa là: tôi biết thực sự mình thích gì và muốn gì, nhưng trong trường hợp này tôi tự lựa chọn việc làm trái với những điều đó bởi những lý do mà tôi tự chấp nhận. Có thể sẽ có người cho rằng đây là một suy nghĩ kiểu AQ chủ nghĩa, nhưng cách suy nghĩ này sẽ giúp cho nhân cách tự thân được duy trì và trở nên mạnh mẽ hơn trong mọi hoàn cảnh kể cả là khắc nghiệt và tù túng.

Mở rộng ra, trong mọi trường hợp chúng ta đều nên hướng tới việc lấy nhân cách tự thân làm chuẩn mực để đánh giá và đưa ra quyết định cho bản thân, kể cả khi điều đó có thể khiến cho một số lợi ích vật chất hay trước mắt khác bị ảnh hưởng ở một mức độ nhất định. Việc cân bằng giữa sự tôn nghiêm của nhân cách tự thân với các lợi ích vật chất và tinh thần khác như thế nào là việc mỗi người nên tự suy nghĩ và quyết định lấy, vì đó cũng là một phần của nhân cách tự thân. Tuy nhiên, một khi chúng ta cảm thấy một giá trị cốt lõi nền tảng của nhân cách tự thân bị đe dọa, nhất là khi đó là một nguyên tắc đạo đức tối cao của bản thân, thì rất có thể đó là lúc chúng ta cần phải đứng lên khẳng định và bảo vệ nhân cách của chính mình bằng mọi giá, vì sự phản bội nghiêm trọng một giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân là một quyết định mà trong đa số trường hợp sẽ khiến chúng ta day dứt và hối hận cho đến mãi về sau.

c. Chú ý

Trong quá trình xây dựng nhân cách tự thân, có hai điểm mà chúng ta cần phải chú ý. Thứ nhất, đó là mọi nội dung của nhân cách tự thân đều cần phải có tính chân thực, tức là xuất phát từ những cảm xúc và suy nghĩ thực sự tự nhiên và tự do của bản thân. Nói cách khác, chúng ta nên trung thực với chính mình. Chúng ta không nên xây dựng nhân cách chỉ để hòa đồng, để khác người, hay vì bất cứ mục đích nào khác. Sự độc đáo khác biệt, hay bất cứ lợi ích gì khác nếu có, chỉ nên là hệ quả phụ của việc khám phá và xây dựng nhân cách mà thôi. Vị kem mà bạn thích có thể đơn giản là “vị gì cũng được”, miễn là bạn thực sự nghĩ như vậy, chứ không nên là “khoai môn cam chanh thêm sầu riêng” chỉ vì mọi người xung quanh đều thích vanila. Việc xây dựng nhân cách với một mục đích khác ngoài mục đích hoàn thiện nhân cách bản thân cũng chính là một biểu hiện của nhân cách tiêm nhiễm, vì khi đó nhân cách tự thân đã không còn là chuẩn mực đánh giá cao nhất nữa.

Thứ hai, chúng ta nên thận trọng đối với từng lời nói, hành động và quyết định của bản thân. Con người nhìn chung đánh giá cao và đòi hỏi ở nhau một sự thống nhất ở một mức độ nhất định trong lời nói và hành động. Và do đó trong mỗi cá nhân đều có một nhu cầu, hay đúng hơn là sự thôi thúc, phải đưa ra những hành vi thống nhất ở mức nào đó với những gì mình đã nói hay làm trong quá khứ. Nói theo một cách khác, từng lời nói, từng hành động, từng suy nghĩ của chúng ta đều có tác dụng định hướng nhân cách của chúng ta theo một cách nhất định, dù có thể đó không phải điều chúng ta mong muốn. Một khi chúng ta đã thể hiện một nhân cách nhất định trong một môi trường bên ngoài nào đó, thì áp lực từ môi trường ấy, dù là có thực hay tưởng tượng, sẽ luôn tìm cách trói buộc chúng ta vào nhân cách đó. Nếu như nhân cách được thể hiện không đúng với nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta đã tự tạo ra và khóa mình vào một nhân cách giả tạo, cho đến khi nào chúng ta có thể trốn thoát khỏi môi trường ban đầu, hoặc có đủ sự dũng cảm để trút bỏ nhân cách ấy.

Chúng ta hãy lấy một ví dụ đơn giản về một người giáo viên trước mặt học sinh luôn tỏ vẻ, hay thậm chí tin tưởng, rằng mình biết nhiều hơn học sinh, đúng hơn học sinh, và đáng được học sinh tôn trọng. Khi đó, áp lực từ xung quanh, mà trong trường hợp này chúng ta thường gọi là sự sĩ diện, sẽ khiến cho người giáo viên đó không thể chấp nhận được rằng mình có thể biết ít hơn học sinh, không đúng bằng học sinh, hay không được học sinh tôn trọng, kể cả khi đó là sự thật. Sự mâu thuẫn giữa hình ảnh về bản thân trong tâm trí với bản thân của hiện thực sẽ tạo nên sự xung đột trong nội tâm người giáo viên, khiến người đó cảm thấy mất khả năng kiểm soát đối với cuộc sống, và chỉ có thể được giải quyết khi người đó chịu từ bỏ nhân cách giả tạo của mình. Chính vì lẽ đó, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta nên chủ động trung thực với chính mình: nếu bạn ích kỷ, hãy nói rằng mình ích kỷ, nếu bạn ganh tị, hãy nói rằng mình ganh tị, nếu bạn kém cỏi, hãy nói rằng mình kém cỏi,… Điều này sẽ giúp cho tâm lý của chúng ta được thoải mái hơn rất nhiều.


Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhân cách là một khái niệm có vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tinh thần của mỗi con người. Có thể nói rằng, nhân cách là sự tổng hợp tất cả “tính người” của một cá nhân, là phần “người” trong “con người”. Nhân cách tự thân, song hành cùng với ý chí tự do, là điều làm nên sự khác biệt giữa một con người với một cỗ máy hay một con vật. Tuy nhiên, nếu như không được để ý phát hiện, xây dựng, bảo vệ và sử dụng thì nhân cách tự thân của chúng ta có thể sẽ trở nên yếu ớt, lép vế trước sự xâm lấn của nhân cách tiêm nhiễm. Nếu như chúng ta để cho nhân cách tiêm nhiễm lấn át hoàn toàn nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta tự đánh mất bản sắc con người cùng với những suy nghĩ và cảm xúc chân thực của bản thân, và quan trọng hơn cả là đánh mất tự do tư tưởng của chính mình.