Chủ quan và khách quan

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết chịu ảnh hưởng từ cuốn sách “Zen and The Art of Motorcycle Maintenance: An Inquiry into Values” của Robert M. Pirsig, “Philosophy of Science: A Very Short Introduction” của Samir Okasha, và “Beyond Good and Evil” của Friedrich Nietzsche.

1. Chủ quan và khách quan

“Chủ” (主) hay còn đọc là “chúa”, ngoài nghĩa thường thấy là làm chủ, đứng đầu, nắm quyền (lãnh chúa, địa chủ, chủ nhiệm), còn có thể được dùng để thể hiện hàm ý “tự mình” hay “bên trong” (chủ trương, chủ động). Ngược lại, “khách” (客) ngoài các nghĩa thông thường như người mua, người đến chơi nhà, người làm công việc gì đó (khách hàng, khách sạn, chính khách), cũng có thể được dùng với nghĩa rộng hơn chỉ những yếu tố “không phải tự mình” hay “bên ngoài” (đất khách, sân khách). Nói cách khác, “chủ” và “khách” có thể được dùng để nói về hai phía “trong” và “ngoài” của một ranh giới nào đó. Với “quan” (観) có nghĩa là nhìn (quan sát, thế giới quan), chúng ta có thể hiểu “chủ quan” là “góc nhìn từ bên trong”, và “khách quan” là “góc nhìn từ bên ngoài”, mà ở đây “nhìn” là một sự nhận thức, quan sát hoặc đánh giá, và “trong ngoài” là đối với ranh giữa thế giới ý thức con người (trong) và thế giới vật chất xung quanh (ngoài).

Tại sao lại cần phải phân biệt giữa “chủ quan” và “khách quan”? Đó là vì mọi sự nhận thức, quan sát hay đánh giá về mọi sự vật sự việc đều có tính tương đối, tức chỉ có ý nghĩa khi so sánh với một hệ quy chiếu nào đó làm tiêu chuẩn. Khi chúng ta “nhìn” một sự vật sự việc “từ bên trong”, thì bản thân chúng ta cũng là một phần của hệ quy chiếu. Hệ quy chiếu bản thân đó bao gồm rất nhiều yếu tố, và có thể được chia ra một số phân loại chính là giác quan, cảm xúc, tri thức, giá trị quan, suy nghĩ logic và suy nghĩ trực giác. Một người ăn một chiếc bánh ngọt sẽ chỉ thấy “ngọt” nếu như vị giác (giác quan) của người đó cảm nhận vị bánh là ngọt, và sẽ chỉ thấy cái bánh “ngon” nếu như vị ngọt đó phù hợp với khẩu vị (nhân cách) của bản thân. Hai con người khác nhau, với cơ thể, nhân cách và năng lực tư duy khác nhau, sẽ có thể có cách “nhìn” rất khác nhau về cùng một sự vật sự việc, hay rộng là cùng một thế giới xung quanh.

Từ đó, một người có thể đặt ra câu hỏi rằng cái chúng ta “nhìn” thấy có thực sự tồn tại hay không, và có tồn tại đúng như những gì chúng ta đang “nhìn” thấy hay không? Hay là phải chăng, khi đi qua màng lọc của hệ quy chiếu cá nhân của người quan sát, thì sự vật sự việc đã bị biến tướng đi, trở nên khác đi so với chính nó khi chưa được quan sát, giống như một người mù màu nhìn thế giới? Mặt khác, nếu như mỗi người quan sát thế giới lại cho ra những kết quả có thể khác nhau, tức là cho ra những “sự thật” có thể khác nhau, thì làm sao chúng ta có thể có được một tiêu chuẩn chung, một mặt bằng chung để giao tiếp với nhau? Câu trả lời hợp lý nhất, dĩ nhiên, là chúng ta cần tìm hiểu xem thế giới xung quanh chúng ta thực sự sẽ thế nào khi được quan sát không bằng “mắt người”, mà bằng một con mắt khác độc lập với tất cả mọi con người, một con mắt “khách quan”.

Và có lẽ từ những suy diễn đại loại như trên, mà ngày nay chúng ta có khái niệm “khách quan” được định nghĩa trong từ điển là 1. chỉ cái gì đó tồn tại ngoài ý thức con người, 2. chỉ thái độ nhận xét sự vật căn cứ vào sự thực bên ngoài (theo Wikitionary), hay 3. chỉ một tình trạng hay tính chất đúng đắn mà không cần tới hay không phụ thuộc vào những thiên kiến, diễn giải, cảm xúc hay tưởng tượng của chủ thể, tức là người quan sát và đánh giá (theo Wikipedia). Ngược lại, “chủ quan” được hiểu là ngược lại với “khách quan”, tức là chỉ tính chất phụ thuộc vào ý thức của con người, vào hệ quy chiếu của người quan sát và đánh giá. Hiểu theo một cách khác, một đánh giá hay lập luận mang tính “khách quan” sẽ phản ánh chính xác sự vật sự việc như nó vốn thế, và tuân theo các quy luật của thế giới tự nhiên chứ không phải của con người.

2. Tính khả dĩ của khách quan

Với định nghĩa như vậy, thì con người chúng ta liệu có thể đạt đến được một sự “khách quan” đúng nghĩa hay không? Câu trả lời ngắn gọn là “không thể và không bao giờ”. Như đã đề cập ở trên, để nhận thức được về thế giới xung quanh, con người buộc phải trải qua quá trình bắt đầu từ việc dùng giác quan hoặc cảm xúc để quan sát và tiếp nhận dữ liệu (hình ảnh, âm thanh, cảm giác,…), sau đó dùng tri thức hoặc nhân cách làm cơ sở tham chiếu, cùng với suy nghĩ logic hoặc trực giác làm công cụ, để xử lý dữ liệu thành thông tin (xác định sự vật sự việc và thuộc tính), và cuối cùng là có thể đi đến một kết luận nào đó (đánh giá hoặc quyết định). Quá trình đó gắn bó mật thiết và không thể tách rời khỏi hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát. Do vậy, một sự nhận thức hay đánh giá “khách quan” tuyệt đối, theo nghĩa hoàn toàn không phụ thuộc vào bất cứ một yếu tố con người nào, về căn bản là điều không thể đạt đến được, ít nhất là trong hoàn cảnh hiện tại.

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là hiện thực khách quan không hề tồn tại. Từ những trải nghiệm hàng ngày trong quá khứ và hiện tại, chúng ta dễ dàng có đủ căn cứ để tin tưởng vào sự tồn tại của một hiện thực khách quan chung cho toàn bộ nhân loại, tồn tại độc lập với ý thức của con người. Tuy nhiên, chúng ta không có cách nào quan sát và nhận thức được hiện thực ấy mà không phải đi qua “màng lọc” chủ quan ở một khâu nào đó. Mọi nhận thức và hiểu biết về sự tồn tại của một hiện thực khách quan, cũng như các nội dung và thuộc tính của nó, sẽ luôn hoặc là kết quả của niềm tin, hoặc là kết luận của một phép suy luận quy nạp, và do vậy không thể được đảm bảo là đúng đắn hoàn toàn. Mà kể cả nếu chúng ta có thể đưa ra được một phép suy luận diễn dịch để chứng minh cho tính khách quan của hiện thực đi nữa, thì chẳng phải bản thân suy luận diễn dịch cũng là một phần của ý thức con người, tức cũng là một yếu tố chủ quan hay sao?

Chúng ta hãy thử lấy một vài ví dụ thực tế khác. Nếu có ai đó nói rằng tháp Eiffel rất cao, thì tức là người đó đã dựa vào một tiêu chuẩn “cao” chủ quan. Một người khổng lồ cỡ đỉnh Himalaya sẽ không thấy vậy. Nếu người đó nói tháp Eiffel cao 324m, thì tức là người đó đã dựa vào một niềm tin chủ quan về độ chính xác của thông tin đến từ người khác. Nhỡ đâu thông tin mà người đó đọc được là sai thực tế thì sao? Còn nếu người đó tự mình đo đạc hay tính toán ra độ cao của tháp, thì tức là người đó đã dựa vào các yếu tố chủ quan là phương pháp đo đạc và những gì mình quan sát được bằng mắt. Nhỡ đâu phương pháp của người đó sai, hay người đó nhìn nhầm thì sao? Nhỡ đâu thế giới mà chúng ta đang nhìn thấy chỉ là một ảo giác khổng lồ, giống như thế giới được tạo ra bởi một chương trình máy tính giả lập như trong bộ phim Ma trận thì sao?

Lý luận tương tự cũng có thể được dùng để đặt nghi vấn đối với phần lớn tri thức khoa học của con người. Thực tế là các thành quả nghiên cứu khoa học đều là kết quả của suy luận quy nạp, cụ thể là dựa trên một số lượng hữu hạn các thí nghiệm thành công. Dù cho số lượng thí nghiệm có lên đến hàng nghìn hàng vạn đi nữa, thì điều đó vẫn không thay đổi được việc chúng ta không thể loại bỏ được hoàn toàn các khả năng trái ngược, và do đó không thể đi đến được một khẳng định chắc chắn 100% theo tiêu chuẩn của logic, chứ chưa nói đến theo quy luật khách quan của tự nhiên. Tất nhiên, trong thực tế chúng ta vẫn chấp nhận các kết quả khoa học, vì việc chứng minh chúng theo nghĩa nghiêm ngặt nhất của từ “chứng minh” là cực kỳ tốn kém và có lẽ là bất khả thi, vì các kết quả khoa học vẫn đang phục vụ tốt cho lợi ích của chúng ta, và vì chúng ta thấy các phương pháp khoa học là đủ tin tưởng. Nhưng chẳng phải bản thân sự chấp nhận đó cũng là chủ quan hay sao?

3. Khách quan một cách tương đối

Nếu như một sự “khách quan tuyệt đối” là không thể đạt đến được, vậy thì “khách quan” mà chúng ta vẫn thường nhắc đến trong cuộc sống hàng ngày là gì? Câu trả lời hiển nhiên là: đó là một sự “khách quan tương đối”. Tương đối với cái gì? Tương đối với những yếu tố chủ quan còn lại. Hay nói đúng hơn, sự khách quan mà chúng ta vẫn thường nói đến về bản chất vẫn chỉ là sự chủ quan, nhưng trong một hệ quy chiếu chủ quan nhất định nào đó thì nó có vẻ, và do đó có thể được đánh giá là khách quan. Như đã nói trong bài viết về tính tương đối, mọi đánh giá, suy luận, quyết định của con người đều dựa trên một số tiền đề nhất định nào đó. Các tiền đề này có thể được chia làm hai loại: 1. được diễn đạt rõ ràng, hoặc 2. được ẩn chứa ngầm. Một mệnh đề có thể trở nên khách quan một cách tương đối, nếu như toàn bộ các tiền đề của nó, dù có ý thức được hay không, đều đã được diễn đạt kèm theo một cách rõ ràng, hoặc được chấp nhận một cách mặc định trong hệ quy chiếu chủ quan dùng để đánh giá. Số lượng tiền đề ẩn được sử dụng nhưng không được mặc nhiên chấp nhận càng nhiều, thì tính khách quan của phát biểu được đánh giá càng thấp và ngược lại.

Các đánh giá, suy luận hay quyết định có tiền đề kèm theo thường có dạng P(hát biểu) = “nếu T(iền đề) thì K(ết luận)”, trong đó T là tiền đề của K. Khi được viết theo cách như trên, P mang ý nghĩa khẳng định “trong mọi trường hợp có thể có mà T đúng thì K cũng sẽ đúng”, tức là phạm vi khẳng định đã được thu hẹp đi so với việc khẳng định K đúng tuyệt đối. Khi đó, việc cá nhân người đánh giá có chấp nhận T hay không trên lý thuyết không ảnh hưởng tới giá trị chân lý của K bên trong P nữa, vì trong hệ quy chiếu giả định của P đặt ra thì T luôn luôn đúng. Người đánh giá có thể vừa chấp nhận rằng K đúng với điều kiện T, vừa không chấp nhận T đúng và gián tiếp qua đó không chấp nhận K đúng, mà không hề tự mâu thuẫn. Như vậy, có thể nói rằng khi được phát biểu dưới dạng P thì tính đúng đắn của K đã bớt đi được sự phụ thuộc vào kết quả đánh giá chủ quan của T, và do đó K đã trở nên khách quan hơn so với khi không có tiền đề phát biểu đi kèm.

Dĩ nhiên, không phải mọi tiền đề được diễn đạt đều có dạng “nếu thì”. Một ví dụ là các phát biểu dạng “tôi nghĩ”, “tôi thấy”, trong đó tiền đề được nói đến là toàn bộ hệ quy chiếu cá nhân của người phát biểu. Những phát biểu như vậy có thể được hiểu là “nếu như chúng ta chấp nhận những điều tôi nghĩ là đúng, thì …”, và do đó tương tự như trên, chúng mang tính khách quan hơn so với việc đơn thuần khẳng định kết luận cuối cùng. Một cách diễn đạt tiền đề khác thường thấy trong khoa học là việc nêu ra đầy đủ các phương pháp đã được sử dụng trong một nghiên cứu khoa học, cũng như những hạn chế về tính khách quan có thể có trong những phương pháp đó và ở chính những người làm nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là những kết luận của nghiên cứu khoa học đó chỉ được khẳng định là đúng với điều kiện các phương pháp đã sử dụng được chấp nhận và những hạn chế đã nêu ra được bỏ qua.

Bên cạnh những tiền đề được diễn đạt rõ, những tiền đề dạng ẩn cũng có thể tồn tại ở khắp mọi nơi và trong từng phát biểu. Ví dụ như trong hai đoạn văn trên thì logic được sử dụng là một tiền đề ẩn: một người có logic khác với tôi có thể sẽ không thấy kết luận “K trở nên khách quan hơn khi được phát biểu dưới dạng P” là khách quan. Trong thực tế, các tiền đề được diễn đạt rõ, nếu có, cũng chỉ là phần ngọn của tảng băng chìm. Các tiền đề ẩn mới là phần chính yếu làm nên nền tảng cho mọi đánh giá, suy luận và quyết định của con người, cả bằng lý trí lẫn trực giác. Một ví dụ kinh điển là tiền đề ẩn rằng những gì chúng ta đang cảm nhận thấy bằng các giác quan là thực sự thuộc về hiện thực khách quan. Một ví dụ khác là suy nghĩ rằng khi di chuyển để tiến về phía trước thì phải đạp về phía sau, một tiền đề mà chúng ta chỉ có thể ý thức được khi lần đầu tiên đi trượt patin hay đứng trên băng trơn.

Phần lớn các tiền đề được mặc định ngầm là những tư tưởng và niềm tin đã ăn sâu vào trong ý thức của chúng ta, thậm chí là ở mức độ tiềm thức, có nghĩa là bản thân chúng ta cũng không ý thức được mình đang sử dụng những tiền đề đó. Mà một khi đã không được ý thức, thì đối với chúng ta những tiền đề đó là không tồn tại. Do đó, những phát biểu dựa trên những tiền đề ấy trong mắt chúng ta sẽ dường như không phụ thuộc vào hệ quy chiếu chủ quan của bản thân, tức là trở nên “khách quan”. Số lượng những tiền đề ăn sâu như vậy ở một con người càng nhiều và mức độ ăn sâu càng cao thì phạm vi tư duy của người đó càng bị thu hẹp, tức là người đó càng khó nghĩ đến những khả năng và kết luận đi ngược lại những tiền đề mặc định của mình. Nhưng mặt khác, người đó lại rất có thể sẽ có sự tự tin mãnh liệt hơn vào những tư tưởng và niềm tin của bản thân, vì những điều đó không phải là thứ họ đã chủ động lựa chọn một cách có ý thức, mà là những điều “hiển nhiên” của một “hiện thực khách quan” trong mắt của riêng họ.

4. Để khách quan trong cuộc sống

Trước khi đi vào việc làm thế nào để trở nên khách quan hơn, chúng ta cần nghĩ về việc tại sao chúng ta lại nên/cần/phải khách quan hơn. Trước hết, một phát biểu khách quan sẽ dễ được chấp nhận hơn một phát biểu chủ quan, vì số lượng tiền đề ẩn mà người nghe buộc phải chấp nhận một cách có ý thức để có thể chấp nhận được phát biểu đó sẽ ít hơn. Do vậy, sự khách quan là một thành tố của năng lực thuyết phục, một năng lực quan trọng trong cuộc sống xã hội. Ngoài ra, cho dù rằng một sự khách quan tuyệt đối là điều không thể đạt đến được, nhưng việc luôn luôn hướng tới sự khách quan trong cuộc sống sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn tới việc tìm ra và tuân theo các quy luật khách quan của thế giới tự nhiên, từ đó có thể đem lại lợi ích cho bản thân chúng ta trong nhiều mặt, mà kho tàng tri thức khoa học ngày nay là một ví dụ.

Quay trở lại đầu đề, trong thực tế cuộc sống, khi một người cảm thấy lời một người khác nói là “khách quan”, thì rất có thể đơn giản là lời nói đó dựa trên những tiền đề ẩn mà cả hai người đều cùng mặc định chấp nhận. Hay nói cách khác, trong trường hợp đó người nghe có hệ quy chiếu cá nhân tương tự với người nói trong phạm vi vấn đề được nói đến. Nói rộng ra, trong một cộng đồng người nhất định, sự khách quan về bản chất là sự phục tùng theo hệ quy chiếu chủ quan chung của cộng đồng đó. Điều này có thể thấy ở bất cứ cộng đồng nào, nhưng có lẽ dễ thấy nhất là cộng đồng những người làm khoa học. Đa số các nhà khoa học hiện nay có những quy ước chung để đánh giá một phát biểu khoa học có phản ánh đúng hiện thực khách quan hay không, ví dụ như các bằng chứng có thể quan sát và kiểm chứng được bằng giác quan (empirical evidence). Ngược lại, khi chúng ta cảm thấy lời nói của ai đó là chủ quan, điều đó thường có nghĩa là chúng ta đã phát hiện ra một tiền đề ẩn nào đó của đối phương mà không được hệ quy chiếu cá nhân của chúng ta chấp nhận một cách mặc định, dù chúng ta có ý thức được điều đó hay không.

Như vậy, nếu như chúng ta muốn lời nói của bản thân trở nên khách quan hơn trong mắt người khác, chúng ta cần làm hai điều: 1. xác định phạm vi tương đồng của hệ quy chiếu chủ quan giữa chúng ta và người nghe, và 2. diễn đạt rõ ràng những tiền đề nằm ngoài phạm vi tương đồng nói trên. Nếu lấy ví dụ trong toán học, thì có thể ví tập tất cả các tiền đề chúng ta cần sử dụng cho một lời phát biểu là một số tự nhiên X, còn hệ quy chiếu cá nhân của người nghe là số tự nhiên Y. Khi đó bước 1 là việc tìm ra một ước số chung U giữa X và Y, còn bước 2 là nhân U với một số nguyên R để có được X, trong đó R đại diện cho tập con các tiền đề cần phải được diễn đạt rõ ràng trong số các tiền đề được sử dụng. Dĩ nhiên, U càng lớn thì R sẽ càng nhỏ, tương đương với việc số lượng tiền đề và lập luận kết nối mà chúng ta cần phải trình bày để đi đến kết luận cuối cùng mà vẫn giữ được tính khách quan trong mắt người nghe sẽ càng nhỏ.

Đến đây thì chúng ta có thể thấy được lý do chính của việc vì sao các kết luận được đưa ra bởi khoa học lại thường được xem là có tính khách quan cao. Đó là vì khoa học dựa trên một số lượng tương đối ít các tiền đề ẩn ở một mức độ tương đối thấp trong hệ quy chiếu cá nhân của con người. Con người có thể có những suy nghĩ bậc cao rất phong phú và khác biệt, nhưng tuyệt đại đa số đều sở hữu chung một số bản năng và tiềm thức giống nhau, có nguồn gốc từ việc cùng chung giống loài cũng như việc sinh sống trong cùng một môi trường. Cụ thể, đó là năng lực của các giác quan cũng như niềm tin vào sự chân thực của chúng, niềm tin vào một thế giới ổn định vận hành theo những quy luật bất biến, cũng như những khái niệm và cảm giác về số lượng, logic, nhân quả,… Chúng ta có thể tranh cãi về chuyện món ăn nào ngon hơn, nhưng sẽ không mấy người tranh cãi việc một thiết bị đo đạc hiển thị con số bao nhiêu, hay 1 cộng 1 có bằng 2 hay không. Điều này, cùng với các phương pháp khoa học được thiết lập và diễn đạt rõ ràng, đem lại tính khách quan cao cho khoa học trong mắt đại đa số người.

Tương tự như đối với khoa học, để có thể đi đến được một kết luận khách quan đối với người nghe, chúng ta cần hạn chế các tiền đề ẩn của bản thân ở một mức độ có thể đạt được sự mặc nhận lớn nhất. Chúng ta có thể sử dụng những hệ quy chiếu chủ quan như truyền thống, văn hóa, đạo đức. Nhưng một kết luận dựa trên những tiền đề mang tính phổ quát hơn và rõ ràng hơn của nhân loại ngày nay như quyền tự do cá nhân hay sự trao đổi công bằng thường sẽ được chấp nhận một cách dễ dàng và rộng rãi hơn. Lượng hóa sự đánh giá cũng là một phương pháp để đạt được sự khách quan: “ánh sáng có bước sóng trong khoảng 620–740mm” sẽ khách quan hơn “màu đỏ”, vì nó không còn phụ thuộc vào cảm giác chủ quan về màu sắc của người nói. Trong việc dạy con, một sự phân tích các hệ quả của từng sự lựa chọn sẽ có tính khách quan hơn, và do đó dễ được chấp nhận hơn, một sự cấm đoán hay bắt ép đơn thuần, vì nó không phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của cha mẹ về việc cái gì là điều con cái nên/cần/phải làm. Tất nhiên, việc giải thích càng rõ ràng càng tốt các tiền đề, cũng như sử dụng những suy luận có tính logic là điều không thể thiếu.

Một điều kiện tiên quyết để thực hiện được những điều nói trên là bản thân chúng ta cũng phải có khả năng nhận thức được những tiền đề ẩn chứa trong từng lời nói của bản thân, cũng như sự khác biệt trong hệ quy chiếu chủ quan giữa bản thân và những người xung quanh. Nếu không, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng tưởng rằng những gì mình nói là điều hiển nhiên và khách quan, trong khi nhìn từ những người xung quanh đó lại là những ý kiến mang nặng tính chủ quan, thiên kiến và hẹp hòi. Một sự vật sự việc chỉ có thể được nhận thức, nếu như tồn tại một sự vật sự việc khác biệt với nó để làm đối tượng so sánh. Do đó, để có thể nhận thức được chính mình, không có cách nào khác là chúng ta cần quan sát và tiếp xúc với nhiều hệ quy chiếu chủ quan khác biệt với bản thân. Điều này có thể được thực hiện bằng cách tự đặt bản thân trong vào môi trường mới lạ, với những con người mang văn hóa, truyền thống và phong tục khác biệt với chúng ta.

Nói theo một cách khác, nếu như chúng ta ở trong một môi trường mà tất cả mọi người xung quanh đều có chung những ý kiến, tiêu chuẩn, tư tưởng, thói quen giống nhau, thì những điều đó rất có thể sẽ trở thành những “sự thật khách quan” hiển nhiên mà chúng ta không có cách nào nhận thức được sự tồn tại của chúng. Và tất nhiên, chúng ta cũng sẽ không thể nhận ra được điều gì nếu như khi tiếp xúc với những hệ quy chiếu khác biệt, chúng ta lại mặc định coi chúng là “xấu xa”, “trái đạo đức/tự nhiên” và “cần phải loại bỏ” chỉ vì chúng khác biệt, thay vì nghĩ rằng chúng có thể là một sự thay thế tương đương cho những gì mà mình vẫn coi là điều hiển nhiên. Như vậy, sự đa dạng trong tư tưởng và văn hóa, cũng như việc chấp nhận tính đa dạng đó, bên cạnh việc là nguồn gốc cho sự sáng tạo, còn là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự khách quan của mỗi con người.


Khách quan là chỉ tính chất của một sự vật sự việc không phụ thuộc vào hệ quy chiếu của cá nhân người quan sát và đánh giá. Tuy một sự khách quan tuyệt đối trong lời nói và tư tưởng là không thể đạt đến, nhưng một sự khách quan tương đối có thể đạt được nếu các tiền đề được sử dụng đều được mặc định chấp nhận hoặc được trình bày rõ ràng. Và tuy rằng nó giúp chúng ta nâng cao khả năng thuyết phục người khác và truy tìm chân lý, nhưng khách quan không phải một thứ tự thân nó “tốt đẹp” hay “tích cực”. Sự khách quan chỉ tốt đẹp trong chừng mực nó có ích cho chúng ta. Xét cho cùng, con người sống là vì mình, và để làm được điều đó thì tất cả mọi sự đánh giá, quyết định, hành động của chúng ta cuối cùng vẫn phải dựa trên hệ quy chiếu chủ quan của bản thân ở một mức độ nào đó. Việc nhận thức được và xây dựng nên một sự hiểu biết hoàn thiện và rõ ràng về hệ quy chiếu chủ quan của chính mình, hay cũng chính là nhân cách tự thân, để trong mỗi tình huống có thể đưa ra được những đánh giá và quyết định chủ quan có lợi cho bản thân dựa trên những thông tin “khách quan” là một điều rất quan trọng. Và điều đó cũng sẽ dẫn tới một sự khách quan hơn trong thế giới quan của mỗi người.

Bàn về “đạo đức”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả. Bài viết có sử dụng thuyết sáu bậc phát triển đạo đức của Lawrence Kohlberg.

Chúng ta thường đánh giá rất cao một thứ gọi là “đạo đức”. Chúng ta ca ngợi những người chúng ta cho là có “đạo đức”, ca ngợi việc rèn luyện “đạo đức”, đồng thời miệt thị những người chúng ta cho là không có “đạo đức”. Chúng ta hay làm như thể trên thế gian này tồn tại một thứ “đạo đức” quy định sẵn rõ ràng như sách giáo khoa, và ai ai cũng nên/cần/phải “học tập” kỹ năng đó vậy. Cá nhân tôi không nghĩ như vậy, và trong bài viết này tôi sẽ nói về suy nghĩ của bản thân mình về khái niệm “đạo đức”.


1. Đạo đức là gì

Chữ “đạo” (道) nghĩa là “con đường”, chỉ những quy luật khách quan chi phối sự vận hành của mọi vật trong vũ trụ. Chữ “đức” (德) thể hiện năng lực nắm bắt và vận dụng những quy luật khách quan đó. Nói một cách đơn giản, “đạo đức” là năng lực hiểu và làm theo quy luật khách quan của vũ trụ. Người có “đạo đức”, đơn giản là người biết được vũ trụ, hẹp hơn là xã hội và con người vận hành ra sao, theo những quy luật nào, từ đó biết cách ăn ở, sinh sống cho phù hợp với những quy luật đó.

Nói là như vậy, nhưng như tôi đã nói ở một bài viết trước, chúng ta không ai có thể biết được sự thật khách quan, vì mọi sự quan sát đều là chủ quan. Do đó, thế nào là “quy luật khách quan của vũ trụ” thì mỗi người lại có thể có một cách hiểu khác nhau. Như tôi vẫn luôn nói, mọi thứ đều có tính tương đối, và “đạo đức” cũng không ngoại lệ. Chưa nói đến giữa chúng ta với nhau, mà cả những bậc thánh hiền như Jesus, Đức Phật hay Khổng Tử cũng đều có cái nhìn khác nhau về khái niệm “đạo đức”. Bởi vậy, nếu có một ai đó khẳng định rằng mình biết thế nào là “đạo đức tuyệt đối” mà tất cả mọi người đều phải tuân theo, thì tức là người đó đã tự đặt bản thân cao ngang hàng hay hơn cả các bậc thánh hiền, và cá nhân tôi nghĩ là người đó nên tự xem lại mình.

Khác với “đạo đức tuyệt đối”, “đạo đức tương đối” tồn tại dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh và cách nhìn của những người mang đạo đức đó: đạo đức của Phật giáo, đạo đức của Thiên Chúa giáo, đạo đức của Nho giáo, đạo đức của đàn ông và đạo đức của đàn bà, đạo đức của tư sản và đạo đức của cộng sản, đạo đức của anh và đạo đức của tôi,… Mỗi đạo đức tương đối đều chỉ có giá trị trong những phạm vi nhất định. “Đạo đức” mà mỗi người chúng ta thường nói đến chỉ là một hoặc một vài trong số vô vàn những đạo đức tương đối này mà thôi.

2. Đạo đức cộng đồng

Đạo đức mà chúng ta thường dễ dàng thấy nhất có lẽ là đạo đức của cộng đồng mà chúng ta sinh sống. Cộng đồng đó có thể nhỏ hẹp ở mức gia đình, họ hàng, làng xã, mà cũng có thể rộng lớn như cả một xã hội hay toàn thế giới. Đạo đức của cộng đồng thường có mục đích là nhằm duy trì trật tự trong cộng đồng, đảm bảo tất cả các thành viên cộng đồng có thể chung sống hòa bình với nhau. Đạo đức cộng đồng đôi khi cũng có mục đích nhằm giúp cho các thành viên cộng đồng đạt đến một mục đích chung nào đó, ví dụ như đạo đức của các tôn giáo có tổ chức. Người có “đạo đức” trong một cộng đồng, do vậy, là người biết cách sống một cách hòa hợp, không gây xung đột hay làm đảo lộn trật tự của cộng đồng đó.

Vì có mục đích như vậy, nên đạo đức cộng đồng thường được ghi chép lại dưới dạng văn bản hoặc truyền miệng như những bài học, thậm chí đôi khi còn được đưa thành luật lệ trong cộng đồng. Do nhu cầu về khả năng diễn đạt và sự thống nhất giữa các thành viên, nên đạo đức cộng đồng thường được đúc kết thành các giá trị đạo đức với tên gọi cụ thể, như sự khiêm tốn, lòng nhân ái, tính trung thực,… “Đạo đức” của một thành viên trong cộng đồng sẽ được đánh giá dựa trên một khung các giá trị đạo đức phổ biến trong cộng đồng đó, giống như giáo viên chấm điểm học sinh theo thang điểm vậy. Những thành viên “đạo đức yếu kém” thường sẽ phải chịu sự cô lập, chỉ trích, khinh miệt của các thành viên khác, hay thậm chí là bị loại bỏ khỏi cộng đồng.

Đạo đức cộng đồng có một vấn đề cố hữu. Đó là mỗi cộng đồng, xét cho cùng, cũng chỉ là một tập hợp các cá nhân. Mỗi cá nhân lại có thể có một cái nhìn khác nhau về đạo đức cộng đồng. Đó là chưa kể trong một cộng đồng lớn có thể tồn tại nhiều cộng đồng đan xen chồng chéo nhau. Mỗi cộng đồng đó lại có thể có một đạo đức của riêng cộng đồng mình. Do đó, cộng đồng càng lớn, đa dạng và lỏng lẻo thì đạo đức cộng đồng càng mù mờ thiếu rõ ràng, và thường cũng chỉ là một số ít giá trị đạo đức chung nhất. Khi một người, một nhóm người, hay thậm chí là số đông tự cho đạo đức của mình là tuyệt đối, đưa nó lên thành luật lệ của cộng đồng và tìm cách loại trừ hay tiêu diệt các thành viên không cùng ý kiến, thì chúng ta có đàn áp mang danh đạo đức.

3. Đạo đức cá nhân

Khác với đạo đức cộng đồng, đạo đức cá nhân chỉ giới hạn trong phạm vi suy nghĩ của mỗi cá nhân chúng ta. Đạo đức cá nhân thể hiện cách nhìn chủ quan của chúng ta về quy luật vận hành khách quan của tự nhiên, xã hội và con người. Nó là tập hợp các nguyên tắc sống mà chúng ta cho là “hợp lý” nhất, tức là tuân thủ theo những quy luật khách quan trong mắt chúng ta. Những nguyên tắc sống này là một phần trong các tiêu chuẩn mà chúng ta sử dụng để đưa ra các quyết định trong cuộc sống. Đạo đức cá nhân có thể biến đổi theo sự trưởng thành trong tư duy cũng như các biến cố xảy ra trong cuộc đời của chúng ta. Tuy nhiên, nhìn chung thì đạo đức cá nhân có tính ổn định tương đối trong một khoảng thời gian nhất định.

Do thường được hình thành trong một khoảng thời gian dài và không liên tục, nên đạo đức cá nhân thường tồn tại dưới dạng các mảnh suy nghĩ rời rạc thay vì có tính hệ thống chặt chẽ. Đồng thời, do chúng ta ít khi có nhu cầu diễn đạt đạo đức của mình bằng ngôn ngữ, nên đạo đức cá nhân thường tồn tại dưới dạng các nguyên tắc “tôi sẽ làm/sẽ không làm xyz” thay vì các giá trị đạo đức mang tên cụ thể. Nếu có chăng, thì chúng ta có thể sẽ so sánh đạo đức của mình với các giá trị đạo đức của cộng đồng, và ghép tên của các giá trị đó cho đạo đức của bản thân. Bởi vậy, cùng một giá trị đạo đức có thể sẽ mang ý nghĩa rất khác nhau trong suy nghĩ của hai cá nhân khác biệt.

Đạo đức cá nhân có nhiều mức độ phát triển, tùy vào sự trưởng thành của suy nghĩ. Ở mức độ đơn giản nhất, chúng ta làm hay không làm việc gì đó vì sợ bị trừng phạt hoặc vì sẽ được lợi trước mắt. Đây là cách suy nghĩ chủ yếu của trí não trẻ con, chưa hiểu nhiều về thế giới xung quanh mà chỉ chăm chăm vào bản thân mình. Một đứa trẻ ở mức độ này sẽ làm việc nhà vì được hứa thưởng tiền, và không vẽ bậy lên tường vì đã từng bị bố mẹ mắng mỏ. Ở mức độ phức tạp hơn, chúng ta làm hay không làm việc gì đó vì đó là luật lệ của cộng đồng, hoặc vì đạo đức cộng đồng đánh giá như vậy là “tốt”. Hầu hết chúng ta khi lớn lên đều đạt được đến mức độ này. Một người suy nghĩ ở mức độ này không vượt đèn đỏ vì đó là vi phạm luật pháp, và tỏ ra khiêm tốn vì mọi người bảo thế là tốt.

Cao hơn nữa, khi chúng ta sống có ý thức và suy ngẫm nhiều hơn, chúng ta sẽ đi đến những kết luận đạo đức của riêng mình thay vì du nhập từ bên ngoài. Khi đó, chúng ta sẽ làm hay không làm việc gì đó vì nó phù hợp với lợi ích sâu xa của chúng ta và với các nguyên tắc sống mà chúng ta tự đặt ra. Mức độ này có vẻ giống với mức độ thứ nhất, nhưng có sự khác biệt cơ bản là chúng ta ý thức được sự tồn tại của cộng đồng xung quanh cũng như lợi ích và tư tưởng của các thành viên khác. Mức độ này cũng khác với mức độ thứ hai ở chỗ chúng ta ý thức được rằng mình là một cá nhân tách biệt khỏi cộng đồng với lợi ích và tư tưởng riêng. Một người ở suy nghĩ ở mức độ này sẽ làm mọi việc vì lý do của riêng mình, dù là tuân thủ theo cộng đồng hay phá vỡ các luật lệ của cộng đồng.

Nói một cách đơn giản, nếu mức độ thứ nhất là “cái tôi tuyệt đối” thì mức độ thứ hai là “cái tôi phục tùng cộng đồng”, và mức độ thứ ba là “cái tôi độc lập trong cộng đồng”. Mức độ sau không nhất thiết là “đúng” hơn, “tốt” hơn mức độ trước, nhưng suy nghĩ của chúng ta nói chung thường trưởng thành theo trình tự ba mức độ đó. Việc trưởng thành nhanh hay chậm phụ thuộc vào tính cách và năng lực bẩm sinh, cũng như sự giáo dục và môi trường xung quanh. Thêm vào đó, chúng ta cũng không đột ngột “nhảy vọt” từ mức độ thấp hơn lên mức độ cao hơn, mà phát triển dần dần những suy nghĩ ở mức độ cao trong khi vẫn giữ nhiều suy nghĩ ở mức độ thấp.

4. Đạo đức và hạnh phúc

Tôi không biết chúng ta được sinh ra để làm gì, nhưng cá nhân tôi tin rằng tất cả chúng ta sống đều cùng vì một mục đích duy nhất: tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Các bậc thánh nhân và các nhà hiền triết truy tìm chân lý vì tin rằng sống theo chân lý sẽ được hạnh phúc. Các nhà từ thiện làm từ thiện vì tin rằng khiến người khác hạnh phúc thì mình cũng được hạnh phúc. Những người yêu tiền kiếm tiền vì tin rằng có tiền sẽ có hạnh phúc. Thậm chí những người định nhảy lầu tự tử làm vậy cũng vì tin rằng chết đi sẽ được hạnh phúc hơn.

Có thể nói rằng, tìm kiếm hạnh phúc là quy luật khách quan cao nhất, phổ quát nhất của con người. Đạo đức chung nhất, sâu xa nhất của con người, do đó, cũng sẽ đơn giản chỉ là “làm sao để có hạnh phúc” mà thôi. Nói cách khác, đạo đức của con người là nhằm phục vụ mục đích tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Sự khác biệt trong cách suy nghĩ về đạo đức đơn giản chỉ là sự khác biệt trong cách suy nghĩ về hạnh phúc và làm thế nào để có hạnh phúc. Người nghĩ rằng hạnh phúc là lợi ích trước mắt sẽ hành động vì lợi ích trước mắt bất kể các quy tắc đạo đức cộng đồng. Người nghĩ rằng hạnh phúc là được mọi người yêu quý tôn trọng sẽ chú ý tuân thủ theo đạo đức cộng đồng. Người tin theo hạnh phúc của Phật giáo sẽ tu tâm dưỡng tính và hành động theo những điều răn của Đức Phật.

Tuy nhiên, xét cho cùng thì hạnh phúc của chúng ta chỉ có bản thân chúng ta mới có thể đánh giá và chịu trách nhiệm được. Do vậy, đạo đức có ý nghĩa thực sự phải là thứ xuất phát từ những suy nghĩ chân thực bên trong chúng ta. Việc “dạy” đạo đức thường thấy thực chất chỉ là cố gắng áp đặt các giá trị đạo đức tương đối của cộng đồng hoặc của bản thân người “dạy” lên người được “dạy”. Không có gì đảm bảo rằng những giá trị đạo đức đó phù hợp với hạnh phúc của cá nhân người được “dạy”. Cái chúng ta có thể “dạy” được là chỉ ra mục đích sống “đi tìm hạnh phúc” của con người, và cách (mà chúng ta cho là) có thể đạt được đến hạnh phúc thực sự. Nếu người được “dạy” chấp nhận những điều đó, tự họ sẽ tạo nên những nguyên tắc đạo đức của riêng mình.


Như tôi đã nói, tôi không phải là một nhà đạo đức. Những điều tôi viết ở đây đơn giản là những gì tôi quan sát và học hỏi được, chứ không nhằm nói cái này “đúng” cái kia “sai”, hay kêu gọi ai phải làm một cái gì cụ thể. Có chăng, thì tôi nghĩ là chúng ta nên biết rằng đạo đức của bản thân nói riêng và mọi thứ đạo đức nói chung chỉ là tương đối, và do vậy không nên tìm cách áp đặt nó lên người khác nếu họ không muốn. Tôi cũng mong rằng khi nhận thấy bản chất thực sự của khái niệm “đạo đức”, chúng ta sẽ có thể tìm được những cách truyền đạt các giá trị đạo đức mà mình muốn truyền đạt sao cho hiệu quả hơn, dựa trên cơ sở tôn trọng người được truyền đạt. Xét cho cùng, việc tôn trọng cá nhân khác chẳng phải cũng là một giá trị đạo đức nên có hay sao?

Bàn về tính “tương đối”

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Người ta nói rằng, khi được yêu cầu giải thích Thuyết tương đối một cách dễ hiểu, Einstein đã kể một câu chuyện rằng một tiếng đồng hồ ngồi trên một đống than đỏ thì dài đằng đẵng, nhưng cũng một tiếng đồng hồ đó ngồi cạnh một cô gái đẹp thì lại chỉ như một phút chốc. Khi còn là học sinh, tôi thấy lời giải thích đó tuy dễ hiểu nhưng chẳng liên quan gì đến môn Vật lý hay công thức E=mc2 nổi tiếng cả. Đến bây giờ ngẫm lại, tôi lại thấy lời giải thích đó của Einstein mới là cái mà chúng ta nên quan tâm hơn là công thức mang tính biểu tượng kia.

1. Thế nào là “tương đối”

Một số nghĩa của chữ “tương” (相) thể hiện ý “lẫn nhau”, “với nhau” (tương tác, tương hỗ) và thể hiện sự so sánh (tương đương). Một số nghĩa của chữ “đối” (對) thể hiện sự hướng đến, chỉ đến (đối với), ngoài ra còn có nghĩa thể hiện sự tồn tại hai cái, thành cặp (đôi giày). Từ “tương đối” thường được sử dụng với vai trò bổ ngữ với hàm ý “trong sự so sánh với một vật khác”, đối nghĩa với “tuyệt đối” thể hiện ý “không cần vật so sánh”. Ví dụ khi ta nói một cái gì đó “tương đối tốt”, có nghĩa là ta muốn nói rằng cái đó tuy không đạt đến mức “tốt tuyệt đối” nhưng đã tốt hơn khi so sánh với một số cái khác hoặc với một mức trung bình nào đó.

Nói rộng ra, tính tương đối thể hiện sự tồn tại của một số “điều kiện” được sử dụng làm vật so sánh khi đánh giá tính chất của một sự vật sự việc nào đó. Nếu coi bản thân việc “đánh giá” là một hàm số thì những “điều kiện” này sẽ là các biến số trong hàm đó. Giá trị kết quả của hàm số luôn phụ thuộc vào giá trị cụ thể của từng biến số trong hàm. Tương tự như vậy tính chất của các sự vật sự việc khi được đánh giá luôn phụ thuộc vào những điều kiện nhất định, hay còn được gọi là tiêu chuẩn đánh giá. Trong học thuật, tiêu chuẩn đó có thể là các tiền đề hay học thuyết. Đối với con người, tiêu chuẩn đó có thể là đạo đức, văn hóa, giáo dục và vô vàn các yếu tố khác.

Ta lấy ví dụ đơn giản trong vật lý học, muốn tính được vận tốc của một vật nào đó, ta phải lấy một điểm nào đó làm điểm tiêu chuẩn để tính toán. Cùng một vật tại cùng một thời điểm có thể có vận tốc x m/s so với một điểm tiêu chuẩn này, nhưng lại có vận tốc y m/s đối với một điểm tiêu chuẩn khác, thậm chí là đứng yên. Hay như trong toán học, hai đường thẳng song song sẽ mãi mãi không chạm nhau trong hình học Euclid, nhưng sẽ có thể chạm nhau trong hình học phi Euclid. Đối với con người, ta có thể dễ dàng thấy được những ví dụ như nhiều người coi việc ăn thịt chó là không thể chấp nhận được, nhưng nhiều người khác lại coi đó là một việc bình thường. Hay đơn giản hơn một đứa trẻ có thể sẽ thấy cái tủ lạnh thật là cao to đồ sộ, nhưng một người lớn sẽ thấy nó không có gì đặc biệt cả.

2. Tại sao lại “tương đối”

Đạo Phật nói đến luật nhân quả, với ý nghĩa rằng mọi sự vật sự việc đều là kết quả của một nguyên nhân nào đó. Suy nghĩ của con người cũng vậy. Con người không đột nhiên đi đến một kết luận nào cả. Chúng ta nhận thức môi trường xung quanh để tạo nên một số tri thức nền tảng. Chúng ta khái quát hóa những tri thức đó lên hoặc suy luận từ những tri thức đó để đi đến những kết luận mới. Suy nghĩ của con người luôn là đi từ điểm A đến điểm B, trong đó kết luận đạt được ở điểm B phụ thuộc vào những tri thức làm điều kiện ở điểm A. Nói cách khác các kết luận của suy nghĩ con người luôn phải dựa trên những điều kiện nhất định, tức là có tính tương đối.

Lấy ví dụ của toán học, do toàn bộ lý thuyết toán học của con người được xây dựng trên suy luận logic, nên có thể nói bản thân toán học đã mang tính tương đối. Tính đúng đắn của các mệnh đề toán học phụ thuộc hoàn toàn vào tính đúng đắn của suy luận logic và một số mệnh đề được dùng làm điều kiện suy luận. Do chúng ta vẫn chưa tìm ra một “chân lý toán học” đúng tuyệt đối, nên con người buộc phải lấy một số mệnh đề “có vẻ thuyết phục” làm tiền đề để xây dựng nên các mệnh đề khác, tạo nên các hệ thống lý thuyết hiện tại. Một mệnh đề được coi là tiền đề không có nghĩa là nó đúng tuyệt đối, mà đơn giản chỉ là nó được sử dụng làm điều kiện để suy ra tất cả các định lý và đánh giá tất cả các mệnh đề trong một hệ thống lý thuyết nhất định. Tiền đề Euclid không “đúng tuyệt đối”, nhưng mọi định lý trong hình học Euclid đều “đúng tương đối” khi được đánh giá bằng tiền đề Euclid. Nói cách khác các định lý trong hình học Euclid đơn giản chỉ “tuân theo” tiền đề Euclid.

Nói rộng ra, tất cả hiểu biết và suy nghĩ của con người đều dựa trên sự nhận thức mang tính tương đối của con người về môi trường xung quanh. Con người chỉ có thể nhận thức một thứ gì đó khi tồn tại một thứ khác biệt làm đối tượng so sánh. Cũng giống như con cá không thể nhận thức được sự tồn tại của nước cho đến khi bị câu lên cạn, con người không thể nhận thức được không khí nếu không có chân không, không thể nhận thức được sáng nếu không có tối, không thể nhận thức được màu đỏ nếu không có các màu khác, không thể biết được 1m dài bao nhiêu nếu không có mét chuẩn. Mọi khái niệm, mọi hiểu biết, mọi suy nghĩ của con người đều dựa trên sự so sánh giữa ít nhất hai sự vật sự việc với nhau, tức đều có tính tương đối.

Môi trường nhận thức cũng đã luôn luôn biến đổi trong suốt quá trình phát triển của văn minh con người. Một người ở vùng ôn đới khi đến vùng nhiệt đới sẽ không còn coi “xuân hạ thu đông” là một chuyện hiển nhiên nữa, mà người đó đã có thêm nhận thức về khí hậu. Người đó biết rằng mùa đông lạnh hay nóng tùy thuộc vào vùng đất mà mình đang đứng. Darwin khi đến quần đảo Galapagos đã nhận thấy sự khác biệt giữa các sinh vật sống ở đó, từ đấy đi đến Thuyết tiến hóa nổi tiếng. Cứ như vậy mỗi khi con người mở rộng môi trường nhận thức hoặc nâng cao khả năng nhận thức, các “chân lý tuyệt đối” lần lượt trở nên tương đối, thay vào đó lại có các “chân lý tuyệt đối” tạm thời khác được dựng lên. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và văn minh con người, do đó, có thể được coi là một công cuộc đánh đổ các “chân lý tuyệt đối” để gắn lại cho chúng cái mác “tương đối”, tức là “đúng” trong những điều kiện nhất định.

Hành vi đánh giá của con người cũng mang tính tương đối, vì mọi sự đánh giá đều dựa trên hai thứ là nhận thức của con người về điều được đánh giá, và tiêu chuẩn đánh giá của bản thân người đánh giá. Chưa nói đến khả năng hai người khác nhau sẽ có nhận thức khác nhau về cùng một sự vật sự việc (kiểu “thầy bói xem voi”), mà tiêu chuẩn đánh giá của mỗi người cũng có thể rất khác nhau. Những tiêu chuẩn đánh giá đó có thể dễ thấy, thậm chí được viết thành văn bản, nhưng cũng có thể mù mờ hơn mà nhiều khi bản thân người đánh giá cũng không nhận thức được. Con người ta có thể đặt cho các tiêu chuẩn này nhiều cái tên khác nhau như “luật pháp”, “truyền thống”, “văn hóa”, “thuần phong mỹ tục”, “quan điểm”, “sở thích”, nhưng bản chất tương đối của chúng không hề thay đổi. Chúng chỉ “đúng” đối với một số người, trong một số điều kiện nhất định mà thôi.

3. Sự nguy hiểm của “tuyệt đối”

Nói đến đây, có thể sẽ có người đặt ra câu hỏi “vậy có gì là tuyệt đối không?”. Tôi không có câu trả lời tuyệt đối cho câu hỏi đó, nhưng tôi tin là không. Tất cả mọi thứ chúng ta biết đến đều có thể và đều phải được lý giải và đánh giá trong mối quan hệ tương đối với một số sự vật sự việc nhất định làm tiêu chuẩn. Việc coi một cái gì đó là tuyệt đối, là hoàn toàn, là có tính phổ quát vô giới hạn là một vọng tưởng thường thấy ở con người từ xưa đến nay. Vọng tưởng đó giới hạn tiềm năng của con người, đè chết sự sáng tạo và khám phá ở con người. Khi tiếp xúc với một điều gì đó trái với “chân lý” đương thời, vọng tưởng về tính tuyệt đối sẽ khiến con người bịt mắt trước thực tiễn, thậm chí tìm cách áp đặt “chân lý” lên thực tiễn. Chính vọng tưởng về tính tuyệt đối là một trong những lý do gây nên những bi kịch của thế giới như các cuộc thánh chiến hay chủ nghĩa thực dân.

Ở mức độ nhỏ hơn, ngay cả ở thời điểm hiện tại, sau hàng bao thế kỷ nhân loại đạp đổ hết “chân lý” này đến “chân lý” khác, hầu hết mọi người vẫn có ít nhiều vọng tưởng về tính tuyệt đối của một số khái niệm như “đạo đức”, “nhân quyền”, “văn hóa”, thậm chí là “gia đình” hay “tình yêu”. Chúng ta nghĩ rằng văn hóa văn minh chỉ có một cho toàn nhân loại, và rồi cãi nhau xem ăn thịt chó có phải là mọi rợ thiếu văn hóa hay không. Chúng ta nghĩ rằng đôi lứa yêu nhau thì phải quan tâm chăm sóc, phải làm những cái này phải làm những cái kia, và rồi vùng vằng giận dỗi khi không được như ý. Chúng ta tôn thờ cái “đúng”, cái “tốt”, nhưng ít người dừng lại để nghĩ xem thế nào là “đúng”, là “tốt”. Tệ hơn, chúng ta áp đặt những cái “đúng”, cái “tốt” của bản thân lên người xung quanh, nhẹ thì bằng cách châm chọc, chỉ trích, phỉ báng, mà nặng thì dọa dẫm, bắt ép, cấm đoán, trừng phạt, thậm chí đánh đập và giết chóc.

Tại sao chúng ta có thể chấp nhận tính tương đối trong khoa học, nhưng lại không thể chấp nhận tính tương đối trong xã hội con người? Tại sao chúng ta có thể chấp nhận sự tồn tại song song của hình học Euclid và phi Euclid, nhưng lại không thể chấp nhận cả những người ăn thịt chó lẫn những người không ăn thịt chó? Tại sao chúng ta có thể chấp nhận rằng động năng của một vật thay đổi tùy vào điểm tiêu chuẩn, nhưng lại không thể chấp nhận rằng mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng có những giá trị khác nhau? Tại sao lại phải cần có một chân lý tuyệt đối? Để nhằm mục đích gì? Nếu chúng ta cần đến một mục đích cho một chân lý tuyệt đối, thì chẳng phải những người có mục đích khác nhau sẽ có chân lý khác nhau hay sao?

Ở góc độ tôn giáo, tôi nghĩ rằng mối liên hệ giữa lịch sử hàng nghìn năm hòa bình và tính tương đối khi nói về chân lý trong các tôn giáo như Phật giáo không phải là một sự trùng hợp. Việc nhận thức rằng có một chân lý tuyệt đối của vũ trụ và nhiều chân lý tạm thời có tính tương đối của cuộc sống thường nhật khiến cho những người theo đạo Phật dễ dàng đón nhận và giao tiếp với những người có suy nghĩ khác biệt với bản thân, thay vì phủ nhận và tìm cách “giáo hóa” họ bằng vũ lực. Nói như vậy không phải là để đề cao Phật giáo, hay khẳng định rằng Phật giáo là chân lý, nhưng nếu chúng ta thực sự muốn có một thế giới hòa bình, thì chẳng phải lấy tính tương đối làm một chân lý tương đối là một biện pháp tốt hay sao?

4. Kết luận

Tính tương đối là tính chất của một sự vật sự việc mà trong đó sự vật sự việc đó chỉ có thể được đánh giá khi so sánh với một số sự vật sự việc khác, hay khi dựa trên một số điều kiện được lấy làm tiêu chuẩn đánh giá. Tính tương đối giúp con người xây dựng nên các hệ thống tri thức và lý thuyết tạm thời trong khi vẫn chưa tìm ra được một chân lý tuyệt đối của vũ trụ. Tính tương đối là cơ sở cho toàn bộ sự nhận thức của con người về thế giới xung quanh. Tính tương đối cũng giúp con người sống bao dung và hòa bình hơn.

Cá nhân tôi tin rằng mọi thứ đều có tính tương đối. Mọi điều tôi nói ra, nếu nghe như có vẻ tôi cho rằng nó là chân lý, thì đều là chân lý tương đối của riêng cá nhân tôi.