Tôi học tiếng Nhật “vui” thế nào

Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư tưởng cá nhân của tác giả, chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.

Trong số những thứ tôi đã học qua suốt hơn 20 năm đầu đời này, có lẽ tiếng Nhật là thứ tôi thấy vui thú nhất. Tôi bắt đầu học tiếng Nhật khi bắt đầu bước chân vào trường đại học, và ngay sau khi tốt nghiệp tôi đã đến Nhật Bản làm việc. Vậy tính ra cho đến nay tôi đã học và sử dụng tiếng Nhật liên tục được gần 9 năm. Khi còn là sinh viên, tôi đỗ 3kyu (tương đương N3 hiện nay?) sau 1 năm mà không cần ôn thi, và đỗ 1kyu (N1) ngay lần đầu sau 3 năm (hôm thi 2kyu tôi ngủ quên nên bỏ qua). Đến thời điểm này tôi có thể tự tin nói rằng khả năng tiếng Nhật của tôi ngang tầm một người Nhật bình thường, còn theo lời nói đùa của đồng nghiệp (người Nhật) thì là “giỏi hơn mấy người Nhật làng nhàng”. Nói như vậy bảy phần là để khoe, còn ba phần là để chứng minh rằng cách học tiếng Nhật mà tôi viết dưới đây nếu không có tác dụng tích cực thì ít nhất cũng không hề ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học của tôi. Vậy thì, tôi đã học tiếng Nhật như thế nào?

Điểm thứ nhất, suốt 5 năm học tiếng Nhật, tôi không hề ghi chép một tí gì. Đến lớp học tiếng Nhật tôi không hề mang theo một quyển vở nào. Tất nhiên, tôi vẫn sử dụng những sách vở và tài liệu mà các thầy cô giáo phát cho, nhưng chỉ có thế mà thôi. Tại sao tôi lại không ghi chép? Một phần đó là vì tôi tự tin vào khả năng ghi nhớ của mình trong lĩnh vực ngôn ngữ. Nhưng quan trọng hơn, tôi nghĩ rằng nếu tôi không thể nhớ được một cái gì đó thì chứng tỏ nó không hoặc chưa quan trọng đối với tôi và do đó không cần phải nhớ. Đến bây giờ nghĩ lại tôi nhận thấy một điều: mọi người đi học đều chép bài hùng hục, nhưng nếu không phải vì những thông tin đó sẽ bị kiểm tra, mà lại không thể tìm kiếm được trong sách vở khác, thì có ai buồn nhìn lại đến lần thứ hai những quyển vở dày đặc chữ mà bản thân đã bỏ công ra chép hay không? Nếu câu trả lời là không, thì toàn bộ việc chép bài là để phục vụ cho cái gì? Bản thân việc học là để nhằm mục đích gì?

Đối với tôi, việc học tiếng Nhật là để thu về được những kiến thức và kỹ năng có ích, giúp cho tôi có thể sử dụng tiếng Nhật được trong thực tế. Điều đó có nghĩa mục tiêu của tôi không phải là những điểm 10, không phải là những chứng chỉ nọ kia, mà là để làm sao cho tôi có thể dùng tiếng Nhật như một người Nhật: nói chuyện, đọc sách báo, xem tivi, chơi trò chơi bằng tiếng Nhật. Một người Nhật bình thường muốn làm được điều đó cũng phải mất cả chục năm trời. Tôi không thấy có lý do gì để mình phải vội vàng nhai ngấu nghiến từng bài học trên lớp cả. Tôi sẵn sàng học 10 quên 9, quan trọng là cái 1 phần còn lại đó tôi cảm thấy có ý nghĩa, cảm thấy nó đáng nhớ, dễ nhớ, bám sâu vào trong trí não của tôi, trở thành một cái gì đó rất tự nhiên mà có thể sử dụng bằng cảm tính, thay vì phải mất công nhớ một cách máy móc. Chỉ cần tôi tích lũy từng chút một những cái 1 phần đó, rồi thì theo thời gian tôi cũng sẽ có một vốn kiến thức lớn mà lại thực chất.

Điểm thứ hai, suốt 5 năm học tiếng Nhật, thời gian tôi “học” lại rất ít. Trên lớp, tôi dành thời gian tán phét với thầy cô giáo cùng bạn bè bằng tiếng Nhật nhiều hơn là “học”. Ở nhà, tôi cũng chỉ làm vừa đủ hết bài tập được giao, chứ hầu như chẳng bao giờ ôn bài (vì có chép đâu mà ôn). Sau khoảng một năm, khi đã có căn bản, tôi bắt đầu tìm đủ thứ trò để “chơi” với tiếng Nhật. Tôi tải trò chơi tiếng Nhật về để vừa chơi vừa đọc và nghe hội thoại. Tôi cài plugin tra cứu từ điển rikaichan vào trình duyệt web, và đọc đủ các chủng loại trang web bằng tiếng Nhật. Từ những thời gian “chơi” đó, tôi thu được vô số hiểu biết nhỏ nhặt mà lý thú về tiếng Nhật nói riêng và xã hội Nhật nói chung mà tôi không bao giờ được dạy. Ngược lại, tôi cực ghét những kiểu “học” thường thấy như viết cả đống từ ngữ ngẫu nhiên ra giấy rồi ngồi học thuộc lòng. Một phần cũng là vì tôi vốn dĩ lười, một phần nữa là vì từ cảm tính tôi tin rằng học như thế là vô nghĩa và sẽ chỉ khiến tôi chán ghét việc học mà thôi.

Rất may là cảm tính của tôi có vẻ đã đúng. Sau này khi đọc một số sách về tâm lý tôi biết rằng những gì được gắn kết với những ký ức vui vẻ, thú vị thì sẽ dễ nhớ hơn và dễ lấy ra hơn. Trí não cảm tính của chúng ta hoạt động dựa trên việc kết nối giữa các ý tưởng, khái niệm và suy nghĩ với nhau. Khi chúng ta lục tìm thông tin, một cách vô thức trí não của chúng ta sẽ lần mò theo những sợi dây kết nối đó để tìm đến thông tin cần thiết. Một thông tin, một ý tưởng, một kiến thức nếu được tiếp nhận một cách rời rạc, đơn lẻ, không có sự kết nối đa dạng và chặt chẽ với những thông tin khác trong trí não chúng ta, tức là không “có ý nghĩa”, thì sẽ nhanh chóng bị quên lãng nếu chúng ta không liên tục ý thức về nó. Đó cũng là lý do vì sao (sau khi thi/kiểm tra xong) chúng ta có thể lập tức quên phắt những kiến thức đã học, nếu như chúng không được liên hệ với cuộc sống, không gắn với những ký ức thú vị, không hề được yêu thích, và nói chung không liên quan gì đến chúng ta.

Điểm thứ ba, trong quá trình học tôi thường xuyên “chơi trội”. Điều đó có nghĩa là tôi đem những mẩu kiến thức tiếng Nhật “ngoài lề” “vượt giáo án” mà mình góp nhặt được trong quá trình “chơi” vào sử dụng trên lớp và thậm chí cả vào bài kiểm tra. Các bài tập làm văn, nếu như một số bạn bè khác chỉ viết đầy một trang theo đúng yêu cầu, thì tôi viết dài ra đến hai ba trang, dùng cả những cấu trúc ngữ pháp và lối nói chưa được dạy và không bị yêu cầu. Tôi làm vậy có thể nói là vì tôi muốn “thể hiện”, cũng có thể nói là vì tôi cố tình muốn được “sai sót”. Đối với tôi, việc tự thu thập, tự nghiệm ra, tự tổ chức kiến thức, rồi kiểm nghiệm nó trong thực tế, sửa chữa khi thấy nó sai có ý nghĩa lớn hơn và thú vị hơn nhiều việc cố gắng không sai gì hay là điểm chác của mấy bài kiểm tra. Tôi cho rằng cách học đó có tính “khoa học”. Khoa học, xét cho cùng, là đưa ra các giả thuyết và kiểm nghiệm các giả thuyết đó một cách chặt chẽ cho đến khi nó đứng vững. Học cũng vậy.

Bằng cách này, có thể nói rằng tôi đã học tiếng Nhật bằng các thí nghiệm khoa học. Một ví dụ là việc tôi phát hiện ra だ = である. Tôi có hai đầu mối: 1. phủ định của だ là じゃない, じゃない là cách viết khác của ではない, bắt nguồn từ でない, trong khi đó ない là phủ định của ある, và 2. kính ngữ của だ là でございます, mà ございます lại là kính ngữ của ある. Từ hai đầu mối này tôi đưa ra giả thuyết だ = である. Sau khi đã có giả thuyết, tôi kiểm nghiệm độ chính xác của nó bằng cách dùng である ở một đôi chỗ trong các bài tập làm văn hay khi nói chuyện với thầy cô. Khi thấy cách dùng này không bị phê sai hay sửa chữa, tôi đã khá tự tin rằng giả thuyết của mình là đúng, và quả thật sau này tôi gặp rất nhiều ví dụ thực tế khác khẳng định điều đó. Có thể nói tôi đã tự mình “phát hiện” ra một kiến thức bằng “phương pháp khoa học” mà không cần được ai dạy, và điều đó đem lại cho tôi niềm vui rất lớn, đến mức kiến thức đó chưa từng bao giờ rời khỏi trí não của tôi.

Điểm thứ tư, tôi học tiếng Nhật bằng “cảm nhận” và “bắt chước” nhiều hơn là “suy nghĩ”. Tôi bắt chước từ cách viết chữ, cách phát âm, cách nói năng và dùng từ, cho đến cả tính cách, trước hết là từ thầy cô người Nhật của tôi, sau đó là đến những nhân vật trong trò chơi, những người viết blog và bình phẩm trên internet, và sau này là các đồng nghiệp người Nhật. Tôi nghe và bắt chước theo cách thầy cô tôi phát âm và lên xuống giọng như khi tôi tập hát theo một bài hát nào đó. Nếu bạn có khả năng nghe một bài hát và hát theo, thì bạn cũng có đầy đủ khả năng để phát âm tốt tiếng Nhật bằng cách bắt chước theo người Nhật như lúc bạn tập hát. Nếu bạn không làm được, thì vấn đề có lẽ là ở chỗ bạn “suy nghĩ” quá nhiều, rằng chữ này phải phát âm thế này, chữ kia phải phát âm thế kia, mà quên đi việc “cảm nhận” xem người Nhật nói tiếng Nhật như thế nào. Xét cho cùng, “tiếng Nhật” là “ngôn ngữ mà người Nhật đang dùng”, chứ không phải một môn học cứng nhắc và sách vở.

Điểm cuối cùng, tôi học tiếng Nhật với một thái độ “chấp nhận” và “mù mờ”, tức là tôi không bỏ công suy xét đến cùng một cái gì, mà chấp nhận nó như nó vốn thế. Khi gặp một cách thể hiện, một lối nói, một câu văn dường như trái với những gì tôi đã biết, tôi không thắc mắc “sao nó lại thế”. Khi đọc, tôi cố gắng không tra cứu mà dùng văn cảnh để đoán nghĩa của từ, của câu và của cấu trúc. Những từ, những cấu trúc nào tôi chưa biết nhưng không thấy có hứng thú hay không ảnh hưởng đến ý nghĩa toàn cục thì tôi sẵn sàng đoán bừa hay bỏ qua. Kể cả khi phải tra cứu, tôi cũng tránh dùng từ điển Nhật-Việt, mà dùng từ điển Nhật-Anh hay Nhật-Nhật, hoặc thậm chí là gõ thẳng vào Google và xem xem những từ đó, cấu trúc đó được sử dụng trong thực tế như thế nào. Thêm vào đó, tôi cũng chỉ quan tâm xem từ và cấu trúc đó có nghĩa đại khái như thế nào, chứ không mấy quan tâm xem nó dịch ra tiếng Việt hay tiếng Anh như thế nào.

Tôi làm như vậy vì hai lý do. Thứ nhất, việc suy xét và tra cứu từng câu từng chữ nhỏ nhặt mỗi khi đọc cái gì đó sẽ khiến tôi phải thường xuyên rời khỏi mạch văn mình đang đọc, làm cho tôi mất hứng và thiếu tập trung. Xét cho cùng, tôi đọc trang web tiếng Nhật hay chơi trò chơi tiếng Nhật là để giải trí, để tìm kiếm những điều lý thú, chứ không phải để “học” tiếng Nhật. Thứ hai, tôi tin rằng một từ, một cấu trúc ngữ pháp trong tiếng Nhật, hay bất kỳ ngoại ngữ nào khác, thường đại diện cho một khái niệm, một hình ảnh, một cảm giác chung chung và mù mờ, và do đó không nên được hiểu bằng cách dịch sang tiếng Việt, mà nên được hiểu một cách đại khái, hiểu trong văn cảnh, và hiểu như nó vốn thế. Cách suy nghĩ này khiến cho tôi có thể hiểu và nhớ ý nghĩa bằng hình dung thay vì bằng từ tiếng Việt tương đương. Điều này đặc biệt hữu ích đối với những từ và cấu trúc có nghĩa rộng, có thể được sử dụng trong nhiều văn cảnh với nhiều nghĩa khác nhau.

Nếu phải dùng một câu để nhận xét về phương pháp học tiếng Nhật của tôi, thì đó sẽ là: trẻ em học tiếng mẹ đẻ thế nào thì tôi học tiếng Nhật như thế. Trẻ em học tiếng mẹ đẻ chủ yếu thông qua việc quan sát và bắt chước xung quanh trong một thời gian dài, từ khi sinh ra cho đến lúc lớn lên. Những kiến thức bài bản về tiếng mẹ đẻ học ở trường, nào là những chủ ngữ, vị ngữ, danh từ, tính từ,… đơn thuần chỉ đóng vai trò hệ thống hóa những hiểu biết sẵn có của trẻ em và đặt tên cho các khái niệm mà thôi. Tôi còn nhớ như in khi học những giờ từ ngữ ngữ pháp cấp 1, tôi đã luôn nghĩ trong đầu: học cái này để làm gì, cái này tôi biết hết rồi mà? Kể cả sau đó trong quá trình trưởng thành, hầu như toàn bộ kho từ vựng và kỹ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ mà chúng ta thu thập được vẫn là đến theo con đường tự nhiên từ thế giới xung quanh, từ sách báo, từ ti vi, từ những cuộc trò chuyện của người lớn, và gần đây là từ internet, chứ không phải từ việc “học”.

Cá nhân tôi nghĩ rằng hệ thống giáo dục chúng ta sử dụng rộng rãi ngày nay đã và đang tạo nên một sự hiểu nhầm tai hại: rằng “học” là phải đến lớp ngồi nghe giảng, rằng “học” là phải giải cái này, học thuộc cái kia, rằng “học” thường (và thậm chí phải) là một cái gì đó khó khăn và … khó chịu. Tôi không cho là như vậy. Tôi cho rằng việc học hoàn toàn có thể diễn ra một cách tự nhiên, không cần trường lớp, không cần và trong một số trường hợp không nên có giáo trình rõ ràng bó buộc, với phương pháp chủ yếu là việc tiếp xúc thường xuyên với các nguồn thông tin có liên quan, cùng với việc tìm hiểu, bắt chước và thử nghiệm dần dần. Tất cả những điều đó cần được diễn ra một cách tự nguyện, lâu dài và theo một nhịp độ của riêng người học. Điều này đặc biệt đúng đối với việc học tiếng Nhật nói riêng và ngoại ngữ nói chung, nhưng hoàn toàn cũng có thể áp dụng được đối với việc học bất cứ một thứ gì trong cuộc sống.

Ở đây tôi không có ý khẳng định rằng phương pháp học của tôi là “đúng” nhất hay “tốt” nhất, rằng tất cả mọi người đều nên và có thể làm theo được. Rất có thể tôi học được theo phương pháp như vậy đơn giản chỉ bởi nhờ vào năng khiếu bẩm sinh của bản thân. Thêm vào đó, tôi còn có may mắn là thường xuyên được gặp gỡ và giao tiếp với các thầy cô người bản xứ gần như hàng ngày trong những năm đầu tiên của việc học tiếng Nhật, một lợi thế rất lớn mà không phải ai cũng có thể có được. Tôi cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của trường lớp và giáo trình. Việc học có bài bản ở trường lớp đã giúp tôi tiết kiệm một lượng lớn thời gian trong khoảng một hai năm đầu cho việc xây dựng nên những hiểu biết căn bản về tiếng Nhật, đồng thời giúp tôi duy trì được việc học một cách lâu dài và đều đặn. Tuy nhiên tôi tin rằng chính phương pháp học một cách tự nhiên kể trên mới là nhân tố lớn giúp cho tôi đạt được trình độ tiếng Nhật như hiện nay.

Tất nhiên, mọi phương pháp học cần được đánh giá dựa trên từng hoàn cảnh cụ thể. Nếu mục đích học tiếng Nhật của bạn là để thi đỗ chứng chỉ cấp tốc hay đạt được thành tích đẹp trên bảng điểm, thì tôi không phủ nhận giá trị của các phương pháp học “truyền thống”. Tuy nhiên nếu bạn thực sự muốn sử dụng được tiếng Nhật, hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác, như một ngôn ngữ thứ hai bên cạnh tiếng mẹ đẻ, thì việc tìm cách nhúng mình vào môi trường thích hợp nếu có điều kiện, và để việc học diễn ra một cách tự nhiên, “vui vẻ” thông qua cảm nhận, bắt chước và thử nghiệm có lẽ sẽ đem lại kết quả tốt hơn.